Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

Gắn kết chặt chẽ và xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 TCCS - Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là di sản tư tưởng quý báu, luôn được Đảng ta thấm nhuần, vận dụng sáng tạo trong các thời kỳ cách mạng. Đặc biệt, tư tưởng của Người về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội là nội dung vừa thể hiện rõ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vừa là những nguyên tắc mang tính định hướng, “kim chỉ nam” để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, góp phần phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thực hành dân chủ trong Đảng

Thực hành dân chủ trong Đảng là tiến trình thực hiện những quy định, nguyên tắc… của Đảng nhằm bảo đảm quyền của đảng viên một cách thường xuyên, liên tục; trở thành chế độ, nền nếp trong mọi sinh hoạt và hoạt động của Đảng, hướng đến và bảo đảm sự tập trung, thống nhất, tạo sự đoàn kết, nhất trí, tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng.

Vì quan niệm dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ, cho nên dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất cũng là quyền làm chủ của mỗi đảng viên trong mọi hoạt động của Đảng, là sự bình đẳng của tất cả đảng viên trước Điều lệ, các nghị quyết và các quy định của Đảng. Nếu dân chủ là “của quý báu nhất của nhân dân” thì dân chủ trong Đảng cũng là “của quý báu nhất” của Đảng; thực hành dân chủ trong Đảng cũng là “cái chìa khóa vạn năng” giúp Đảng vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành sứ mệnh, nhiệm vụ chính trị vẻ vang. 


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở rộng thực hành dân chủ trong Đảng là điều cần thiết, bởi lẽ đảng viên của Đảng phải làm việc, lãnh đạo theo phong cách dân chủ, tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ thì mới xây dựng được nước ta là nước dân chủ, chế độ dân chủ, Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Theo đó, Đảng “phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải gom góp ý kiến của đảng viên để giúp đỡ Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt” (1). Ngược lại, sự mất dân chủ trong Đảng sẽ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết và làm nảy sinh các thói xấu, rất nguy hại như “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, “thậm thà thậm thụt”(2).

Người nhấn mạnh, Đảng ta phải được tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là, tất cả mọi công việc của Đảng đều được toàn thể các đảng viên tham gia, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời, tất cả những người có trách nhiệm trong Đảng, tất cả các ban lãnh đạo và các cơ quan của Đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn nếu không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề mấu chốt của thực hành dân chủ trong Đảng chính là phải thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, còn được gọi là “dân chủ tập trung”. Dân chủ tập trung không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, mà còn là chế độ lãnh đạo của đảng cầm quyền. “Tập thể lãnh đạo là dân chủ”, “cá nhân phụ trách là tập trung” và “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”. Khẳng định vai trò quan trọng của nguyên tắc dân chủ tập trung đối với thực hành dân chủ trong Đảng, Người chỉ rõ: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.

Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc.

Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau” (3). Như vậy, trong điều kiện một đảng cầm quyền thì tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách vừa là nguyên tắc lãnh đạo, vừa là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Đồng thời, sức mạnh của Đảng được tạo dựng bởi đội ngũ cán bộ, nên muốn mở rộng dân chủ trong Đảng thì công tác cán bộ phải thực sự dân chủ, công tâm, minh bạch. 

Người nhấn mạnh, thực hành dân chủ là cơ sở để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Thực hành dân chủ trong Đảng, từ Trung ương đến cơ sở, là nền tảng vững chắc để xây dựng một Đảng đoàn kết, thống nhất, trở thành hạt nhân, động lực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính vì vậy, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn và yêu cầu “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”. 

Thấm nhuần những lời căn dặn của Người, Đảng ta chủ trương tăng cường thực hiện dân chủ trong mọi sinh hoạt của Đảng, coi đây là cơ sở quan trọng để tạo dựng và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo nên sức mạnh của Đảng. Đảng chủ trương nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy và chi bộ; tạo điều kiện để mọi đảng viên, dù ở cương vị nào cũng được bình đẳng thực hiện quyền và trách nhiệm của mình, được tham gia quyết định công việc của Đảng, được chất vấn, tự phê bình và phê bình trong phạm vi tổ chức về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp; trong đó, có quyền được thông tin, thảo luận, nêu ý kiến riêng, được bảo lưu ý kiến và trình bày ý kiến trong tổ chức đảng.

Thực hành dân chủ trong xã hội

Thực hành dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính là để dân thực sự là chủ và làm chủ xã hội, để dân chủ được phát huy đến cao độ, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện trên thực tế và đi vào thực chất; qua đó, xây dựng chế độ ta thực sự là một chế độ dân chủ và tạo ra “cái chìa khóa vạn năng” để Đảng ta cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thành công (4). Thực hành dân chủ chính là quá trình huy động, thu hút sự tham gia và phát huy được tối đa quyền hạn, lực lượng của toàn dân để thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng vì lợi ích của nhân dân, phát triển đất nước. Do đó, “phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia thì mới chắc chắn thành công. Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng” (5).

Người chỉ rõ, thực hành dân chủ trong xã hội phải hướng đến mục tiêu làm cho dân “ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do”; công bằng và bình đẳng trước pháp luật và trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dân chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là mục tiêu để xây dựng chế độ mới, vì lợi ích của nhân dân. Người quan tâm tới nội dung toàn diện của dân chủ, trong đó có thực hành dân chủ trong xã hội. Mục tiêu dân chủ được thể hiện trước hết ở dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong chính trị; cùng với đó, còn là dân chủ trong văn hóa, trong phát triển xã hội và quản lý xã hội, hướng trực tiếp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội cấp thiết, tổ chức thực hiện chính sách xã hội và an sinh xã hội cho con người, vì con người. Không chỉ thế, theo Người, thực hành dân chủ còn là phải bảo đảm dân chủ trong đời sống tinh thần của xã hội, nghĩa là phải tạo điều kiện, cơ hội để mọi người dân dám nghĩ, dám nói lên những suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của mình; đồng thời, phải bảo đảm cho họ có được tự do về tư tưởng, thực hiện dân chủ trong sáng tạo văn hóa và thụ hưởng những thành quả văn hóa.

Bởi quan niệm dân chủ là mục tiêu, nên ngay khi chính thể dân chủ vừa mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, có mặc, có nhà ở, được học hành, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do mà họ xứng đáng được hưởng với tư cách người chủ. Người còn nói rõ, dân chỉ biết tới giá trị của tự do, dân chủ khi dân được ăn no, mặc ấm. Nước nhà tranh đấu được độc lập, tự do mà “dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”, chẳng để làm gì. Chính vì vậy, Người yêu cầu Đảng và Chính phủ cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần sâu sắc phương châm “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.

Thực hành dân chủ trong xã hội là biện pháp, chính sách hữu hiệu nhằm thực hiện mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ phải nâng cao đời sống của nhân dân; cán bộ của Đảng và chính quyền các cấp từ trên xuống dưới đều phải hết sức quan tâm đến mọi mặt đời sống của nhân dân. Người thường xuyên nhấn mạnh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng môi trường dân chủ, tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Đồng thời, thực hành dân chủ còn có vai trò, tác dụng giải phóng tiềm năng sáng tạo của nhân dân và trở thành động lực của quá trình xây dựng một xã hội tiến bộ và phát triển, văn minh. Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết: “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên” (6) và thực hành dân chủ chính là “cái chìa khóa vạn năng” có thể giải quyết mọi khó khăn, tạo động lực để phát triển đất nước.



Mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Nội dung, thực trạng và định hướng
Những nội dung, phương diện cơ bản

Thứ nhất, thực hành dân chủ trong Đảng là “hạt nhân”, tạo động lực, điều kiện và nêu gương để thực hiện, phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội; đồng thời, thực hành dân chủ trong xã hội là điều kiện cần thiết để củng cố, tạo môi trường, xung lực cho thực hành dân chủ trong Đảng.

Thực hành dân chủ trong Đảng và phát huy dân chủ trong xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua, luôn bổ sung và hoàn thiện lẫn nhau. Đó là hai mặt của một chỉnh thể. Tuy nhiên, chỉ có tăng cường thực hành dân chủ trong Đảng rộng rãi, thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương thì mới có thể tiến hành mở rộng và phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội, vì Đảng ta giữ vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và toàn xã hội. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên ở bất cứ địa vị nào cũng phải làm gương thực hành dân chủ trong công tác, để tạo điều kiện cho mỗi người và quần chúng nhân dân nhiệt thành phát huy sáng kiến, nâng cao hiệu quả công việc. 

Quan điểm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh là, có bảo đảm và phát huy dân chủ ở trong Đảng thì mới bảo đảm được dân chủ của toàn xã hội. Quyền lãnh đạo của Đảng được xuất phát từ sự ủy quyền của giai cấp công nhân, của dân tộc và của nhân dân; Đảng trở thành hạt nhân chính trị của toàn xã hội, là nhân tố tiên quyết để bảo đảm tính chất dân chủ của xã hội. Thực hành dân chủ trong Đảng trở thành yếu tố quyết định, tạo động lực cho thực hành dân chủ đầy đủ trong toàn xã hội. Người chủ trương xây dựng các tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân vững mạnh để bảo đảm dân chủ và thực hành dân chủ có hiệu quả, thực chất trong xã hội. Kế thừa và phát triển những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội” (7).

Thực tế cho thấy, khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, luôn xuất hiện các nguy cơ thoái hóa, biến chất, sa vào chủ nghĩa cá nhân… của một bộ phận cán bộ, đảng viên và điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý, trù liệu từ rất sớm. Do vậy, trước tiên, Đảng cần phải kiên quyết chống mọi biểu hiện, hành vi vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng dưới mọi hình thức, như dân chủ hình thức, độc đoán, chuyên quyền, lợi dụng, lạm dụng chức quyền, bất chấp các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước để trục lợi cá nhân, hoặc chỉ phục vụ cho “lợi ích nhóm” tiêu cực.

Dân chủ trong Đảng là tấm gương phản chiếu dân chủ trong xã hội; vì vậy, nếu dân chủ trong xã hội chỉ là hình thức, chiếu lệ hay sự mất dân chủ diễn ra tràn lan thì khó có thể nói đến dân chủ thực sự trong Đảng. Bởi lẽ, thực hành dân chủ rộng rãi trong xã hội sẽ tạo môi trường, điều kiện thuận lợi, “bầu không khí” cần thiết và là sự thôi thúc cho thực hành dân chủ trong ĐảngVà rõ ràng, chỉ trên nền tảng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thì dân chủ trong nội bộ Đảng mới càng có thêm sinh lực, sức sống, phản ánh được thực tiễn xã hội phong phú; tập trung, phát huy được trí tuệ của toàn dân tộc và nhờ đó mà Đảng ngày càng được củng cố, vững mạnh hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong bối cảnh mới, để “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thực hành dân chủ rộng rãi trong xã hội còn góp phần tạo dựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tạo điều kiện tiên quyết để nhân dân có thể tiến cử những người có đủ đức, đủ tài, có tâm huyết, trách nhiệm với đất nước, không bỏ sót nhân tài, kể cả nhân tài ngoài Đảng. Chỉ có dựa vào nhân dân, gắn với quá trình dân chủ hóa xã hội thực sự, thì mới có điều kiện phát hiện, thu hút, tuyển dụng, sử dụng và trọng dụng được nhân tài trong xã hội cho Đảng, góp phần vào thực hiện có hiệu quả, dân chủ, công khai, minh bạch, công tâm công tác cán bộ của Đảng - “nhiệm vụ then chốt của then chốt” trong công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng.

Thực hành dân chủ trong xã hội vừa là “chìa khóa” để giải quyết được những khó khăn, thách thức ngày càng nhiều hơn trước, vừa góp phần thúc đẩy tính tích cực, chủ động của nhân dân; khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu” (8).

Thứ hai, thực hành dân chủ trong Đảng là cơ sở để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự đồng thuận xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ cách mạng.

Chính vì nhận thức rõ vai trò, sức mạnh to lớn của dân chủ nói chung mà trong tư tưởng Hồ Chí Minh có sự gắn bó chặt chẽ giữa dân với dân chủ, dân chủ với dân vận và công tác dân vận, dân chủ với đại đoàn kết toàn dân tộc để tạo nên sức mạnh to lớn nhằm thực hiện và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Do đó, theo Người, phải đẩy mạnh thực hành dân chủ, vì có dân chủ mới có đồng thuận xã hội; dân chủ và đoàn kết phải đi liền với nhau thì mới tạo ra sự đồng thuận xã hội - tiền đề để phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công. Đặc biệt, Người nhấn mạnh: “Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo… Muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”(9). Tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn vẹn nguyên giá trị thời sự. Kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng, chỉ có thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng thì mới tạo nền tảng vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc củng cố và phát triển, tăng cường sự đồng thuận xã hội và sự ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, chế độ và nhờ đó, cách mạng Việt Nam mới vượt qua được muôn vàn khó khăn, thách thức; đạt được nhiều thành tựu to lớn, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, cả trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước hiện nay.

Thứ ba, thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội đều tạo sinh lực cho sự ra đời những sáng kiến, tinh thần hăng hái đổi mới, sáng tạo, khắc phục tư duy bảo thủ, giáo điều, sự trì trệ cả trong Đảng và trong xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, “dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo” (10). Rõ ràng, chỉ khi phát huy và thực hành được dân chủ rộng rãi thì đảng viên, quần chúng nhân dân mới đề xuất được nhiều sáng kiến, hăng hái trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Nhận thấy rõ đoàn kết, sáng kiến và sự nhiệt huyết của cán bộ cũng như của nhân dân chính là kết quả của dân chủ, nên Người yêu cầu “phải thật sự thi hành dân chủ trong Đảng và trong quần chúng”. Theo Người, một khi có dân chủ thực sự thì mỗi người dân sẽ dám nói, dám nghĩ, dám làm, dám đề xuất những sáng kiến tâm huyết của mình; đồng thời, người cán bộ, đảng viên mới có gan dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Có dân chủ thì sