Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2022

"Diễn biến hoà bình" là "một cuộc chiến tranh không có khói súng"

         Chủ nghĩa đế quốc trước sau vẫn coi sự tồn tại của các nước xã hội chủ nghĩa là mối đe dọa lớn nhất đối với chế độ tư bản chủ nghĩa. Lợi dụng ưu thế về quân sự, ngay từ khi nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên xuất hiện - nước Nga Xô Viết - ,chủ nghĩa đế quốc đã dùng lực lượng quân sự can thiệp hòng bóp chết nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa non trẻ này. Sau đó là nhiều cuộc chiến tranh lớn nhỏ, kể cả chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ nghĩa đế quốc luôn nhằm vào tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng chúng đều thất bại, thảm hại nhất là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ - nước đế quốc đầu sỏ, lớn mạnh nhất.

        Dùng vũ lực thất bại, nhưng mục tiêu xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa vẫn không thay đổi. Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ thay đổi chiến lược, chuyển từ phương thức chiến tranh, tiến công bằng sức mạnh quân sự sang phương thức "diễn biến hoà bình", "tiến hành một cuộc chiến tranh không có khói lửa" sử dụng các biện pháp “phi vũ trang” để giành "chiến thắng không cần chiến tranh".

        Các biện pháp chủ nghĩa đế quốc dùng để thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình" là:

        "Chiến tranh tâm lý" chống chủ nghĩa xã hội trên mặt trận tư tưởng, tinh thần. Chúng sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là các đài phát thanh, các chương trình truyền hình, internet, mạng xã hội... ngày đêm hướng vào các nước xã hội chủ nghĩa, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc, nói xấu chủ nghĩa xã hội, tuyên truyền, tán dương chế độ tư bản, kích động tâm lý chống đối trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa. "Chiến tranh tâm lý" còn được thực hiện bằng "tuyên truyền rỉ tai". Đó là cách thông qua "rỉ tai" để phao tin đồn nhảm có dụng ý, kích động, mua chuộc, đe dọa khống chế... Đây là một thủ đoạn được các chuyên gia "chiến tranh tâm lý" dùng rất phổ biến. Chúng phân tích rằng: "tuyên truyền rỉ tai" thì thực hiện rất đơn giản, bất cứ thời gian nào, bất cứ ở đâu, với bất cứ ai, thường kích thích sự tò mò, gây thích thú hơn là những tin tức công khai; người tung tin không để lại dấu tích và sau đó có nhiều người vô tình làm "cộng tác viên tự nguyện" loan truyền rộng rãi với sự thêm bớt và bình luận "sáng tạo" hơn. Cách "tuyên truyền rỉ tai" này tuy thô sơ nhưng có hiệu quả không nhỏ, làm cho người ta nửa tin, nửa ngờ, bi quan chán nản hoặc bức xúc, mất niềm tin, trở thành người tuyên truyền không công cho chủ nghĩa tư bản...  Trong đòn "chiến tranh tâm lý", hai cách hiện đại và thô sơ này được dùng đồng thời, kết hợp, hỗ trợ nhau.

        "Chiến tranh gián điệp" chống phá về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Thông qua hoạt động gián điệp, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch sử dụng nhiều thủ đoạn tác động vào đường lối, tổ chức, nhân sự để dẫn tới chệch hướng về đường lối, phá vỡ về tổ chức, cài cắm nội gián để chuyển hoá chế độ chính trị các nước xã hội chủ nghĩa. Các thủ đoạn của "chiến tranh gián điệp" là:

        Kích động các phần tử thoái hoá biến chất, bất mãn, có quan điểm chống đối Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa để gây mâu thuẫn, chống phá từ bên trong.

        Lôi kéo, mua chuộc, khống chế cán bộ thông qua những người đi công tác, học tập ở nước ngoài, thông qua các quan hệ liên doanh, liên kết... để phát hiện, bồi dưỡng "hạt giống tự do" cài cắm nội gián.

        Tác động từ bên ngoài, hình thành các tổ chức chính trị phản động trong nước, hoạt động dưới sự chỉ đạo, tiếp tay của các lực lượng phản động nước ngoài.

        Thu thập tin tức tình báo trên các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... để chống phá, làm suy yếu các lĩnh vực này của các nước xã hội chủ nghĩa.

        Phá hoại về kinh tế, thông qua quan hệ kinh tế - kể cả viện trợ - để gây sức ép về nhiều mặt, chèn ép, phá hoại, thậm chí bao vây, cô lập, cấm vận, gây thiệt hại kinh tế, tiến tới khống chế, "thôn tính về kinh tế".

        "Xâm lăng văn hoá", bằng việc du nhập văn hoá độc hại, các giá trị đạo đức, lối sống phương Tây vào các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, dần dần làm mai một bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc, hướng theo văn hoá, lối sống phương Tây trong các nước xã hội chủ nghĩa.

        Chống phá về ngoại giao, lợi dụng quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, chủ nghĩa đế quốc tăng cường hoạt động ngoại giao chống các nước xã hội chủ nghĩa. Trước hết là kích động gây chia rẽ giữa các nước xã hội chủ nghĩa; nuôi dưỡng tâm lý ly khai ở các nước xã hội chủ nghĩa và các nước dân tộc tiến bộ lợi dụng các tổ chức quốc tế gây sức ép ngoại giao, can thiệp vào công việc nội bộ, thậm chí cô lập về ngoại giao đối với các nước xã hội chủ nghĩa.

        Tất cả những biện pháp trên đều được sự hậu thuẫn của "răn đe quân sự". Như thế, các biện pháp của chiến lược "diễn biến hoà bình" đều không trực tiếp dùng vũ lực, không thực hiện phương thức chiến tranh, nhưng nó diễn ra rất quyết liệt và vô cùng nguy hiểm, nhằm mục đích xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, bằng chiến lược "diễn biến hoà bình", chủ nghĩa đế quốc đã tác động góp phần quan trọng làm sụp đổ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Cho nên "diễn biến hoà bình" thực chất không khác gì “một cuộc chiến tranh không có khói súng”, chỉ khác chiến tranh thông thường là không trực tiếp xung đột vũ trang, chỉ dùng các biện pháp “phi vũ trang”, vì thế được coi là "một cuộc chiến tranh không có khói súng".

PHAO

Phương hướng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

 


Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu sâu hơn hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa; kinh nghiệm xây dựng nền dán chủ ở các quốc gia trên thể giới. Một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chú nghĩa trong kho tàng chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác, làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chú khác để kế thừa, học hỏi.

Cho đến nay việc làm sáng tỏ hai vấn đề nêu trên vẫn còn hạn chế, nhất là việc kế thừa những giá trị, học hỏi kinh nghiệm của nền dân chủ trên thế giới vẫn chưa thoát khỏi lối tư duy cũ; hoặc ca ngợi một chiều; hoặc phủ định sách trơn, làm cho sự khác biệt của các nền dân chủ càng doãng xa hơn. Do vậy một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ XHCN trong kho tàng chủ nghĩa mác- Lênin, chỉ ra những điểm còn nguyên giá trị, những điểm đã bị lịch sử vượt qua do bối cảnh lịch sử đã thay đổi; mặt khác làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chủ khác để kế thừa, học hỏi

Đánh giá khách quan thành tựu dân chủ tư sản, tính chất, trình độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là cơ sở khoa học để tiếp thu có chọn lọc các giả trị dân chủ của nhân loại được biểu hiện trong chủ nghĩa tư bản. Phải làm rõ sự phát triển trình độ dân chủ của văn minh nhân loại được biểu biện ở chủ nghĩa tư bản chứ không phải là sản phẩm riêng của chú nghĩa tư bản. Một số giá trị của dân chủ tư sản cần thiết cho thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Việt Nam không tiếp thu bản chất giai cấp của dân chủ tư sản, nhưng tiếp thu, học tập các hình thức thực hiện để đảm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.

Thứ hai, phân biệt rõ và phù hợp giữa dân chủ XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH và dân chủ trong điều kiện CNXH đầy đủ (đích thực)

Trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, cần phân biệt dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là chể độ dân chủ đầy đủ của chế độ xã hội chủ nghĩa đã phát triển tương đổi toàn điện với dân chủ trong giai đoạn thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là hai trình độ phát triển khác nhan của xã hội. với các đặc điềm kinh tế, chinh trị, văn hóa xã hội khác nhau. Do đó, đặc điểm, tính chất, hình thức thực hiện cũng khác nhau. Trong thời kỳ quá độ, Việt Nam tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, cơ cấu xã hội, quan hệ giai cẩp đa dạng, phức tạp; từ đó cũng dẫn đến sự đa dạng về nhu cầu dân chủ.

Thứ ba, cần hiểu đúng bản chất của mối quan hệ dân chủ và nhất nguvên chính trị, thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng lãnh đạo, cầm quyền.

Hiện nay không ít ý kiến cho rằng, ở Việt Nam phải đa đảng mới dân chủ. Họ viện đẫn rằng, do kinh tế có nhiều thành phần thì chính trị phải có đa đảng. Việc xem xét mối quan hệ giữa kinh tế nhiều thành phần với kết cấu kiến trúc thượng tầng chính trị, có thể khẳng định rằng, nền kinh tế nhiều thành phần không nhất thiết (không tất yếu) dẫn đến kiến trúc thượng tầng chính trị đa đảng, có đảng đối lập, bởi vì, trong thực tế lịch sử đã có những thời kỳ nền kinh tế nhiều thành phần không làm nảy sinh chế độ chính trị đa đảng.

Vấn đề đa đảng hay một đảng là tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước trong từng giai đoạn, vai trò của từng thành phần kinh tế trong đời sống xã hội, tương quan lực lượng giai cấp, quy định của Hiến pháp và pháp luật của mỗi nước, uy tín và sức mạnh của đảng cầm quyền, quan niệm về dân chủ và ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài, v.v.. Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản chất của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng mà thể hiện ở việc đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Không nên chỉ xem xét chế độ đa đảng hay một đảng làm căn cứ duy nhất để đánh giá tính chất và trình độ của dân chủ.

Vấn đề một đảng duy nhất cầm quyền hay các đảng khác nhau cầm quyền không ảnh hưởng quyết định tới dân chủ, mà quan trọng là đảng đó là đảng như thế nào khi cầm quyền. Vì vậy một đảng khi đã độc quyền lãnh đạo thì phải tổ chức xây dựng thể chế chính trị và lãnh đạo sự vận hành của tổ chức như thế nào để không hạn chế, vi phạm dân chủ. Nếu Đảng cầm quyền vi phạm dân chủ thì sẽ làm mất lòng tin của nhân dân, và sớm muộn, Đảng sẽ mất quyền lãnh đạo, mất khả năng cầm quyền.

 

Những yếu tố cản trở trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 


Một là, vốn là một nước thuộc địa nửa phong kiến, những thành quả mà cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đem lại là một bước ngoặt lớn lao trong việc hỉnh thành và phát triển nền dan chủ ở nước ta. Song một đất nước vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân đang lãnh đạo chính quyền phần lớn đều xuất thân từ nông dân, vì thế không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi những tàn tích tư tưởng tiểu nông, sản xuất nhỏ.

Hai là, đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, bên cạnh những thuận lợi nêu trên, cũng có nghĩa là xã hội Việt Nam chưa trải qua nền dân chủ tư sản có lịch sử từ nhiều thế kỷ xây dựng và phát triển, với pháp quyền tư sản, nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Nền dân chủ tư sản dù mang bản chất tư sản, dù phục vụ chủ yếu cho giai cấp tư sản thống trị, nhưng nó cũng tạo ra môi trường đào luyện con ngưòi ngày càng ý thức được vai trò của cá nhân, tầm quan trọng của học vấn, học thức và văn hóa đối với sự phát triển. Môi trường xã hội đó cũng rèn luyện cho con người những thói quen, những năng lực cần thiết thích ứng với những đòi hỏi pháp lý và nhân văn của dân chủ.

Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và nền dân chủ tư sản, việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gặp phải không ít những khó khăn trở ngại. Ý thức hệ phong kiến còn ăn sâu vào xã hội, một xã hội mà nông dân còn chiếm đa số trong dân cư; một xã hội nông nghiệp cổ truyền lạc hậu, lực lượng sản xuất chưa phát triển, phân công lao động trong xã hội còn giản đơn và hạn chế. Tàn tích của ý thức hệ phong kiến của người nông dân với những hạn chê như: tâm lý cục bộ địa phương; tư tưởng cào bằng, đẳng cấp; dân chủ tự phát... dễ làm triệt tiêu tính tích cực cá nhân, triệt tiêu động lực phát triển. Không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, Việt Nam thiêu tri thức khoa học và kinh nghiệm quản lý hiện đại. Nguồn nhân lực của chúng ta bị hạn chế về sự am hiểu, tinh thông nghiệp vụ, chuyeD môn do chưa có chuyên môn hóa sâu. Cùng với hạn chế đỏ, ^ bằng dân trí của xã hội còn thấp, kết cấu hạ tầng vật chất - kỹ thuật còn rất lạc hậu và chậm phát triển, thông tin đến với người dân còn chậm và không đầy đủ, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc miền núi, vùng hẻo lánh xa xôi.

Ba là, cùng với những hạn chế do Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tác động của cơ chế thị trường, sự đan xen giữa cái mới và cái cũ làm nảy sinh nhiều vật cản trên con đường tiến tới nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Những vật cản trở đó là: Trình độ phát triển dân chủ còn thấp và chưa đầy đủ, hệ thống pháp luật thiếu và không đồng bộ, chưa tạo ra được khung pháp lý và cơ chế đủ mạnh để thực hiện dân chủ. Sự suy thoái, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên kể cả những người có chức quyền; tệ tham nhũng, buôn lậu đã ứở thành quốc nạn. Bệnh quan liêu diễn ra khá phổ biến ở các cấp, các ngành đã gây nỗi bất bình trong các tầng lớp nhân dân. Nhiều luật được ban hành nhưng việc chấp hành luật không nghiêm từ một bộ phận công dân, việc thi hành luật không công minh của một bộ phận cán bộ trong các CJ quan hành pháp và tư pháp đã làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu lực và hiệu quả. Tệ ô dù bao che cho kẻ xấu, khiếu kiện cửa người dân chưa được xem xét đầy đủ và kịp thời đã làm giảm lòng tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, tình trạng ấy sẽ làm cho dân chủ biến thành “quan chủ”, quyền được ủy thác đã biến thành quyền bị chiếm đoạt, quyền làm chủ của nhân dân đã biến thành quyền của những ai nắm được chức quyền. Tất cả những khó khăn đó gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Những yếu tố thuận lợi tác động tới xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ra đời từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, là kết quả trực tiếp của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và phát triền trong những điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt. Bước vào xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam có những thuận lợi cơ bản sau:

Một là, học thuyết Mác-Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa là cơ sở lý luận và phương pháp luận để xây dựng nền dân chủ và thực hiện quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Hai là, kế tục những giá trị của dân chủ trong lịch sử Việt Nam đã được xây dựng ngay từ buổi đàu dựng nước và nâng lên một chất lượng mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đất nước độc lập, thống nhất, nhân dân được tự do và trở thành người chủ đất nước, được tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình.

Ba là, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đã mang lại nhiều thuận lợi rất quan trọng trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Bỏ qua sự thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ người bóc lột người; bỏ qua sự thống trị cùa một nhóm người đối với đa số nhân dân lao động.

Bốn là, nền dân chù xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng trong điều kiện có Đảng Cộng sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc.

Kế tục tưởng vi dân của Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước ta thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị gồm: Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội được thiết lập từ Trung ương tới địa phương là cơ sở bảo đảm cho việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Năm là, cơ sở xã hội của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng là lực lượng đông đảo những người lao động được giải phóng đã vào vị trí người chủ của chế độ mới, nòng cốt là khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đây chính là những cơ sở quan trọng, những thuận lợi cơ bản trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

 

QUÁN TRIỆT SÂU SẮC CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

 


- Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

- Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

- Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất.

- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

 

Quá trình hình thành, phát triển của nền dân chủ XHCN ở Việt Nam

 


Chế độ dân chủ nhân dân được xác lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đến năm 1976, tên nước được đổi thành Cộng hõa XHCNVN, nhưng trong các văn kiện Đảng hầu như chưa sử dụng cụm từ “dân chủ XHCN”. Từ đại hội IV, Đảng ta thường nêu quan diểm “xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN” gắn với “nắm vững chuyên chính vô sản”, trên thực tế chưa coi dân chủ XHCN là mục tiêu của công cuộc phát triển đất nước. Bản chất của dân chủ XHCN, mối quan hệ giữa dân chủ XHCN và nhà nước pháp quyền XHCN, cũng chưa được xác định rõ ràng. Việc xây dựng nền dân chủ XHCN, đặc biệt là thực hiện dân chủ trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam như thế nào cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, dạo đức của xã hội Việt Nam, gắn với hoàn thiện hệ thống pháp luật, kỷ cương cũng chưa dược đặt ra một cách cụ thể, thiết thực. Nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết đến dân chủ XHCN như dân sinh, dân trí, dân quyền... chưa được đặt đúng vị trí và giải quyết đúng để thúc đẩy việc xây dựng nền dân chủ XHCN

Đại hội VI của Đảng (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nhấn mạnh phát huy dan chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước. Đại hội khẳng định “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”, “bài học cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” bao giờ cũng quan trọng. Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng: ở đâu nhân dân lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thật sự, thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng”. Đại hội VI tiếp tục kế thừa khái niệm “làm chủ tập thể” của các dại hội IV, V và khẳng định “Đảng ta coi làm chủ tập thể XHCN là bản chất của chế độ dân chủ XHCN cần được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống”. Chúng ta xác dịnh mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chut, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong  quản lý toàn bộ xã hội”

Đại hội VII của Đảng (1991) dã thống qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ XHCN (cương lĩnh năm 1991), trong đó đã rút ra bài học lớn “ sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Cương lĩnh năm 1991 đã pháp họa 6 đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng, trong đó đặc trưng đầu tiên là: Do nhân dân lao động làm chủ. Đặc biệt Cương lĩnh năm 1991 đã khẳng định “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nề dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn lièn với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm”

Có thể khẳng định dại hội VII đã có bước tiến lớn trong nhận thức về dân chủ. Đảng ta không sử dụng khái niệm “làm chủ tập thể”, “chế độ làm chủ tập thể” từ đại hội này.

Đại hôi VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh việc phát huy vai trò làm chủ tập thể của nhân dân và chỉ rõ cần phải thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: Làm chủ thông qua đại diện là các cơ quan dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp của nhà nước. Đảng và Nhfa nước tiếp tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định và thực hiện các quyếtd định. Đại hội VIII đề ra mục tiêu của cách mạng là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Có nghĩa là, Đại hội VIII cũngchưa nhận thức đẩy đủ về vị trí, vai trò của dân chủ

Đại IX của Đảng (2001) đã tổng kết 15 năm đổi mới, rút ra bốn bài học chủ yếu, trong đó có bài học: đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo”. Đặc biệt Đại hội IX đã bổ sung nội dung “dân chủ” vào mục tiêu chung của cách mạng nước ta. Đây là một bước tiến về nhận thức “dân chủ”

Đại hội X của Đảng (2006) đã có bước phát triển mới nhận thức về dân chủ: 1) bổ sing “dân chủ” vào đặc trưng thức nhất của xã hội XHCN Việt Nam – đó là: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; 2) Điều chỉnh trong diễn đạt về đặc trưng thú hai- đó là: “ do nhân dân làm chủ”. Đây là bước tiến về mặt nhận thức khi khẳng định: “xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là do tất cả nhân dân làm chủ; 3) Đại hội X đã chỉ rõ: “ Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”; 4) Khẳng định: “dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhan dân.

Đại hội XI của Đảng (2011) đã thống qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011), Cương lĩnh đã xác định:  “xã hội XHCN mà nhân dân ta xay dựng là một xã hội: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ...”. Đổi mới của đại hội XI so với đại hội X là chuyển cụm từ “dân chủ” lên trước cụm từ “công bằng”. Đây không đơn thuần là chuyển vị trí, mà thực chất là nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn, chính sxác hơn vị trí, vai trò của dân chủ. Cương lĩnh (bổ sung phát triẻn năm 2011) khẳng định rõ: “Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vùa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện neèn dân chủ XHCN, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm...Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của nhà nước của cả heẹ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”

Nền dân chủ XHCN ở nước ta đã hình thành và phát triển qua các thời kỳ cách mạng. Qua mỗi kỳ đại hội của Đảng, dân chủ ngày càng được nhận thức, phát triển và hoàn thiện đúng dắn, phù hợp hơn với điều kiện cụ thể của nước ta.

Tại Đại hội XII (2016), vấn đề dân chủ đã được Đảng ta đưa vào chủ đề của đại hội. Đồng thời trở thành một mục độc lập trong phần XIII của Báo cáo chính trị với tiêu đề: “Phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm thực hieẹn quyền làm chủ của nhân dân” đồng thời bổ sung thành tố “hoàn thiện, phát huy dân chủ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân” trong mục tiêu, nhiệm vụ của đại hội. Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, đầy đủ của Đảng không chỉ về bản chất của nền dân chủ XHCN, mà còn về vai trò to lớn của dân chủ, vì không phát huy dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân sẽ không có CNXH

Với phương châm: Đoàn kết – dân chủ - kỷ cương – sáng tạo – phát triển, Đại hội XIII của Dảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả các quyền lực nhà nước thuộc veef nhaan daan. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt có hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”

 

Bản chất tư tưởng - văn hóa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa xây dựng và hoàn thiện lấy hệ tư tưởng Mác-Lênin (hệ tư tưởng của giai cấp công nhân) làm chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới. Đồng thời, nó kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống của các dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn hóa, văn minh, tiến bộ xã hội... mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc... Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân được làm chủ những giá trị văn hóa tinh thần; được nâng cao trình độ văn hóa, có điều kiện để phát triển cá nhân. Dưới góc độ này, dân chủ là một thành tựu văn hóa, một quá trình sáng tạo văn hóa, thể hiện khát vọng tự do được sáng tạo và phát triển của con người.

Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đòi sống tư tưởng - văn hóa rất phong phú, đa dạng, toàn diện và ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu, trở thành mục tiêu và động lực cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và nó khác với nền dân chủ tư sản về hệ tư tưởng chủ đạo (hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và hệ tư tưởng của giai cấp tư sản).

Từ những căn cứ trên có thể thấy, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời sau nền dân chủ tư sản, trên cơ sở kế thừa những giá trị của dân chủ tư sản, với mục đích đem lại quyền lực thực sự cho nhân dân, tạo điều kiện, cơ chế để người dân thực hiện được quyền và nghĩa vụ công dân đối với nhà nước và ngược lại, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phải là nền dân chủ tiến bộ nhất trong lịch sử các nền dân chủ. Nó khác căn bản với các nền dân chủ trước đó, về chính trị, quyền lực thuộc về đa số nhân dân, do đảng cộng sản (đảng của giai cấp công nhân, đồng thời đại diện lợi ích cho đa số nhân nhân) lãnh đạo thông qua nhà nước pháp quyền XHCN. Về kinh tế, nền dân chủ XHCN được xây dựng và thực hiện trên cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất (tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về nhân dân thông qua nhà nước) . Nhân dân là chủ trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và hưởng thụ công bằng các thành quả lao động. Về văn hóa – xã hội, nền dân chủ XHCN được xây dựng và thực hiện trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác- Lênin, giá trị truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Mọi cá nhân có quyền được tạo điều kiện để ccống hiến và phát triển toàn diện. 

Bản chất kinh tế nề dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xây dựng và hoàn thiện dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu, đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động.

Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất và nâng cao đòi sống của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trước hết, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu; quyền làm chủ trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối

Bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dù khác về bản chất kinh tế của các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công) nhưng cũng như toàn bộ nền kinh tế - xã hội chủ nghĩa, nó không hình thành từ “hư vô” theo mong muốn của bất kỳ ai. Nó là sự kế thừa và phát triển mọi thành tựu nhân loại đã tạo ra trong lịch sử, đồng thời lọc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực, kim hãm... của các chế độ kinh tế trước đó, nhất là bản chất tư hữu, áp bức bóc lột bất công đối với đa số nhân dân.

Dưới góc độ kinh tế, dân chủ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện là sự đảm bảo về lợi ích kinh tế, phải coi lợi ích kinh tế của người lao động là động lực cơ bản nhất có sức thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Lao động, việc làm và phân phối lợi ích tương ứng với kết quả lao động là nội dung kinh tế của dân chủ, đây cũng là nội dung mà quyền dân chủ được thể hiện một cách rộng rãi, trực tiếp. Do vậy, khác với nền dân chủ tư sản, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và thực hiện chế độ phân phổi lợi ích theo kết quả lao động là chủ yếu.

 

Bản chất chính trị nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ vô sản là đồng nghĩa (V.I.Lênin còn dùng thuật ngữ: dân chủ Xôviết, chuyên chính vô sản). Đây là nền dân chủ mà ở đó dân chủ với nghĩa toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Điều đó trở thành nguyên tắc, mục tiêu của sự phát triển xã hội, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, về bản chất, là sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó đôi với toàn xã hội, nhưng không phải chỉ đề thực hiện quyền lực và lợi ích riêng cho giai cấp công nhân, mà là để thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân. Nên dân chủ xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản lãnh đạo - yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, bởi vì, đảng cộng sản đại biểu cho trí tuệ, lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Với nghĩa này, dân chủ xã hội chủ nghĩa mang tính nhất nguyên về chính trị. Sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đảng cộng sản đối với toàn xã hội về mọi mặt được V.LLênin gọi là sự thống trị chính trị.

Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động là những người làm chủ các quan hệ chinh trị trong xã hội. Họ có quyền giới thiệu các đại biểu tham gia vào bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật, xây dựng bộ máy và cán bộ nhân viên nhà nước. Quyền được tham gia rộng rãi vào công việc quản lý nhà nước của nhân dân chính là nội dung dân chủ trên lĩnh vực chính trị.

Bàn về quyền làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực chính trị, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thì bao nhiêu quyền lực đều là của dân, bao nhiêu sức mạnh đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều là vì dân[1]... Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, do đó về thực chất là của nhân dân, do nhân dân và vi nhân dân. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, khác với các cuộc cách mạng trước đây là ở chỗ, nó là cuộc cách mạng của số đông, vì lợi ích của số đông nhân dân. Theo Hồ Chí Minh: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toán thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nưóc thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều cổ quyền đi bầu cử”[2] Quyền được tham gia rộng rãi vào công việc quản lý nhà nước chính là nội dung dân chủ trên lĩnh vực chính trị.

V.I.Lênin còn nhấn mạnh, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế đô dân chủ của đại đa số dân cư, của những người lao động bị bóc lột là chế độ mà nhân dân ngày càng tham gia nhiều vào công việc nhà nước. Với ý nghĩa đó, V.I.Lênin đã diễn đạt một cách khái quát về bản chất và mục tiêu của dân chủ xã hội chủ nghĩa: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần”[3].

Tóm lại, xét về bản chất chính trị, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi tính dân tộc sâu sắc. Do vậy, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa khác về chất so với nền dân chủ tư sản ở bản chất giai cấp (giai cấp công nhân và giai cấp tư sản); ở cơ chế nhất nguyêncơ chế đa nguyên một đảng hay nhiều đảng); ở bản chất nhà nước (nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản).

 



[1]   Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.6, tr.232.

[2]   Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr153.

[3] V.I.Lênín: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.37, tr.312.

QUÁN TRIỆT SÂU SẮC CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

 


- Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

- Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

- Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất.

- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

 

Cảnh sát biển Việt Nam nâng cao chất lượng phối hợp thực thi pháp luật trên biển.

 Nhằm tăng cường sức mạnh tổng hợp, giữ vững an ninh, trật tự, an toàn trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc, cùng với công tác khác, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam đã, đang tích cực triển khai công tác phối hợp với các lực lượng trong thực thi pháp luật trên biển với nhiều giải pháp đồng bộ.

Bám sát chức năng, nhiệm vụ được giao và sự chỉ đạo của Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, thời gian qua, lực lượng Cảnh sát biển đã tham mưu, phối hợp xây dựng đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với các lực lượng. Đáng chú ý là, để tạo hành lang pháp lý cho phát huy sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong thực thi pháp luật trên biển, lực lượng Cảnh sát biển đã tham mưu ban hành Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018, Nghị định số 61/2019/NĐ-CP, ngày 10/7/2019 của Chính phủ “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cảnh sát biển Việt Nam”; trong đó, quy định rõ hoạt động phối hợp của Cảnh sát biển với cơ quan, tổ chức, lực lượng chức năng thuộc các bộ, ngành, chính quyền địa phương. Trên cơ sở đó, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển đã ký quy chế, chương trình, kế hoạch phối hợp hoạt động với 03 đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng; 08 đầu mối thuộc các bộ, ngành và cơ quan ngang bộ. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị ký 75 quy chế, chương trình, kế hoạch phối hợp với đơn vị thuộc lực lượng Công an, Biên phòng, Hải quan, Quản lý thị trường,… của nhiều tỉnh, thành phố ven biển.

Hoạt động phối hợp, trao đổi thông tin với tỉnh Quảng Ninh

Năm năm gần đây, Cảnh sát biển Việt Nam đã phối hợp trao đổi với các lực lượng hơn 14.300 tin liên quan đến tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển; tham gia ý kiến vào hàng chục dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, lực lượng phối hợp chủ trì soạn thảo. Phối hợp hỗ trợ tập huấn, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ, pháp luật cho gần 2.000 lượt cán bộ, nhân viên; tổ chức hơn 1.230 buổi tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho hàng trăm nghìn lượt người dân. Các cơ quan, đơn vị Cảnh sát biển đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền các xã đảo, huyện đảo tổ chức hàng trăm buổi thông tin tình hình tội phạm, vi phạm và đề xuất, kiến nghị với địa phương nội dung, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển. Cùng với lực lượng Công an, Biên phòng, Hải quan phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh, xử lý gần 1.000 vụ án ma túy và hơn 100 vụ buôn lậu, gian lận thương mại trên biển với tổng giá trị hàng hóa thu giữ trị giá hàng trăm tỉ đồng.

Đặc biệt, thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, Cảnh sát biển Việt Nam đã tích cực trao đổi, đàm phán, ký kết nhiều bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác, nghị định thư, ý định thư với lực lượng thực thi pháp luật của các nước, nhất là các nước có chung đường biên giới, ranh giới trên biển, như: Trung Quốc, Indonesia, Campuchia, Philippines, Malaysia,… cùng nhiều hoạt động hợp tác hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực thực thi pháp luật, vị thế, uy tín của Cảnh sát biển Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Kết quả trên góp phần quan trọng tạo sức mạnh tổng hợp cả về lực lượng, thế trận và pháp lý; kịp thời ngăn chặn, trấn áp hoạt động của các loại tội phạm; xử lý đúng pháp luật, nhanh chóng, hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật trên biển; góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển các ngành kinh tế biển và hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, công tác phối hợp giữa Cảnh sát biển với các lực lượng cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập, nhất là nội dung phối hợp của một số đơn vị còn đơn giản. Nhận thức về vai trò công tác phối hợp của người đứng đầu một số bộ, ngành, địa phương có lúc, có nơi chưa toàn diện. Việc cụ thể hóa các quy định về công tác phối hợp của Nhà nước và vận dụng vào hoạt động thực tiễn chưa thường xuyên, linh hoạt, dẫn đến sự chồng chéo, bị động trong xử lý một số tình huống phức tạp trên biển, v.v.

Thời gian tới, dự báo hoạt động tội phạm, vi phạm pháp luật trên các vùng biển, đảo nước ta tiếp tục diễn biến phức tạp, nhất là ở vùng biển Đông Bắc, Tây Nam với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, manh động, nguy hiểm, khó phát hiện và khó xử lý hơn. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp giữa Cảnh sát biển với các lực lượng, bên cạnh việc thực hiện nghiêm các quy định về công tác phối hợp theo Luật Cảnh sát biển Việt Nam, Nghị định số 61/2019/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với công tác phối hợp, bảo đảm thường xuyên, liên tục, chặt chẽ, sáng tạo, hiệu quả. Đây là giải pháp quan trọng, nhân tố quyết định hiệu quả thực hiện quy chế, kế hoạch phối hợp và hoàn thành nhiệm vụ của từng lực lượng. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác phối hợp và các quy chế, kế hoạch phối hợp đã ký kết; ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện sát thực tế đơn vị, địa bàn. Để nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch, chỉ tiêu gắn với phân công trách nhiệm của từng cá nhân, nhất là vai trò người đứng đầu. Trong quá trình thực hiện, cần vận dụng sáng tạo các nguyên tắc, quy chế, quy định phù hợp với tình hình, đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị, vùng biển phụ trách, thực hiện tốt phương châm “phối hợp chặt chẽ, toàn diện, hiệu quả thiết thực”, phát huy sức mạnh của các lực lượng trong thực thi pháp luật trên biển. Duy trì nghiêm chế độ kiểm tra, báo cáo, kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra định kỳ với kiểm tra đột xuất, kiểm tra toàn diện với kiểm tra theo chuyên đề trong thực hiện quy chế, kế hoạch phối hợp; kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân điển hình có thành tích, sáng kiến, cách làm hay trong công tác phối hợp. Cùng với đó, thường xuyên làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá hoạt động thực tiễn, làm cơ sở tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ đạo hoạt động phối hợp tiếp theo đạt hiệu quả.

Cảnh sát biển Việt Nam tham gia Hội nghị những người đứng đầu Cảnh sát biển các nước châu Á lần thứ 17

Hai là, tập trung nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các lực lượng hoạt động trên biển, nhất là cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển trong thực hiện công tác phối hợp. Đây cũng là giải pháp rất quan trọng, nhằm xây dựng quyết tâm và tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong thực hiện nhiệm vụ nói chung, công tác phối hợp nói riêng của các lực lượng, trước hết là trong lực lượng Cảnh sát biển. Để cán bộ, chiến sĩ các lực lượng và nhân dân nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng, sự cần thiết phối hợp hoạt động, xây dựng động cơ, tinh thần trách nhiệm trong công tác phối hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong thực thi pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn trên biển, các cơ quan, đơn vị cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, ngành, lực lượng đối với công tác phối hợp trong tình hình mới. Nội dung tuyên truyền, giáo dục bảo đảm toàn diện, nhưng tập trung vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; quy chế pháp lý trên các vùng biển; chức năng, nhiệm vụ của từng lực lượng; đặc điểm, điều kiện phức tạp, khó khăn, nguy hiểm, khắc nghiệt khi hoạt động trên biển; phạm vi, tính chất đặc thù, nhiệm vụ đa dạng, nặng nề của Cảnh sát biển, v.v. Quá trình giáo dục, các cơ quan, đơn vị coi trọng đổi mới về nội dung, đa dạng về hình thức, phù hợp với từng đối tượng; lấy giáo dục thông qua rút kinh nghiệm từ thực tiễn phối hợp sau từng chuyên án, vụ việc trên biển làm chính, nâng cao nhận thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ, nhất là người đứng đầu; khắc phục triệt để tư tưởng xem nhẹ công tác phối hợp hoặc phối hợp mang tính hình thức.

Ba là, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp phối hợp với các lực lượng đi vào chiều sâu, thực chất. Trước tình hình vi phạm pháp luật trên biển ngày càng phức tạp và để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác này, đòi hỏi lực lượng Cảnh sát biển cần tích cực đổi mới toàn diện nội dung, hình thức, biện pháp phối hợp. Trước hết, cần kết hợp chặt chẽ giữa làm sâu sắc hơn mối quan hệ phối hợp đã có, kế thừa những kinh nghiệm phối hợp còn phù hợp với chủ động mở rộng mối quan hệ mới, phát triển, bổ sung các hình thức, biện pháp phối hợp hiệu quả hơn trong thực hiện nhiệm vụ theo ngành, lĩnh vực. Trong đó, cần tăng cường phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong đấu tranh các chuyên án, vụ án lớn; diễn tập, luyện tập xử lý các tình huống vi phạm phức tạp; tuần tra, kiểm tra, kiểm soát trên các tuyến, vùng biển trọng điểm; tổ chức hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân. Đồng thời, cần mở rộng phối hợp cả trong nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ trên biển, nghiên cứu điều tra tội phạm và trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, v.v.  Quá trình thực hiện, phải tuân thủ nguyên tắc, yêu cầu phối hợp; nâng cao khả năng dự báo tình huống để đưa ra chủ trương, đối sách, biện pháp phù hợp với đặc điểm, diễn biến thực tế trên biển và nhiệm vụ của các lực lượng. Bên cạnh đó, các đơn vị Cảnh sát biển tiếp tục phối hợp triển khai thiết thực, hiệu quả hơn nữa công tác dân vận, nhằm tăng cường đoàn kết, gắn bó với các lực lượng, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh trên biển vững mạnh, rộng khắp, làm nền tảng nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên biển, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Bốn là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế với lực lượng thực thi pháp luật của các nước trong khu vực và trên thế giới. Quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lực lượng Cảnh sát biển tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các tổ chức, lực lượng thực thi pháp luật trên biển của các nước trong khu vực và trên thế giới. Thường xuyên có hoạt động, sáng kiến đóng góp vào các diễn đàn song phương, đa phương, trở thành thành viên chủ động, tích cực của các tổ chức quốc tế mà Cảnh sát biển Việt Nam tham gia. Chú trọng quan hệ, hợp tác với lực lượng chấp pháp trên biển của các nước trong khu vực, các nước có quan hệ truyền thống, hữu nghị với Việt Nam; tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm chia sẻ thông tin chống cướp biển; tổ chức tuần tra chung với lực lượng chấp pháp các nước có vùng biển giáp ranh với Việt Nam; đưa tàu Cảnh sát biển thăm các nước và đón tàu của lực lượng chấp pháp các nước đến thăm, huấn luyện, trao đổi kinh nghiệm, giao lưu hữu nghị với Cảnh sát biển Việt Nam, v.v. Qua đó, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, góp phần nâng cao năng lực thực thi pháp luật, phòng, chống tội phạm, xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác trên biển.

Trong tình hình mới, công tác phối hợp của Cảnh sát biển với các lực lượng chức năng trên biển không chỉ là nhiệm vụ mà còn là yêu cầu, đòi hỏi tất yếu khách quan. Vì vậy, Cảnh sát biển Việt Nam tích cực triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn trên các vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa- nền dân chủ tiến bộ

 


Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc”[1] phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực nhà nước và tồ chức quyền lực đó thành nhà nước dân chủ vô sản. Theo hai ông, giai cấp công nhân giành được chính quyền là dấu mốc làm xuất hiện một nền dân chủ mới, khác về chất so với các nền dân chủ trước đó - dân chủ vô sản.

Công xã Pari năm 1871 là mầm mống đầu tiên của dân chủ xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin viết: “Công xã dường như đã thay bộ máy nhà nước bị đập tan, bằng một chế độ dân chủ “chỉ” hoàn bị hơn mà thôi... từ chỗ là dân chủ tư sản đã biến thành dân chủ vô sản, từ là nhà nước ( lực lượng đặc biệt đề trấn áp một giai cấp nhất định) nó biến thành một cái gì thực ra không phải là nhà nước hiểu theo nghĩa thật sự nữa”[2].

Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (1917) vĩ đại với sự xuất hiện nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - Nhà nước Xôviết, xây dựng nền dân chủ phục vụ lợi ích cho đa số người lao động - nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt đầu ra đời.

Như vậy, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ được xác lập sau khi giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của mình là đảng cộng sản giành được chính quyền, tiến hành cải tạo và xây dựng xã hội mới thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới các hình thức khác nhau.

Quá trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; có sự kế thừa một cách chọn lọc giá trị của các nền dân chủ trước đó, trước hết là nền dân chủ tư sản. Nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là nền dân chủ của thiểu số và cho thiểu số bóc lột, có đặc quyền đặc lợi và muốn dành thêm đặc quyền, đặc lợi; ngược lại, nó là nền dân chủ của đa số và vì đa số. Do đó, về nguyên tắc, nỏ bài trừ đặc quyền, đặc lợi và vì lợi ích của đa số nhân dân lao động, nó phải gạt bỏ những kẻ đặc quyền, đặc lợi ra khỏi vị trí quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Bản thân nền dân chủ này cũng phát triển từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Nhưng càng hoàn thiện bao nhiêu, nó càng tự tiêu vong bấy nhiêu. Thực chất của sự tiêu vong này theo V.I.Lênin, đó là tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi trên cơ sở không ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ thể quyền lực của nhân dân, tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản lý xã hội (xã hội tự quản). Quá trình đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt xã hội.. để đến lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ, tức là mất đi tính chính trị của nó.

Như vậy, quá trình tiêu vong của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với quá trình làm sâu, rộng hơn các thành quả dân chủ, đưa nó lên những trình độ phát triển mới, tiến dần tới dân chủ trọn vẹn, dân chủ hoàn toàn, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại từ “vương quốc tất yếu” sang “vương quốc tự do”. Đây là quá trình lâu dài, khi xã hội đã đạt trình độ phát triển rất cao, xã hội không còn sự phân chia giai cấp, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện, khi đó dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là một chế độ nhà nước cũng tiêu vong, không còn nữa.

Cũng cần lưu ý rằng, cho đến nay, sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chỉ trong một thời gian ngắn, ở một số nước có xuất phát điểm về kinh tế, xã hội rất thấp, lại thường xuyên bị kẻ thù tấn công, gây chiến tranh, do vậy, mức độ dân chủ đạt được ở những nước này hiện nay còn nhiều hạn chế ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngược lại, sự ra đời, phát triển của nền dân chủ tư sản có thời gian cả mấy trăm năm, lại ở hầu hết các nước phát triển (do điều kiện khách quan, chủ quan). Hơn nữa, trong thời gian qua, để tồn tại và thích nghi, chủ nghĩa tư bản đã có nhiều lần điều chỉnh về xã hội, trong đó quyền con người đã được quan tâm ở một mức độ nhất định (sự điều chỉnh này không ảnh hưởng nhiều đến lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản). Nền dân chủ tư sản có nhiều tiến bộ, song nó vẫn bị hạn chế bởi bản chất của chủ nghĩa tư bản.

Để có một chế độ dân chủ thực sự quyền lực thuộc về nhân dân, ngoài yếu tố giai cấp công nhân lãnh đạo (mặc dù là yếu tố quan trọng nhất), đòi hỏi cần nhiều yếu tố như trình độ dân trí, xã hội công dân, việc tạo dựng cơ chế pháp luật đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền làm chủ nhà nước và quyền tham gia vào các quyết sách của nhà nước, điều kiện vật chất để thực thi dân chủ.

 



[1]  C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.623-624.

[2]   V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.33, tr52.

SỰ RA ĐỜI NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Thắng lợi chính trị của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa khác đã đưa giai cấp công nhân và nhân dân lao động từ địa vị những người nô lệ bị bóc lột và áp bức lên địa vị những người chủ của xã hội. Chính quyền đã thuộc về tay giai cấp cồng nhân với tư cách là nhà nước kiểu mới, là bộ máy quản lý và điều hành mọi hoạt động của xã hội để thực hiện quyền làm chủ của những người lao động đã được giải phóng.

Việc thiết lập chính quyền nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, việc đảng cộng sản khẳng định trong thực tê vai trò lãnh đạo nhà nước và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa... là những tiền đề, nguyên tắc dẫn tới xác lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ mới về chất cao hơn so với nển đàn chủ tư sàn và các nền dân chủ trước đó. Theo V.I.Lênin: “Xôviết tựu trung là một hình thức và một kiều chế độ dân chủ vô cùng cao hơn, chính là do chỗ nó tập hợp được quần chủng công nông và lôi cuốn họ tham gia sinh hoạt chính trị, nên nó là cơ quan gần “nhân dân" nhất"[1]. Dân chủ xã hội chủ nghĩa xuất hiện trong thắng lợi cứa cách mạng chính trị giành chính quyền của giai cấp công nhân, gắn liền với sự ra đời của nhà nước kiểu mới - nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nền dân chủ này lại có một quá trình phát triển và hoàn thiện cùng với quá trình lịch sử lâu dài mà giai cấp cồng nhân, nhân dân lao động dựa trên nhà nước của mình để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xă hội chủ nghĩa là thực hiện quyền lực của nhân dân - tức là xây dựng nhà nước dân chủ thực sự, dân làm chủ nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền lợi cho đại đa sổ nhân dân.

Như vậy, với tư cách là một nhà nước, một chế độ chính trị thì trong lịch sử có ba chế độ (nền) dân chủ. Nền dân chủ chủ nô, gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ; nền dân chủ tư sản, gắn với chế độ tư bản chủ nghĩa; nền dân chù xã hội chủ nghĩa, gắn với chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, muốn biết một nhà nước dân chủ có thực sự dân chủ hay không còn phải xem trong nhà nước ấy dân là ai và bản chất của chế độ xã hội ấy như thế nào.

 



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.37, tr.383.

KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM LÀ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN NHẤT

 


 

Ngay từ khi mới ra đời, trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Leenin, Đảng ta đã xác định con đường của cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng vô sản; tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn. Trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn.  Đánh giá tổng thể về kết quả của 35 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta chỉ rõ: “Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhâp quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ XHCN được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên...; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao

Những thành tựu tiêu biểu đó là tiền đề quan trọng để cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội; là cơ sở, nền tảng vững chắc để củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ - nhân tố quan trọng để xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Đây cũng chính là minh chứng đầy sức thuyết phục ” khẳng định sự đúng đắn trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng khẳng định sự nhận thức và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, bác bỏ những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.