Mới đây, Đài Á châu Tự do (RFA) đã đăng bài “Văn hóa từ chức” – không khả thi, vì sao?, dẫn lại lời của một người tự nhận mình là “nhà báo” Võ Văn Tạo với những lý giải và lập luận phiến diện, đầy thành kiến. Ông Tạo cho rằng, “thứ nhất, tại sao quan chức nước ngoài hay từ chức khi dính bê bối, hay không hoàn thành nhiệm vụ gì đấy? Vì những nước có đa nguyên đa đảng, tự do báo chí, tự do ngôn luận... mà quan chức cầm quyền làm không tốt thì ngoài danh dự, nếu họ không từ chức thì sẽ ảnh hưởng đến cả đảng của họ. Khi có sự cạnh tranh thì đảng cầm quyền có quan chức bê bối mà không từ chức thì họ sợ dân sẽ không bầu cho đảng đó nữa. Lý do thứ hai, quan chức nước ngoài không có quyền lợi cá nhân như quan chức xứ sở độc tài như Việt Nam hiện nay…”.
Dù rằng hiện tượng cán bộ lãnh đạo ở Việt Nam
chưa thực hiện việc từ chức nhiều nhưng hoàn toàn không phải như cách lý giải
của ông Tạo. Thực ra, cách giải thích này vốn được hầu hết những người thành
kiến, chống phá Đảng và Nhà nước ta sử dụng với luận điểm chủ yếu là vì Việt
Nam không có đa nguyên đa đảng nên dẫn đến mọi điều đều rất không tốt (?!) và
vì thể chế Việt Nam độc tài nên dẫn đến cán bộ hư hỏng, thoái hóa (?!). Tức là,
không cần quan tâm câu hỏi, việc dùng các lý lẽ đó với họ có thể trả lời cho
bất kỳ vấn đề nào!
Thực ra, vấn đề từ chức đã được luật hóa và
quy định cụ thể trong nhiều văn bản của Đảng, văn bản luật. Hồi tháng 11/2020,
tại diễn đàn Quốc hội, khi trả lời chất vấn của đại biểu Ksor H’Bơ Khắp (đoàn
Gia Lai), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định Luật Cán bộ, công
chức đã quy định vấn đề từ chức này, là cán bộ, công chức, lãnh đạo, quản lý
không đủ năng lực, không đủ uy tín theo yêu cầu nhiệm vụ, hoặc vì lý do khác
chính đáng, thì được thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời
hạn bổ nhiệm… (được quy định tại các Điều 7, 30, 54, 64). Luật này đã được ban
hành từ năm 2008. Hay tại Quyết định 1847 năm 2018 của Thủ tướng về phê duyệt
đề án văn hóa công vụ cũng nêu: "Cán bộ lãnh đạo chủ chốt chủ động xin
thôi khi thấy bản thân còn hạn chế về năng lực, uy tín".
Về văn bản của Đảng, ngày 3/11/2021, Bộ Chính
trị đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán
bộ”. Quy định này thay thế Quy định số 260-QĐ/TW ngày 2/10/2009 của Bộ Chính
trị khóa X “về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ”. Khoản 3
Điều 3 của Quy định 41 nêu rất quyết liệt: “Kiên quyết, kịp thời xem xét cho
miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ khi có đủ căn cứ. Không thực hiện việc cho
từ chức đối với cán bộ thuộc trường hợp phải miễn nhiệm”.
Như vậy, vấn đề từ chức của cán bộ lãnh đạo đã
được Đảng, Nhà nước bàn đến từ khá lâu và trên thực tế đã được quy định ngày
càng cụ thể, chặt chẽ.
Việc cán bộ lãnh đạo ở Việt Nam chưa có nhiều
trường hợp xin từ chức hoàn toàn không phải do các nguyên nhân như ông Võ Văn
Tạo nêu và cũng không có căn cứ nào khẳng định rằng “quan chức nước ngoài hay
từ chức khi dính bê bối, hay không hoàn thành nhiệm vụ” như ông ta nêu, bởi
không thể nêu vu vơ “nước ngoài” mà không biết đó là nước nào, hoặc bảo “hay từ
chức” thì tần suất, mức độ ra sao, hoặc diễn ra vào lúc nào… Nói chung, đó chỉ
là cách nói mang tính võ đoán, nói lấy có, không thể xem là căn cứ xác đáng, có
thể tin cậy.
Về nguyên nhân còn ít cán bộ xin từ chức, cần
nhận rõ một vấn đề mang tính nguyên tắc liên quan đến trách nhiệm đảng viên. Đó
là một số trường hợp khi đề cập đến việc từ chức, là những cán bộ, lãnh đạo có
hạn chế, vi phạm (nhưng chưa đến mức phải miễn nhiệm, cách chức) thì họ vẫn còn
phải tiếp tục thực hiện chức trách, nhiệm vụ do Đảng phân công. Tức là, họ
không phải chỉ có lý do để tiếp tục duy trì vị trí của mình, không từ bỏ quyền
lực sẵn có mà chính là họ không được tự ý rời nhiệm vụ khi chưa tổ chức đồng ý.
