Chế độ dân chủ nhân dân được xác lập sau Cách mạng Tháng
Tám năm 1945. Đến năm 1976, tên nước được đổi thành Cộng hõa XHCNVN, nhưng
trong các văn kiện Đảng hầu như chưa sử dụng cụm từ “dân chủ XHCN”. Từ đại hội
IV, Đảng ta thường nêu quan diểm “xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN” gắn với
“nắm vững chuyên chính vô sản”, trên thực tế chưa coi dân chủ XHCN là mục tiêu
của công cuộc phát triển đất nước. Bản chất của dân chủ XHCN, mối quan hệ giữa
dân chủ XHCN và nhà nước pháp quyền XHCN, cũng chưa được xác định rõ ràng. Việc
xây dựng nền dân chủ XHCN, đặc biệt là thực hiện dân chủ trong thời kỳ quá độ
lên CNXH ở Việt Nam như thế nào cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, văn
hóa, dạo đức của xã hội Việt Nam, gắn với hoàn thiện hệ thống pháp luật, kỷ
cương cũng chưa dược đặt ra một cách cụ thể, thiết thực. Nhiều lĩnh vực liên
quan mật thiết đến dân chủ XHCN như dân sinh, dân trí, dân quyền... chưa được đặt
đúng vị trí và giải quyết đúng để thúc đẩy việc xây dựng nền dân chủ XHCN
Đại hội VI của Đảng (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn
diện, nhấn mạnh phát huy dan chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển
đất nước. Đại hội khẳng định “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán
triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân lao động”, “bài học cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” bao giờ cũng
quan trọng. Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng: ở đâu nhân dân lao động có ý
thức làm chủ và được làm chủ thật sự, thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng”.
Đại hội VI tiếp tục kế thừa khái niệm “làm chủ tập thể” của các dại hội IV, V
và khẳng định “Đảng ta coi làm chủ tập thể XHCN là bản chất của chế độ dân chủ
XHCN cần được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống”. Chúng ta xác dịnh mối
quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chut, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung
trong quản lý toàn bộ xã hội”
Đại hội VII của Đảng (1991) dã thống qua Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ XHCN (cương lĩnh năm 1991), trong đó đã rút ra
bài học lớn “ sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”.
Cương lĩnh năm 1991 đã pháp họa 6 đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây
dựng, trong đó đặc trưng đầu tiên là: Do nhân dân lao động làm chủ. Đặc biệt
Cương lĩnh năm 1991 đã khẳng định “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện
nề dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn lièn với công
bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do nhân
dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi với kỷ luật,
kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm”
Có thể khẳng định dại hội VII đã có bước tiến lớn trong nhận
thức về dân chủ. Đảng ta không sử dụng khái niệm “làm chủ tập thể”, “chế độ làm
chủ tập thể” từ đại hội này.
Đại hôi VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh việc phát huy vai
trò làm chủ tập thể của nhân dân và chỉ rõ cần phải thực hiện tốt các cơ chế
làm chủ của nhân dân: Làm chủ thông qua đại diện là các cơ quan dân cử và các
đoàn thể; làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng các quy ước,
hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp của nhà nước. Đảng và Nhfa nước tiếp
tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định
và thực hiện các quyếtd định. Đại hội VIII đề ra mục tiêu của cách mạng là “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Có nghĩa là, Đại hội VIII
cũngchưa nhận thức đẩy đủ về vị trí, vai trò của dân chủ
Đại IX của Đảng (2001) đã tổng kết 15 năm đổi mới, rút ra bốn
bài học chủ yếu, trong đó có bài học: đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích
của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo”. Đặc biệt Đại hội IX
đã bổ sung nội dung “dân chủ” vào mục tiêu chung của cách mạng nước ta. Đây là
một bước tiến về nhận thức “dân chủ”
Đại hội X của Đảng (2006) đã có bước phát triển mới nhận thức
về dân chủ: 1) bổ sing “dân chủ” vào đặc trưng thức nhất của xã hội XHCN Việt
Nam – đó là: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; 2) Điều chỉnh
trong diễn đạt về đặc trưng thú hai- đó là: “ do nhân dân làm chủ”. Đây là bước
tiến về mặt nhận thức khi khẳng định: “xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là
do tất cả nhân dân làm chủ; 3) Đại hội X đã chỉ rõ: “ Xây dựng và từng bước
hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”; 4) Khẳng định:
“dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực
hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối chính sách của Đảng và pháp luật
của nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhan dân.
Đại hội XI của Đảng (2011) đã thống qua Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong TKQĐ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011), Cương lĩnh đã xác định: “xã hội XHCN mà nhân dân ta xay dựng là một
xã hội: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ...”.
Đổi mới của đại hội XI so với đại hội X là chuyển cụm từ “dân chủ” lên trước cụm
từ “công bằng”. Đây không đơn thuần là chuyển vị trí, mà thực chất là nhận thức
rõ hơn, đầy đủ hơn, chính sxác hơn vị trí, vai trò của dân chủ. Cương lĩnh (bổ
sung phát triẻn năm 2011) khẳng định rõ: “Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ
ta, vừa là mục tiêu, vùa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng
bước hoàn thiện neèn dân chủ XHCN, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế
cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ
cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm...Nhân
dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của nhà nước của cả heẹ thống
chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”
Nền dân chủ XHCN ở nước ta đã hình thành và phát triển qua
các thời kỳ cách mạng. Qua mỗi kỳ đại hội của Đảng, dân chủ ngày càng được nhận
thức, phát triển và hoàn thiện đúng dắn, phù hợp hơn với điều kiện cụ thể của
nước ta.
Tại Đại hội XII (2016), vấn đề dân chủ đã được Đảng ta đưa
vào chủ đề của đại hội. Đồng thời trở thành một mục độc lập trong phần XIII của
Báo cáo chính trị với tiêu đề: “Phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm thực hieẹn quyền
làm chủ của nhân dân” đồng thời bổ sung thành tố “hoàn thiện, phát huy dân chủ
XHCN và quyền làm chủ của nhân dân” trong mục tiêu, nhiệm vụ của đại hội. Điều
này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, đầy đủ của Đảng không chỉ về bản chất của nền
dân chủ XHCN, mà còn về vai trò to lớn của dân chủ, vì không phát huy dân chủ,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân sẽ không có CNXH
Với phương châm: Đoàn kết – dân chủ - kỷ cương – sáng tạo –
phát triển, Đại hội XIII của Dảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện
thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm
tất cả các quyền lực nhà nước thuộc veef nhaan daan. Thực hiện đúng đắn, hiệu
quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện
tốt có hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ
hưởng”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét