Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2022

Để từ chức trở thành hành động văn hóa

 

Mới đây, Đài Á châu Tự do (RFA) đã đăng bài “Văn hóa từ chức” – không khả thi, vì sao?, dẫn lại lời của một người tự nhận mình là “nhà báo” Võ Văn Tạo  với những lý giải và lập luận phiến diện, đầy thành kiến. Ông Tạo cho rằng, “thứ nhất, tại sao quan chức nước ngoài hay từ chức khi dính bê bối, hay không hoàn thành nhiệm vụ gì đấy? Vì những nước có đa nguyên đa đảng, tự do báo chí, tự do ngôn luận... mà quan chức cầm quyền làm không tốt thì ngoài danh dự, nếu họ không từ chức thì sẽ ảnh hưởng đến cả đảng của họ. Khi có sự cạnh tranh thì đảng cầm quyền có quan chức bê bối mà không từ chức thì họ sợ dân sẽ không bầu cho đảng đó nữa. Lý do thứ hai, quan chức nước ngoài không có quyền lợi cá nhân như quan chức xứ sở độc tài như Việt Nam hiện nay…”.

Dù rằng hiện tượng cán bộ lãnh đạo ở Việt Nam chưa thực hiện việc từ chức nhiều nhưng hoàn toàn không phải như cách lý giải của ông Tạo. Thực ra, cách giải thích này vốn được hầu hết những người thành kiến, chống phá Đảng và Nhà nước ta sử dụng với luận điểm chủ yếu là vì Việt Nam không có đa nguyên đa đảng nên dẫn đến mọi điều đều rất không tốt (?!) và vì thể chế Việt Nam độc tài nên dẫn đến cán bộ hư hỏng, thoái hóa (?!). Tức là, không cần quan tâm câu hỏi, việc dùng các lý lẽ đó với họ có thể trả lời cho bất kỳ vấn đề nào!

Thực ra, vấn đề từ chức đã được luật hóa và quy định cụ thể trong nhiều văn bản của Đảng, văn bản luật. Hồi tháng 11/2020, tại diễn đàn Quốc hội, khi trả lời chất vấn của đại biểu Ksor H’Bơ Khắp (đoàn Gia Lai), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định Luật Cán bộ, công chức đã quy định vấn đề từ chức này, là cán bộ, công chức, lãnh đạo, quản lý không đủ năng lực, không đủ uy tín theo yêu cầu nhiệm vụ, hoặc vì lý do khác chính đáng, thì được thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm… (được quy định tại các Điều 7, 30, 54, 64). Luật này đã được ban hành từ năm 2008. Hay tại Quyết định 1847 năm 2018 của Thủ tướng về phê duyệt đề án văn hóa công vụ cũng nêu: "Cán bộ lãnh đạo chủ chốt chủ động xin thôi khi thấy bản thân còn hạn chế về năng lực, uy tín".

Về văn bản của Đảng, ngày 3/11/2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”. Quy định này thay thế Quy định số 260-QĐ/TW ngày 2/10/2009 của Bộ Chính trị khóa X “về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ”. Khoản 3 Điều 3 của Quy định 41 nêu rất quyết liệt: “Kiên quyết, kịp thời xem xét cho miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ khi có đủ căn cứ. Không thực hiện việc cho từ chức đối với cán bộ thuộc trường hợp phải miễn nhiệm”.

Như vậy, vấn đề từ chức của cán bộ lãnh đạo đã được Đảng, Nhà nước bàn đến từ khá lâu và trên thực tế đã được quy định ngày càng cụ thể, chặt chẽ.

Việc cán bộ lãnh đạo ở Việt Nam chưa có nhiều trường hợp xin từ chức hoàn toàn không phải do các nguyên nhân như ông Võ Văn Tạo nêu và cũng không có căn cứ nào khẳng định rằng “quan chức nước ngoài hay từ chức khi dính bê bối, hay không hoàn thành nhiệm vụ” như ông ta nêu, bởi không thể nêu vu vơ “nước ngoài” mà không biết đó là nước nào, hoặc bảo “hay từ chức” thì tần suất, mức độ ra sao, hoặc diễn ra vào lúc nào… Nói chung, đó chỉ là cách nói mang tính võ đoán, nói lấy có, không thể xem là căn cứ xác đáng, có thể tin cậy.

Về nguyên nhân còn ít cán bộ xin từ chức, cần nhận rõ một vấn đề mang tính nguyên tắc liên quan đến trách nhiệm đảng viên. Đó là một số trường hợp khi đề cập đến việc từ chức, là những cán bộ, lãnh đạo có hạn chế, vi phạm (nhưng chưa đến mức phải miễn nhiệm, cách chức) thì họ vẫn còn phải tiếp tục thực hiện chức trách, nhiệm vụ do Đảng phân công. Tức là, họ không phải chỉ có lý do để tiếp tục duy trì vị trí của mình, không từ bỏ quyền lực sẵn có mà chính là họ không được tự ý rời nhiệm vụ khi chưa tổ chức đồng ý. Chẳng hạn, một chủ tịch UBND có hạn chế về năng lực, là người có lòng tự trọng, vị ấy muốn từ chức, nhưng vì trách nhiệm là một đảng viên, là phó bí thư đảng ủy xã, vị ấy không thể tức khắc bỏ vị trí khi chưa được tổ chức và cấp có thẩm quyền cho phép. Đồng thời, trong thời gian đó, người này còn phải tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên, thậm chí phải có trách nhiệm khắc phục các hạn chế, thiếu sót do mình gây ra, không thể trút bỏ cho người khác.

Bên cạnh đó, vì bị ràng buộc những nguyên tắc và quy định đó, hiện chưa có nhiều người từ chức nên những người khác có thể có những rào cản tâm lý nhất định khi muốn từ chức. Chẳng hạn, khi quyết liệt xin từ chức (trừ các trường hợp theo nguyện vọng cá nhân mà không liên quan đến hạn chế, khuyết điểm về chức trách, nhiệm vụ), một người có thể trở thành tâm điểm chú ý của dư luận, từ đó tác động tiêu cực đến đời sống của cá nhân và gia đình. Đồng thời, khi một việc làm chưa trở nên bình thường thì ít ai mạnh dạn thực hiện bởi không lường hết những hệ lụy do quyết định của mình gây ra.

Cũng cần nói rằng, dù lý lẽ của một số người như ông Võ Văn Tạo nêu ra là sai trái nhưng vì chưa có nhiều người mạnh dạn từ chức nên trên thực tế có thể nói là “văn hóa từ chức” chỉ là một sự phản ánh, một sự kỳ vọng hơn là một hiện tượng phổ biến. Bởi không thể hình thành một biểu hiện văn hóa về vấn đề từ chức nếu chưa có nhiều người từ chức. Trên thực tế, "có xuống - có lên, có vào - có ra" là lẽ đương nhiên của cuộc sống nhưng trong công tác cán bộ vẫn còn ít và chưa hình thành một nếp mang tính phổ biến.

Như vậy, để hình thành “văn hóa từ chức”, Đảng, Nhà nước cần quyết liệt và triệt để thực hiện các quy định về từ chức. Đó là thực hiện nghiêm tinh thần của Quy định 41 là “Kiên quyết, kịp thời xem xét cho miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ khi có đủ căn cứ”. Tức là, trước tiên, phải xem việc “cho từ chức” là một hình thức “xử lý” để hình thành dần một tâm lý “tự giác từ chức” để thể hiện tính tự trọng, gương mẫu, trung thực. Đó là cơ sở để hình thành văn hóa từ chức.

Đồng thời, khi đã xem việc lên - xuống, vào - ra là bình thường thì truyền thông và xã hội cũng không nên chú ý quá nhiều vào các trường hợp cụ thể, khiến cá nhân liên quan bị săm soi, dè xét một cách quá mức. Chẳng hạn, hồi tháng 9/2021, khi vị Chủ tịch UBND huyện Long Điền (Bà Rịa – Vũng Tàu) xin từ chức vì được cho rằng có hạn chế, khuyết điểm trong công tác phòng chống dịch Covid-19 thì dư luận lại quy kết nhiều điều không thực sự tích cực, như “nội bộ lãnh đạo huyện có vấn đề”, “xin từ chức để làm eo”… Những điều đó có thể không tích cực cho việc hình thành và lan tỏa văn hóa từ chức.

Ngoài ra, để việc từ chức dần trở thành bình thường, thì nên có quy chế, quy định cụ thể theo điều kiện của từng địa phương, từng lĩnh vực công tác. Theo đó, trên cơ sở quy định chung của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tùy các yếu tố đặc thù, cần có những hướng dẫn phù hợp để xác định trường hợp phải từ chức, được từ chức, nên từ chức… và các ứng xử trường hợp. Thí dụ, nếu một cán bộ có vi phạm nhưng chưa đến mức bị kỷ luật cách chức, miễn nhiệm nhưng thuộc diện phải từ chức, nếu tự giác từ chức khi chưa có biện pháp xử lý của cơ quan chức năng theo quy định thì có thể xem xét bảo đảm một số chế độ, quyền lợi…

Văn hóa từ chức cũng như nhiều vấn đề khác của xã hội, của bộ máy chính trị, không tự khắc hình thành mà cần phải trải qua nhiều tác động, định hướng, bằng những cách thức phù hợp, thường xuyên. Quá trình đó, cần bác bỏ những ý kiến sai trái, xuyên tạc, những luận giải sai lầm mang tính công kích của một số người thành kiến.

Việc đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh cần gắn với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

 Bên cạnh đó, với những luận điệu nguy hiểm, có chiều sâu về mặt âm mưu, thủ đoạn, có sự phức tạp về các luận điểm, luận cứ… thì cần phải được nghiên cứu thấu đáo và có những cách thức đấu tranh thường xuyên, bằng nhiều hình thức, trên nhiều phương tiện, lan tỏa đến nhiều đối tượng. Chẳng hạn, việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh rồi tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin hoặc tung hô Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, người theo chủ nghĩa dân tộc thuần túy… nên xem là những luận điểm cực kỳ nguy hiểm, cần phải đấu tranh triệt để.

Điều quan trọng nữa là cần gắn chặt việc đấu tranh chống các luận điệu sai trái về Hồ Chí Minh với hoạt động đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, thù địch về vai trò lãnh đạo của Đảng, về các vị lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo của Đảng… Bởi với các thế lực xấu, họ luôn có sự gắn kết các vấn đề này với nhau, với logic tư duy là chỉ cần “bác bỏ” hoặc “bẻ gãy” một điểm thì tự khắc những điểm khác sẽ đổ. Quá trình đó cần tích cực xử lý các “điểm nóng”, khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong nội bộ để không còn cớ cho kẻ xấu lợi dụng công kích.

Việc đấu tranh với các quan điểm sai trái về Hồ Chí Minh là một việc quan trọng, cần được thực hiện thường xuyên, lâu dài, bằng nhiều hình thức, nhiều phương tiện và nhiều lực lượng. “Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông, kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng, các kênh thông tin khác, xây dựng chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế để chủ động đấu tranh, phòng, chống và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn với nhân rộng các gương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức đấu tranh, phê phán những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”[1].

Trong nhiệm vụ này, mỗi đảng viên nên tự đặt cho mình trách nhiệm, cả trong ghi nhận, nắm bắt các thông tin sai trái, phản ánh đến cơ quan, tổ chức có trách nhiệm (trước hết là với chi bộ) và trong những điều kiện cụ thể có thể tham gia phản bác, đấu tranh bằng những hình thức phù hợp. Từ các đảng viên, tinh thần chủ động và tích cực đấu tranh nên tiếp tục được lan tỏa đến quần chúng nơi công tác, nơi cư trú, người thân và những người xung quanh khác để mỗi khi một thông tin sai trái về Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng, về các vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng nói chung thì phải được phản ánh và đấu tranh chứ không có sự thờ ơ hoặc vô tình tiếp tay làm thông tin đó lan truyền rộng rãi.

Đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh

  Việc đấu tranh phòng, chống các luận điệu thù địch, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh (cả ở khía cạnh cá nhân và tư tưởng của Người) là một công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải thực sự nỗ lực và có nhiều giải pháp đồng bộ. Bởi các thế lực xấu luôn không từ bất kỳ thủ đoạn nào để công kích, bôi nhọ, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng những cách thức rất khó dự đoán trước. Trong khi đó, với môi trường không gian mạng đa chiều, có tính mở rất cao, những thông tin sai trái đó vẫn có thể âm thầm tồn tại và len lỏi, thâm nhập dần vào một bộ phận người thiếu thông tin nhưng cả tin, nhất là trong giới trẻ. Nếu không kịp thời và quyết liệt đấu tranh, có thể sự thẩm thấu, tán phát ngày càng sâu hơn, rộng hơn và hậu quả cũng khó lường hơn.

Đương nhiên, các giải pháp mang tính chất phòng ngừa là rất quan trọng, bởi đó là cách trang bị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân những kiến thức, nhận thức phù hợp và mang tính nền tảng, đồng thời làm lan tỏa những thông tin đúng đắn, chính xác để tự nó có thể “đánh bạt” các thông tin sai trái, bịa đặt. Tuy nhiên, các thế lực xấu luôn có trăm phương ngàn kế để thực hiện âm mưu thâm độc của mình, do đó, không chỉ phòng mà còn phải chống, chống quyết liệt và thật sự hữu hiệu.

Hiện nay, trong việc đấu tranh các luận điệu sai trái, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh phải gắn với việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới" gắn với Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. 

Do đó, cần thực hiện tốt việc quán triệt trong cán bộ, đảng viên về những vấn đề mang tính nguyên tắc, những thông tin, kiến thức mang tính chính thức liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng, tấm gương, đạo đức của Người. Tùy theo đối tượng mà nên trang bị những nhóm kiến thức phù hợp, có thể bắt đầu từ trong nhà trường phổ thông với những nội dung và hình thức phù hợp. Quá trình đó, cần khéo léo dẫn lại những luận điệu sai trái, gợi ý các nội dung và cách thức bác bỏ. Trong hoạt động thông tin và phản bác cần có cách thức để làm người tiếp nhận có thể hình thành ý thức tự phản biện và tin tưởng bằng cách luận cứ khoa học, chứ không phải áp đặt.

Các cơ quan chức năng cần nắm chắc những ý kiến sai trái về Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả về thân thế và sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, truy nguyên nguồn gốc của thông tin sai trái đó, xác định rõ dụng ý hoặc âm mưu của việc lan truyền các thông tin sai trái đó là gì, đánh giá mức độ lan tỏa và sự nguy hiểm của nó… để có phương thức đấu tranh hợp lý. Dĩ nhiên, có những thông tin sai trái không cần đấu tranh hoặc chưa cần đấu tranh thì không nhất thiết phải nhắc đến, tránh tạo sự hiếu kỳ mà làm lan rộng thêm đến nhiều người khác.

Khát vọng hùng cường là phù hợp ý nguyện của mọi người dân Việt Nam

 Kết thúc năm 2021, GDP của Việt Nam tăng khoảng 2,58%. Trước đó, sau khi nới lỏng các biện pháp phòng dịch và kiềm chế được dịch bệnh, GDP quý IV/2021 ước tính tăng 5,22%, tuy cao hơn tốc độ tăng 4,61% của năm 2020 nhưng thấp hơn tốc độ tăng của quý IV các năm 2011 - 2019. Dù mức tăng trưởng đó thấp hơn chỉ tiêu nhưng trong bối cảnh nhiều địa phương phải thực hiện giãn cách xã hội trong nhiều tháng liền, một số “đầu tàu kinh tế” bị tăng trưởng âm, thì tăng trưởng này vẫn là một tín hiệu tích cực.

Tuy nhiên, từ thực tế đó, có một số người đã “tranh thủ” công kích, phê phán năng lực lãnh đạo, điều hành của Đảng, Chính phủ và mai mỉa, giễu cợt các định hướng lớn về phát triển đất nước được đặt ra tại Đại hội XIII của Đảng. Chẳng hạn, Đài Á châu Tự do (RFA) cho rằng, sau một năm nhìn lại, tình hình kinh tế - xã hội, trái lại, có phần ảm đạm hơn, những khó khăn và thách thức vẫn rất lớn cho những năm sắp tới của nhiệm kỳ 2021 - 2026 cũng như chiến lược phát triển... Thái độ này thực ra rất bình thường đối với một cơ quan truyền thông cực kỳ thành kiến với Việt Nam. Dẫu vậy, vẫn có một số người nhẹ dạ và nhân đó tỏ ra hoài nghi về các mục tiêu phát triển đất nước trong thời gian tới.

Chúng ta đều nhớ rằng, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra mục tiêu phát triển tổng quát của đất nước là “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội cũng xác định rõ: “Trên nguyên tắc bảo đảm tính khoa học và thực tiễn; kế thừa và bổ sung phù hợp với những thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của đất nước; đồng thời nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nước và những chuẩn mực phát triển chung của thế giới, chúng ta xác định các mục tiêu cụ thể không chỉ trong nhiệm kỳ khóa XIII mà hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới, như: Đến năm 2025, là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Các cột mốc 2030 gắn liền với kỷ niệm 100 năm ra đời của Đảng, còn mốc 2045 là tròn 100 năm thành lập nước. Định hướng này rõ ràng là có tầm chiến lược và mang tính phấn đấu rất cao. Chính văn kiện Đại hội cũng nêu rõ: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”. Tức là mục tiêu đó là một chỉ dẫn quan trọng, cần được sự đồng lòng, chung tay, góp sức của tất cả mọi người Việt Nam, ở trong nước cũng như ở ngoài nước, tất cả cán bộ, đảng viên, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Như vậy, mục tiêu luôn là một định hướng để người ta có thể đi xa, bởi khi đó người ta biết rằng mình đi về phía nào và từ đó có thể chuẩn bị đi bằng phương tiện gì. Dù đối với từng cá nhân, tổ chức hay một đất nước, một dân tộc, mục tiêu với những định hướng rõ ràng, cụ thể vẫn luôn có ý nghĩa dẫn dắt, thúc đẩy sự phấn đấu tích cực nhằm đạt đến cái đích đó (để rồi tiếp tục có những cái đích khác theo những điều kiện cụ thể).

Do đó, những mục tiêu ở các cột mốc năm 2025, 2030, 2045 hoàn toàn không phải đặt ra cho có hoặc để làm đẹp văn kiện mà chính là ý chí của Đảng nhằm vươn tới những mục tiêu tốt đẹp cho nhân dân, cho dân tộc, cho đất nước. Ý chí đó cũng không phải mang tính chủ quan của Đảng hay của Ban Chấp hành Trung ương mà chính là nguyện vọng, mong mỏi của mọi người Việt Nam, của toàn dân tộc, đồng thời căn cứ vào những tính toán mang tính khoa học với rất nhiều thông số đã có, như dân số, tài nguyên, khả năng tăng trưởng qua các năm, tiềm lực quốc gia, sự ổn định chính trị - xã hội, xu hướng vận động của đất nước và của thế giới… Và, các định hướng này cũng hoàn toàn phù hợp dự báo của các tổ chức quốc tế, vốn cho rằng Việt Nam sẽ trở thành một nước phát triển và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới vào giữa thế kỷ này.

Năm 2021, Việt Nam với GDP khoảng 400 tỷ USD, đứng thứ 41 trong số các nền kinh tế của thế giới. Quy mô kinh tế đó dĩ nhiên vẫn còn rất khiêm tốn (chỉ chiếm 0,4% tổng GDP toàn cầu) và vẫn là nước đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp. Dẫu vậy, đó vẫn là sự tiến bộ vượt bậc ở một đất nước chỉ thực sự tập trung cho phát triển kinh tế trong hơn 35 năm, sau hơn 40 năm bị xâm lược và phải chiến đấu kiên cường với rất nhiều tổn thất, hy sinh. Ở thời điểm khi vừa thành lập nước, năm 1945, cái tên Việt Nam thậm chí còn chưa xuất hiện trên bản đồ thế giới, vốn vẫn được gọi bằng những cái tên do kẻ thống trị đặt hoặc bằng cách gán ghép với những quốc gia khác…

Nhưng hiện nay, vị thế của Việt Nam đã hoàn toàn khác. Không chỉ có sự tiến bộ vượt bậc về kinh tế và các yếu tố liên quan đến chất lượng sống của người dân mà còn vị thế, vai trò của đất nước trên trường quốc tế. Những điều đó đã minh chứng đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng ta là đúng đắn, đồng thời khẳng định những mục tiêu từ nay đến năm 2045 là phù hợp thực tiễn và xu hướng phát triển của đất nước, chứ hoàn toàn không phải là viển vông hay ảo tưởng.

Tình hình đất nước năm 2021 cực kỳ khó khăn không phải hoàn toàn bất ngờ mà đã được dự báo từ trước. Đại hội XIII đã xác định: “Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19”; đồng thời “Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch Covid-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra”. Và cũng vì không bất ngờ nên Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội, Chính phủ đã thống nhất không điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng để thể hiện sự quyết tâm hoàn thành các mục tiêu đã được đề ra trong nhiệm kỳ.

Năm 2021 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII đã có những thử thách lớn lao chắc chắn sẽ thúc đẩy những năm còn lại phải nỗ lực nhiều hơn, phấn đấu cao hơn, quyết tâm lớn hơn. Điều đó cũng có nghĩa là toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải tự mình đặt các mục tiêu cao hơn, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ có hiệu quả hơn để góp phần bù đắp lại những thiếu hụt, tổn thất do dịch bệnh gây ra trong năm 2021. Tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai” như trong kháng chiến chống Mỹ giờ đây cần được khơi gợi, thúc đẩy để từng người trong vai trò, vị trí của mình đều phải thực sự cố gắng và có được kết quả như mong muốn.

Do đó, chúng ta phải cùng thống nhất một nhận thức rằng: Khát vọng hùng cường là phù hợp ý nguyện của mọi người Việt Nam… Vì vậy, đã có khó khăn thì chúng ta càng cần phấn đấu chứ không nên nghe theo những lời “bàn ra”. Và, càng có nhiều thử thách thì chúng ta càng kết đoàn, bền chí, như đúng cách mà cha ông ta đã thể hiện…

Học tập Bác: Nêu cao Bổn phận công bộc trong giữ gìn "phương diện quốc gia"

 Từ điển tiếng Việt giải thích “phương diện quốc gia” từ ý thơ của cụ Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” là: “Vị quan đảm đương công việc một vùng đất nước”. Trong thời đại ngày nay, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị đều có một phần “phương diện quốc gia” trên cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, mọi việc làm, hành vi ứng xử của cán bộ, nhất là trong môi trường có yếu tố nước ngoài, đều có ảnh hưởng nhất định đến hình ảnh đất nước, vị thế quốc gia, dân tộc. Cán bộ giữ cương vị càng cao, sự ảnh hưởng càng lớn. Cán bộ tốt thì dân được nhờ, đất nước được tiếng thơm. Cán bộ tiêu cực, không biết giữ mình thì đất nước mang tiếng xấu. Sự lợi dụng của các thế lực thù địch, phần tử phản động nhằm mưu đồ chống phá Đảng, chống phá đất nước cũng từ những hành vi tiêu cực đó mà ra.

Chính vì vậy, để giữ “phương diện quốc gia”, mỗi cán bộ, đảng viên phải có sự thống nhất cao về mặt nhận thức, có thái độ đấu tranh kiên quyết, bài trừ những thông tin tiêu cực về tình hình đất nước trên không gian mạng, nêu gương và dẫn dắt quần chúng. Cần nhận thức một cách thấu đáo và khách quan, việc đấu tranh phát hiện, xử lý những vụ việc tiêu cực vừa qua là sự thể hiện thái độ kiên trì, kiên quyết, không có vùng cấm của Đảng, Nhà nước ta đối với tham nhũng, tiêu cực.

Việc các cơ quan chức năng điều tra, khám phá thành công những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nội bộ, chính là kết quả, thành công của cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lấy những vụ việc, biểu hiện tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên để quy kết, quy chụp, lên án cả hệ thống chính trị, bôi nhọ đất nước... là thủ đoạn võ đoán, quy chụp, thể hiện rõ ý đồ thù địch.

Để giữ “phương diện quốc gia”, bên cạnh tập trung các giải pháp đấu tranh phản bác, phủ nhận, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, cần đặc biệt coi trọng việc củng cố trận địa từ bên trong. Đó chính là ý thức trách nhiệm, bổn phận của đội ngũ công bộc trước lợi ích quốc gia, dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh...; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên...”.

Như vậy, văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ... chính là những nhân tố cốt lõi để cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, xứng đáng là công bộc của dân, là đại diện cho vị thế quốc gia. Trong có ấm thì ngoài mới êm. Nếu mỗi công bộc của dân có ý thức, bổn phận giữ “phương diện quốc gia” đúng mực thì chúng ta sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực trong bộ máy công quyền, các thế lực thù địch khó tìm cớ để chống phá Đảng, chống phá đất nước. Đó cũng là phương châm lấy xây để chống trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ phải gắn liền với xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp. Đó chính là phương châm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp trong môi trường hội nhập quốc tế, nhất là cán bộ, doanh nhân trong các ngành liên quan đến ngoại giao, du lịch, thương mại... Trong từng môi trường, hoàn cảnh có yếu tố quốc tế, chính họ là cầu nối, là “sứ giả” của văn hóa dân tộc, thể hiện phong cách, thái độ, trình độ văn hóa, văn minh của đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè. Hiệu quả thu hút đầu tư, phát triển kinh tế cũng đến từ những ấn tượng về đất nước, con người Việt Nam thông qua những hình ảnh thân thiện ấy.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam,... kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất".

Quan điểm của Đại hội XIII của Đảng và thông điệp từ Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 phải được thể hiện, tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống xã hội. Chúng ta xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là cách thiết thực để giữ “phương diện quốc gia” trong ý thức, hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên, để khi “quan trên trông xuống người ta trông vào” không hổ thẹn với lương tâm.

Lợi dụng tiêu cực của cán bộ để xuyên tạc hình ảnh quốc gia

 

Sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, đời sống kinh tế-xã hội của cả nước đã có sự khởi sắc tích cực trên nhiều lĩnh vực. Chiến lược thích ứng an toàn với dịch Covid-19 mang lại khí thế, diện mạo mới cho môi trường sản xuất, kinh doanh, tái hoạt động các đường bay quốc tế, từng bước đón du khách từ các quốc gia, vùng lãnh thổ đến Việt Nam.

Hoạt động thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại ở nhiều địa phương, vùng kinh tế trọng điểm đã tăng tốc ngay từ đầu năm mới. Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2/2022 được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 17/2 cho thấy, nền kinh tế Việt Nam bước vào năm 2022 có sự phục hồi tích cực. Dù xuất khẩu hàng hóa tháng 1/2022 giảm so với tháng trước do ảnh hưởng của nghỉ Tết Nguyên đán, nhưng cán cân thương mại hàng hóa vẫn thặng dư 1,4 tỷ USD. Cam kết và giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiến  triển tích cực.

Việt Nam thu hút 2,1 tỷ USD vốn FDI đăng ký trong tháng 1/2022, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, việc chăm lo an sinh xã hội cho đồng bào trước, trong và sau Tết Nguyên đán đã trở thành phong trào thiện nguyện, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và kiều bào yêu nước. Những thành tích, dấu ấn tích cực ấy đã thể hiện rõ nét tính ưu việt của văn hóa Việt Nam, bản chất nhân văn xã hội chủ nghĩa và sự đoàn kết, thống nhất, gắn bó giữa Đảng với dân.

Tuy nhiên, bức tranh kinh tế-xã hội đất nước đầu năm 2022 vẫn có những mảng tối, tiêu cực. Và đây chính là cái cớ để các phần tử cực đoan chính trị, có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, khai thác, khoét sâu, tăng cấp độ, quy mô, tính chất xuyên tạc, chống phá.

Vụ việc tiêu cực từ Công ty Việt Á, vụ việc nhận hối lộ xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), việc kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, có dấu hiệu vi phạm pháp luật xảy ra ở một số cơ quan, đơn vị... đã bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, bóp méo, bôi đen, nhằm ý đồ lèo lái dư luận, kích động chống phá Đảng, Nhà nước. Trên một số trang mạng xã hội như “Việt Tân”, “RFA Tiếng Việt”, “Tiếng dân”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Diễn đàn dân chủ”... và tài khoản của một số đối tượng cực đoan, có tư tưởng thù địch, xuất hiện nhiều bài viết, clip có nội dung xuyên tạc.

Chúng bám vào những vụ việc tiêu cực đó để chỉ trích Chính phủ và hệ thống chính trị, quy kết lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bôi nhọ hình ảnh quốc gia, vị thế dân tộc, kêu gọi các nhà đầu tư và du khách quốc tế tẩy chay Việt Nam. Với chiêu bài lấy hiện tượng quy kết bản chất, lấy cái cá thể chụp mũ tổng thể, các thế lực thù địch và đối tượng phản động cho rằng, “Việt Nam là đất nước của tham nhũng, tiêu cực”, rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng vì Việt Nam chỉ do một đảng lãnh đạo, một đảng thì không thể có dân chủ, không thể chống được tham nhũng”...

Trước những luận điệu xuyên tạc ấy, công chúng yêu nước dễ dàng nhận ra bản chất, bộ mặt của những đối tượng, tổ chức mang tư tưởng thù địch với đất nước. Mấy tháng trước, khi đại dịch Covid-19 hoành hành, chúng đã kích động, rêu rao rằng “công tác phòng, chống dịch của Việt Nam đã thất bại”, “Việt Nam chống dịch kém nhất thế giới”...

Đến khi chúng ta khống chế dịch thành công, chuyển sang thích ứng an toàn với dịch Covid-19, phục hồi các hoạt động kinh tế-xã hội, thì chúng lại chuyển sang bám vào những vụ việc tiêu cực, những mảng tối của “hậu Covid-19” để xuyên tạc, kích động chống phá. Không ít đối tượng nhân danh hoạt động “phản biện”, “góp ý”, “đấu tranh”... ra sức bôi đen hình ảnh đất nước, hạ thấp uy tín quốc gia, dân tộc trên trường quốc tế. Mục đích của chúng là hòng làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho hình ảnh Việt Nam trở nên méo mó, lệch lạc trong mắt kiều bào và bạn bè quốc tế, phá hoại công cuộc đổi mới, hội nhập của đất nước.

Hãy gìn giữ "phương diện quốc gia"

 

 “Nghĩ mình phương diện quốc gia/Quan trên trông xuống người ta trông vào...”. Tại cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra ngày 18/11/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban chỉ đạo, đã lẩy Kiều để nhắc nhở cán bộ phải tỉnh táo, giữ mình trong sạch.

Cách nói tu từ, dân dã, có ý nghĩa sâu sắc của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta được nhiều người trong giới chuyên gia, cán bộ lãnh đạo, quản lý... học tập, vận dụng để tự răn mình, góp phần nâng cao công tác giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên, đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, suy thoái..., thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Sức mạnh và sự trường tồn quốc gia, dân tộc

 

 Mỗi khi điệp khúc hào hùng, bi tráng trong bài hát “Tổ quốc gọi tên mình” do nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn phổ nhạc từ bài thơ “Tổ quốc gọi tên” của Nguyễn Phan Quế Mai vang lên cũng là khi triệu triệu con tim người Việt Nam sục sôi, trào dâng niềm tự hào dân tộc, với tình yêu Tổ quốc thiêng liêng, với ý chí kiên cường, quật khởi; với tinh thần vệ quốc vô song trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của dân tộc. “Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi. Mấy ngàn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ. Ngọn đuốc hòa bình bao người đã ngã. Máu của người nhuộm mặn sóng biển đông… Tổ quốc linh thiêng Tổ quốc linh thiêng…” 

Trong dòng cảm xúc ấy, ai trong chúng ta cũng không khỏi bồi hồi, xúc động khi tưởng nhớ về sự hy sinh anh dũng của 64 cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam để bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam từ 34 năm về trước. Đó là vào ngày 14/3/1988, Trung Quốc đã dùng lực lượng quân sự hùng mạnh với sự xuất hiện của tàu chiến và nhiều loại vũ khí hiện đại tấn công nhằm đánh chiếm các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đáp lời sông núi, cán bộ, chiến sĩ các lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam trên 03 con tàu HQ604, HQ505, HQ605 dù chỉ với những vũ khí thô sơ, dù phải giáp mặt với đối phương hùng mạnh, nhưng với truyền thống yêu nước, với khát vọng hòa bình của những người con mang dòng máu Lạc Hồng, với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, các anh đã gan dạ, kiên cường, dũng cảm xông lên chiến đấu với kẻ thù để gìn giữ từng tấc biển, tấc đảo quý giá của quê hương, đất nước.

Trong cuộc chiến không cân sức ấy, các anh đã vĩnh viễn nằm lại dưới làn mưa đạn, máu của các anh đã lẫn vào vị mặn của biển, xương thịt của các anh đã ngấm sâu nơi lòng đảo và đại dương. Các anh mãi mãi đi xa, nhưng tên tuổi các anh sẽ luôn được Tổ quốc khắc ghi, sự hy sinh của các anh mãi được đời đời ơn nhớ; tinh thần chiến đấu can trường của các anh luôn là tấm gương sáng rọi vào tâm tưởng của các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Hình ảnh các chiến sĩ siết chặt tay nhau, kết thành vòng tròn hiên ngang, sừng sững chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ lá cờ Tổ quốc trên đảo Gạc Ma mãi là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, mãi là động lực để làm nên sức mạnh và sự trường tồn quốc gia, dân tộc.

Theo thời gian, sự kiện Gạc Ma dần lùi về quá khứ, thế nhưng phải khẳng định rằng cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển, đảo và sự hy sinh quên mình của 64 cán bộ chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam năm ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với toàn dân tộc ở cả hiện tại và tương lai. Tất cả họ đã mãi yên nghĩ dưới lòng đại dương, cho Tổ quốc được sống, cho Đất nước được vẹn nguyên, cho Nhân dân được hưởng giá trị của hai tiếng hòa bình. Đó như là chân lý không thể phủ nhận.

Tuy vậy, trong tình hình hiện nay, khi chính trị khu vực và quốc tế có những diễn biến phức tạp, khó lường, lợi ích ở biển Đông ngày càng được “ưu tiên” trong quá trình xác lập địa chính trị của các quốc gia, kéo theo là các tranh chấp, xung đột liên quan đến vấn đề biển, đảo đã và đang trở thành “điểm nóng” trong chính sách đối ngoại cộng đồng quốc tế, trong đó Việt Nam có thể là thành viên hoặc đối tác. Thực tế đó, có thể dẫn đến những cứ liệu, thông tin lịch sử về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, trong đó có diễn biến, tính chân thực sự kiện 14/3/1988 bị hiểu sai lệch, gây bất lợi cho chúng ta trong thực hiện chính sách đối với vùng biển, đảo thuộc chủ quyền quốc gia. Cùng với đó là quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, chống đối chính trị luôn không ngừng tung ra những luận điệu có tính xuyên tạc, phủ định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có vấn đề biển, đảo. Với chiêu bài “lật sử”, “xét lại”, sẽ xuất hiện và lan truyền những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc, bóp méo, bôi đen lịch sử công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của dân tộc, hòng làm “lu mờ”, “thay đổi” bản chất, tính chính nghĩa của sự kiện 14/3/1988 và sự hy cao cả của các cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam.

Do đó, hơn ai hết, chúng ta – là người Việt Nam phải luôn ghi nhớ, luôn tôn trọng và không được phép lãng quên những giá trị lịch sử của dân tộc qua sự kiện này; mỗi chúng ta phải nhận thức sâu sắc, toàn diện về tính chính nghĩa cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và bản chất cao đẹp, sự hy sinh cao cả của 64 chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam trên đảo Gạc Ma; tích cực tìm hiểu, nghiên cứu, thông suốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhận thức và giải quyết vấn đề biển Đông. Đó là cơ sở để nhận diện và “đề kháng” trước những quan điểm sai trái, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá cách mạng. Cùng với đó, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân phải là những “dư luận viên” nòng cốt, tích cực góp phần cùng toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị, các ban, ngành, đoàn thể bảo vệ, gìn giữ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

“…Tổ quốc linh thiêng, Tổ quốc linh thiêng. Ngọn đuốc hòa bình trên tay rực lửa. Tôi lắng nghe, Tôi lắng nghe Tổ quốc gọi tên mình”…

Tấn hài kịch kệch cỡm và Sự lố bịch đến từ những ekip truyền thông phản động

 

Sau khi bị Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên phạt với mức án 9 năm tù về tội Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo điều 88 – BLHS năm 1999, tưởng chừng như thông tin về vụ án Phạm Đoan Trang được khép lại... Thế nhưng gần đây, cái tên Phạm Đoan Trang lại được “xướng lên” trên các báo, đài phản động bên ngoài, các trang mạng xã hội,… không những vậy còn xuất hiện trên truyền thông chính thống của một số quốc gia phương Tây. Điều đáng bàn là trong lần “trở lại” này, ngoài bộ y phục vốn nhuộm màu “tù nhân lương tâm”, “bất đồng chính kiến”, Phạm Đoan Trang còn được trang hoàng thêm chiếc “vương miệng” đính kèm dòng chữ “tự do truyền thông”, “Phụ nữ can đảm quốc tế” hay “nạn nhân cần được bảo vệ”, đó được xem là “phần thưởng” cho những “cống hiến”, “đấu tranh” vì “sự nghiệp” nhân quyền của con người này. Đây đúng là một vở kịch lố bịch, phi văn hóa của bọn tráo trở lương tâm.

Sau “thành công” của mỗi vở kịch, không thể không nhắc đến những ekip phụ trách công tác truyền thông, quảng cáo. Và trong vở kịch “vinh danh”, “bảo hộ” cho Phạm Đoan Trang, sẵn sàng, lĩnh xướng, đảm trách “nhiệm vụ” đó phải kể đến các trung tâm phá hoại, các tổ chức phản động lưu vong, các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, chống đối chính trị trong và ngoài nước với hàng trăm công cụ truyền thông là các báo, đài phản động ở nước ngoài, các website, diễn đàn, trang mạng xã hội cùng nhiều tài khoản facebook cá nhân.

Thực tế cho thấy, ngay sau khi các tổ chức quốc tế, Chính phủ, Bộ Ngoại giao một số quốc gia lên tiếng trao thưởng, “vinh danh”, “suy tôn” đối với Phạm Đoan Trang, lập tức các phần tử phản động, thù địch, chống đối trong và ngoài nước nhảy vào, “thi thố” phô diễn những “phẩm chất”, “tài năng”, “kinh nghiệm” chống Đảng, chống Nhà nước của mình. Chúng liên tục tán phát trên không gian mạng hàng loạt những tin, bài có nội dung sai trái, thâm độc, một phần để nâng tầm giá trị các “danh hiệu”, “giải thưởng”; phần nữa là tung hô, ngợi ca nhân vật được vinh danh; mặt khác, chúng không quên bày tỏ sự “ngưỡng mộ”, “tôn kính” với các chủ thể xướng xuất, đề cử Phạm Đoan Trang. Cũng phải thôi, bởi xưa nay, chúng được “lập ra”, “nuôi dưỡng”, hậu thuẫn cũng chỉ để phục vụ cho âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam; từ lâu chúng được xem là những công cụ hỗ trợ đắc lực cho truyền thông phương Tây phát đi những quan điểm đối lập với các kênh thông tin chính thống của Đảng và Nhà nước ta; chúng được trả công cho những kỹ xảo “lượm lặt”, “gia công” “cắt ghép”… hòng tạo ra những thông tin xấu, độc, các luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc tình hình thực tế Việt Nam trong đó vụ án Phạm Đoan Trang không là ngoại lệ. Như vậy, sau những chiêu trò “bu bám” “ăn theo” sự “vinh danh” “bảo hộ” càng cho thấy rõ bản chất chống đối, thù địch, sự kệt cỡm, lố bịch của đám “dân chủ cuội” ở cả trong và ngoài nước.        

Tóm lại, những dẫn giải thực tế trên, có thể chưa vén được hết toàn bộ những pha hài hước của bức màn “vinh danh”, “tôn vinh”, “bảo hộ” mà các tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho Phạm Đoan Trang, nhưng ít nhiều cung cấp thêm thông tin để công luận trong và ngoài nước thấu tỏ phần nào thực hư về những cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền 2022”; “Tự do truyền thông quốc tế 2022”; danh hiệu “Phụ nữ can đảm quốc tế 2022”; hay đại loại là “Nạn nhân cần được bảo vệ”. Góp phần, phơi bày bộ mặt thật của những kẻ xướng xuất, đề cử, vinh danh, suy tôn Phạm Đoan Trang và âm mưu lợi dụng “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” can thiệp vào công việc nội bộ, tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Do vậy, chẳng có gì là quá đáng khi cho rằng “vinh danh”, “bảo hộ”… Chính là những “màn kịch” lố bịch không hồi kết.

Vạch trần tâm địa của những kẻ “đề xướng”, “suy tôn” Phạm Đoan Trang?

 

Sau khi bị Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên phạt với mức án 9 năm tù về tội Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo điều 88 – BLHS năm 1999, tưởng chừng như thông tin về vụ án Phạm Đoan Trang được khép lại... Thế nhưng gần đây, cái tên Phạm Đoan Trang lại được “xướng lên” trên các báo, đài phản động bên ngoài, các trang mạng xã hội,… không những vậy còn xuất hiện trên truyền thông chính thống của một số quốc gia phương Tây. Điều đáng bàn là trong lần “trở lại” này, ngoài bộ y phục vốn nhuộm màu “tù nhân lương tâm”, “bất đồng chính kiến”, Phạm Đoan Trang còn được trang hoàng thêm chiếc “vương miệng” đính kèm dòng chữ “tự do truyền thông”, “Phụ nữ can đảm quốc tế” hay “nạn nhân cần được bảo vệ”, đó được xem là “phần thưởng” cho những “cống hiến”, “đấu tranh” vì “sự nghiệp” nhân quyền của con người này.

Khi nhắc đến bất kỳ vở diễn nào đó, điều mà công chúng luôn quan tâm là chủ đề, thông điệp truyền tải trong ấy là gì, và lời giải nằm ở những người làm công tác sản xuất, chính là đạo diễn, người dàn dựng, cố vấn chuyên môn… Vậy nên, không khó để nhận ra “thông điệp” từ các màn “trao giải”, “vinh danh”, “bảo hộ” cho Phạm Đoan Trang thời gian qua, bởi chủ thể đẻ ra  những “giải thưởng”, “danh hiệu” đó không ai khác là các tổ chức, cá nhân nước ngoài, họ núp bóng dưới danh nghĩa các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ với nhiều tên gọi rất “kêu” như “Liên minh báo chí tự do”(OPC), “Uỷ ban bảo vệ nhà báo” (CPJ), “Tổ chức phóng viên không biên giới” (RSF),  “Tổ chức truyền thông phụ nữ quốc tế” (IWMF), “Hiệp hội Nhà xuất bản quốc tế”… Đặc biệt, còn có sự hiện diện của chính giới, cơ quan ngoại giao một số quốc gia chẳng mấy “thiện lành” với Việt Nam.

Có một điều khá tương đồng ở các cá nhân, tổ chức này là họ luôn “ngộ nhận” về những giá trị “tốt đẹp” và “cao quý” của nền dân chủ tư sản phương Tây. Vì muốn áp đặt các giá trị này mà họ sẵn sàng can thiệp vào chính sách nhân quyền của quốc gia khác, kể cả những quốc gia có nhiều thành tựu về dân chủ, nhân quyền được cộng đồng quốc tế thừa nhận như Việt Nam. Với học thuyết “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, họ sẵn sàng giang tay “dung nạp”, “bao bọc” Phạm Đoan Trang, như cách họ đã từng làm với Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và một số đối tượng có tư tưởng bất mãn, chống đối chính quyền trước đây. Kể cả khi đối tượng này đã bị kết án bởi những phiên tòa công tâm, khách quan từ phía Nhà nước Việt Nam. Vì thế, họ sẵn sàng đăng đàn, công bố những cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền 2022”, “Tự do truyền thông quốc tế 2022”, “Phụ nữ can đảm quốc tế 2022” “danh sách nạn nhân cần bảo vệ”… dành cho Phạm Đoan Trang. Thậm chí, một số đại diện trong cơ quan ngoại giao các quốc gia, tổ chức quan sát nhân quyền cũng chủ động “ra mặt”, dùng nhiều “mỹ từ” lên tiếng bênh vực, ngợi ca Phạm Đoan Trang. Và tất nhiên, là phát kèm những “thông điệp” nhằm gây sức ép, phản đối và đưa ra những cáo buộc vô căn cứ, phi lý với Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam. Lẽ nào, họ cố tình gương cao ngọn cờ “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” để cả thế giới biết được bộ mặt những kẻ chuyên đi can thiệp, phá hoại công việc nội bộ của quốc gia khác. Không lý nào, với họ một phạm nhân có hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền như Phạm Đoan Trang lại quan trọng hơn cả vị thế, uy tín, danh dự, lợi ích của tổ chức, của quốc gia mình…

Sự thật về Phạm Đoan Trang nhân vật được “vinh danh”, “bảo hộ”

 

Đó là cái tên không còn xa lạ với nhiều người, Phạm Đoan Trang từng là một phóng viên, có thời gian công tác tại các cơ quan báo chí Nhà nước, tuy nhiên, do tiêm nhiễm của các trào lưu, tư tưởng “cấp tiến”, “đổi mới”, “xã hội dân sự” phương Tây, từ đó con người này đã trượt dài trong nhận thức, quan điểm, tư tưởng chính trị, sa vào chống Đảng, Nhà nước, chống chế độ. Với vỏ bọc là “nhà đấu tranh dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, Phạm Đoan Trang đã có nhiều hành vi chống đối quyết liệt, tên tuổi của Phạm Đoan Trang gắn liền với những tài liệu “sặc mùi” phản động như “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Phản kháng phi bạo lực”,… (từng được các tổ chức chống đối bên ngoài ví như “cẩm nang” để hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam). Phạm Đoan Trang cũng được biết đến với vai trò là “thủ lĩnh” của các hội, nhóm bất hợp pháp như “Du ca Sài Gòn”, “Tuổi trẻ làm đẹp quê hương” - tập hợp thành phần có tư tưởng cực đoan, bất mãn với Đảng, Nhà nước trong trí thức, văn nghệ sĩ. Không những thế, Trang còn lập ra và điều hành nhiều trang mạng để tuyên truyền, tán phát các tin, bài có nội dung phê phán, phủ định, xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam; phê phán, bác bỏ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…

Ấy thế mà, đây lại chính là nhân vật được lựa chọn để “vinh danh” cho cái gọi là giải thưởng “tự do truyền thông 2022”, “Phụ nữ can đảm thế giới 2022”…, lẽ nào tiêu chí để một cá nhân được “vinh danh”, “bảo hộ” này phải là người có tư tưởng chống đối lại chính quyền và Nhà nước của họ; lẽ nào để là ứng cử viên của sự “vinh danh”, “bảo hộ” phải luôn “đối đầu” với quốc gia, dân tộc của họ; phải luôn “can đảm” đứng lên công khai thách thức chính quyền, vi phạm trắng trợn pháp luật Việt Nam; phải là người cầm đầu một vài hội, nhóm bất hợp pháp có âm mưu lật đổ chính quyền thì mới thực sự là người xứng đáng được “vinh danh”. Những tưởng đó là “vinh danh”, “bảo hộ” nhưng vô tình lại làm tổn hại đến uy tín, hình ảnh, phẩm chất cao đẹp, những tiêu chuẩn tiến bộ, nhăn văn, niềm tự hào của người phụ nữ Việt Nam cũng như toàn thể phụ nữ trên toàn thế giới; việc lựa chọn Phạm Đoan Trang đã vô tình dựng nên một tấm gương phản chiếu, đối lập hoàn toàn với những giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền của Liên hiệp quốc cũng như cộng đồng quốc tế đang theo đuổi…

Mỗi chúng ta luôn hiểu rõ những giá trị trường tồn về văn hóa, con người Việt Nam, về giá trị cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam: Yêu nước, Nhân hậu, tần tảo, thủy chung, “giỏi việc nước, đảm việc nhà” chắc chắn sẽ cảm thấy bị xúc phạm bởi những trò lố bịch ấy.

Những “màn kịch” lố bịch không hồi kết của Việt Tân và bè lũ bán nước

  Sau khi bị Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên phạt với mức án 9 năm tù về tội Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo điều 88 – BLHS năm 1999, tưởng chừng như thông tin về vụ án Phạm Đoan Trang được khép lại... Thế nhưng gần đây, cái tên Phạm Đoan Trang lại được “xướng lên” trên các báo, đài phản động bên ngoài, các trang mạng xã hội,… không những vậy còn xuất hiện trên truyền thông chính thống của một số quốc gia phương Tây. Điều đáng bàn là trong lần “trở lại” này, ngoài bộ y phục vốn nhuộm màu “tù nhân lương tâm”, “bất đồng chính kiến”, Phạm Đoan Trang còn được trang hoàng thêm chiếc “vương miệng” đính kèm dòng chữ “tự do truyền thông”, “Phụ nữ can đảm quốc tế” hay “nạn nhân cần được bảo vệ”, đó được xem là “phần thưởng” cho những “cống hiến”, “đấu tranh” vì “sự nghiệp” nhân quyền của con người này.

Những chiêu trò “vinh danh” lố bịch, những màn “suy tôn” thô thiển, những kiểu PR “nhàm chán” không hồi kết ấy chỉ là màn kịch lố bịch của những kẻ bán nước cầu vinh mà thôi.


 

Đảng cộng sản Việt Nam nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

 

Thực tiễn lịch sử 92 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại:

Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH.

Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH: “Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ 20, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá”(4). Với những thành quả đạt được: “Chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta-Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện-một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”(5).

Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, quy mô nền kinh tế tăng từ 26,88 tỷ USD năm 1986 lên 271,2 tỷ USD năm 2020; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 182USD năm 1990 lên 2.779USD năm 2020(6). Sau 25 năm (1995-2020), Việt Nam đã làm được kỳ tích, đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về quy mô và thu nhập bình quân trên đầu người, tăng 21 hạng về quy mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người trên bảng xếp hạng các quốc gia.

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(7).

Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ

Kiên quyết đấu tranh Bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng

 

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”(1).

Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”(2).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam": “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”(3).

Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

Kiên quyết - Kiên trì giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng

 

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng.

Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

Nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”

 

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam.

Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.      

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!).

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

Nhận diện các luận điệu Xuyên tạc Chiến thắng 30/4/1975

 

 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, xe tăng của quân giải phóng húc đổ cánh cổng Dinh Tổng thống ngụy, đánh dấu Ngày Nam - Bắc sum họp một nhà, miền Nam được giải phóng, cả nước được thống nhất.

Như “nấm mọc sau cơn mưa”, mỗi năm, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, các trang mạng xã hội như Việt Tân, Nhật ký yêu nước, Vietline.TV, VOA, BBC News, Tin Tức Hoa Kỳ, Hoa Kỳ Channel..., đồng loạt đăng tải các bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc…; đồng thời tổ chức Việt Tân chỉ đạo các phần tử phản động tổ chức livestream để phủ nhận thành quả của cuộc kháng chiến trường kỳ của quân và dân cả nước.

Gần đây, chúng rêu rao rằng đó là “ngày quốc hận” khi Đảng Cộng sản Việt Nam cho quân Bắc Việt xâm chiếm miền Nam; “tháng 4 là tháng vo gạo bằng nước mắt”, “tháng 4 đen”; đây “thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào”;....(?!)

Đó là những luận điệu hoàn toàn sai trái, sáo rỗng, mong muốn của những phần tử cơ hội, phản động và những thế hệ “lưu vong” tàn dư của chế độ Việt Nam Cộng hòa về Chiến thắng 30/4/1975. Đồng thời, những luận điệu ấy đã bị chính những giá trị lịch sử, ý nghĩa trọng đại của Chiến thắng 30/4/1975 và thành tựu qua hơn 35 năm đổi mới của đất nước ta phủ nhận, phản biện.

Bởi trên thực tế, để có ngày toàn thắng, non sông thu về một mối, quân và dân ta đã phải kinh qua 21 năm trường kỳ kháng chiến, hy sinh, gian khổ, có những thời điểm tình thế cách mạng như ngàn cân treo sợi tóc, nhưng với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của Quân đội và Nhân dân cả nước, cùng tinh thần đoàn kết, triệu người như một “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “tất cả cho tuyền tuyến, tất cả để chiến thắng”,… Bởi, Nam - Bắc là một nhà, cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta là cuộc kháng chiến chính nghĩa, được cả thế giới và ngay cả người Mỹ ủng hộ. Từ việc kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, ủng hộ của dư luận quốc tế, với đường lối kháng chiến tài ba, quân và dân ta đã tạo nên chiến thắng 30/4/1975 lừng lẫy năm Châu, chấn động địa cầu.

Chiến thắng đó thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức sống mãnh liệt của văn hóa và con người Việt Nam, không chỉ dân tộc Việt Nam mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đều thừa nhận, trân trọng, tự hào và ngưỡng mộ. Chiến thắng 30/4/1975 đã đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc như một trong những trang sử chói lọi nhất, khẳng định tầm vóc vĩ đại, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của cả dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước 47 năm, kể từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và qua hơn 35 năm đổi mới, nhờ thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã gặt hái nhiều thành tựu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế phát triển mạnh, quốc phòng an ninh được giữ vững, củng cố và tăng cường. Nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN; thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Năm 2021, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê GDP tăng 2,58% và quý I năm 2022 ước tính tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD, năm 2021 đạt 668,54 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước); năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,52% tỷ, từ 2,75% cuối năm 2020 xuống còn 2,23% cuối năm 2021. Tỷ lệ hộ cận nghèo giảm 0,34%, từ 3,71% cuối năm 2020 xuống còn 3,37% cuối năm 2021. Chỉ số phát triển con người Việt Nam HDI của cả nước tăng từ 0,682 năm 2016 lên 0,687 năm 2017; 0,693 năm 2018; 0,703 năm 2019 và 0,706 năm 2020. Theo đó, Việt Nam từ Nhóm các quốc gia, vùng lãnh thổ có HDI trung bình năm 2018 và những năm trước đó đã gia nhập Nhóm đạt mức cao trong năm 2019 và năm 2020. Thứ hạng HDI của Việt Nam trong các quốc gia, vùng lãnh thổ thế giới tăng từ vị trí 118 năm 2018 lên 117 năm 2019 và có thể tiếp tục được cải thiện trong năm 2020 khi UNDP cập nhật Bảng xếp hạng.

Đáng ghi nhận là Việt Nam cũng đã tích cực, chủ động hội nhập sâu rộng vào mọi mặt đời sống xã hội quốc tế, là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, nhất là có uy tín, vị thế cao trong hoạt động của Liên hợp quốc (gia nhập ngày 20/9/1977), là quốc gia điển hình, được nhân dân thế giới yêu mến khi tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; thành viên trách nhiệm, tích cực của tổ chức ASEAN (gia nhập ngày 28/7/1995), APEC (gia nhập ngày 14/11/1998), WTO, CICA,…

Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố.

Điều đấy minh chứng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tinh thần yêu nước, cố kết cộng đồng, cùng sự tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của đất nước, Việt Nam đã và đang vươn lên, phát triển giàu đẹp, thịnh cường, khẳng định vị thế với các cường quốc. Và chính những thành quả đó sẽ là minh chứng sắc bén bẻ gãy mọi luận điệu xuyên tạc về Chiến thắng 30/4/1975 bất diệt.

ST

CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ - LỪNG LẪY NĂM CHÂU CHẤN ĐỘNG ĐỊA CẦU!

(KỶ NIỆM 68 NĂM CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ
7/5/1954 - 2022)
Bác Hồ giao việc bác Văn
Trận này cứ phải chắc ăn mới làm
Quân dân cộng khổ đồng cam
Trộn bùn với máu Việt Nam anh hùng

Tất cả vì đại cục chung
Pháo lên lại xuống luyện nung chí bền
Bảy tháng năm pháo vang rền
Rửa nhục mất nước xứng tên Lạc Hồng

Trăm năm tổ quốc ngóng trông
Chín xuân chờ đợi chiến công lẫy lừng
Non sông trẩy hội tưng bừng 
Từ đây vạn thủa hát mừng vinh quang

Làm nên thắng lợi huy hoàng
Lên hầm Đờ Cát đầu hàng quân ta
Tiến Nam nhất thống sơn hà
Đánh bay Mỹ ngụy nước nhà rạng danh!
------------- 
Cả cuộc đời Bác Giáp luôn ghi nhớ lời dạy của người thầy Hồ Chí Minh tại một đêm vắng vẻ giữa rừng Pắc Bó năm 1946 rằng: "chú Văn ạ, làm cách mạng là dĩ công vi thượng!". Tất cả các vị tướng soái của Pháp, Mỹ... xâm lược Việt Nam đều phải cúi đầu, lấy làm hân hạnh khi được làm bại tướng dưới tay Ông. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là niềm cảm hứng bất tận của các dân tộc yêu chuộng hòa bình và bị áp bức trên toàn thế giới, đứng lên chiến đấu để xoá bỏ chế độ thực dân, đế quốc. Mỗi lúc gian khổ, khắp Á, Phi, Mỹ La Tinh...hô vang "Việt Nam - Hồ Chí Minh - Giáp, Giáp, Giáp"! 

3 tờ báo lớn của Pháp là Le Monde, Libération và L’Humanité từng viết về Ông sau khi nghe tin Ông qua đời "Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một vị tướng của Việt Nam, xứng đáng được xem như một chiến lược gia ngoại hạng của thế kỷ XX. Chính ông là người duy nhất đánh bại Pháp và dám đối đầu với Mỹ, điển hình qua chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và chiến thắng 30/4/1975. Một chiến lược gia mà đến ngay cả kẻ thù cũng phải nghiêng mình kính nể".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhân tướng, cũng là thiên tướng. Con người giản dị mà vĩ đại, khiêm tốn mà cao cả. Ông luôn là người hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, trên các cương vị khác nhau. Đó chính là tinh thần "dĩ công vi thượng" mà Bác Hồ đã dạy. Một trong những tướng tài ba, lỗi lạc nhất mọi thời đại, hội tụ đủ "Nhân, Trí, Dũng, Liêm, Trung", một đời vì nước vì dân, không tư lợi. 

Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã may mắn có Bác Hồ, Bác Giáp và các vị cách mạng tiền bối. Đó là hồng phúc của dân tộc Việt Nam đời đời văn hiến! Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh của các Tư lệnh, Chính ủy của các Chính ủy. Tổ quốc luôn mãi khắc ghi công lao của Người - Mặt trời của Quân đội nhân dân thời đại Hồ Chí Minh./.


Yêu nước ST.