Chẳng hạn, một chủ tịch UBND có hạn chế về năng lực, là người có lòng tự trọng,
vị ấy muốn từ chức, nhưng vì trách nhiệm là một đảng viên, là phó bí thư đảng
ủy xã, vị ấy không thể tức khắc bỏ vị trí khi chưa được tổ chức và cấp có thẩm
quyền cho phép. Đồng thời, trong thời gian đó, người này còn phải tiếp tục thực
hiện các nhiệm vụ thường xuyên, thậm chí phải có trách nhiệm khắc phục các hạn
chế, thiếu sót do mình gây ra, không thể trút bỏ cho người khác.
Bên cạnh đó, vì bị ràng buộc những nguyên tắc
và quy định đó, hiện chưa có nhiều người từ chức nên những người khác có thể có
những rào cản tâm lý nhất định khi muốn từ chức. Chẳng hạn, khi quyết liệt xin
từ chức (trừ các trường hợp theo nguyện vọng cá nhân mà không liên quan đến hạn
chế, khuyết điểm về chức trách, nhiệm vụ), một người có thể trở thành tâm điểm
chú ý của dư luận, từ đó tác động tiêu cực đến đời sống của cá nhân và gia
đình. Đồng thời, khi một việc làm chưa trở nên bình thường thì ít ai mạnh dạn
thực hiện bởi không lường hết những hệ lụy do quyết định của mình gây ra.
Cũng cần nói rằng, dù lý lẽ của một số người
như ông Võ Văn Tạo nêu ra là sai trái nhưng vì chưa có nhiều người mạnh dạn từ
chức nên trên thực tế có thể nói là “văn hóa từ chức” chỉ là một sự phản ánh,
một sự kỳ vọng hơn là một hiện tượng phổ biến. Bởi không thể hình thành một
biểu hiện văn hóa về vấn đề từ chức nếu chưa có nhiều người từ chức. Trên thực
tế, "có xuống - có lên, có vào - có ra" là lẽ đương nhiên của cuộc
sống nhưng trong công tác cán bộ vẫn còn ít và chưa hình thành một nếp mang
tính phổ biến.
Như vậy, để hình thành “văn hóa từ chức”,
Đảng, Nhà nước cần quyết liệt và triệt để thực hiện các quy định về từ chức. Đó
là thực hiện nghiêm tinh thần của Quy định 41 là “Kiên quyết, kịp thời xem xét
cho miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ khi có đủ căn cứ”. Tức là, trước tiên,
phải xem việc “cho từ chức” là một hình thức “xử lý” để hình thành dần một tâm
lý “tự giác từ chức” để thể hiện tính tự trọng, gương mẫu, trung thực. Đó là cơ
sở để hình thành văn hóa từ chức.
Đồng thời, khi đã xem việc lên - xuống, vào -
ra là bình thường thì truyền thông và xã hội cũng không nên chú ý quá nhiều vào
các trường hợp cụ thể, khiến cá nhân liên quan bị săm soi, dè xét một cách quá
mức. Chẳng hạn, hồi tháng 9/2021, khi vị Chủ tịch UBND huyện Long Điền (Bà Rịa
– Vũng Tàu) xin từ chức vì được cho rằng có hạn chế, khuyết điểm trong công tác
phòng chống dịch Covid-19 thì dư luận lại quy kết nhiều điều không thực sự tích
cực, như “nội bộ lãnh đạo huyện có vấn đề”, “xin từ chức để làm eo”… Những điều
đó có thể không tích cực cho việc hình thành và lan tỏa văn hóa từ chức.
Ngoài ra, để việc từ chức dần trở thành bình
thường, thì nên có quy chế, quy định cụ thể theo điều kiện của từng địa phương,
từng lĩnh vực công tác. Theo đó, trên cơ sở quy định chung của Đảng và pháp
luật của Nhà nước, tùy các yếu tố đặc thù, cần có những hướng dẫn phù hợp để
xác định trường hợp phải từ chức, được từ chức, nên từ chức… và các ứng xử
trường hợp. Thí dụ, nếu một cán bộ có vi phạm nhưng chưa đến mức bị kỷ luật
cách chức, miễn nhiệm nhưng thuộc diện phải từ chức, nếu tự giác từ chức khi
chưa có biện pháp xử lý của cơ quan chức năng theo quy định thì có thể xem xét
bảo đảm một số chế độ, quyền lợi…
Văn hóa từ chức cũng như nhiều vấn đề khác của
xã hội, của bộ máy chính trị, không tự khắc hình thành mà cần phải trải qua
nhiều tác động, định hướng, bằng những cách thức phù hợp, thường xuyên. Quá
trình đó, cần bác bỏ những ý kiến sai trái, xuyên tạc, những luận giải sai lầm mang
tính công kích của một số người thành kiến.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét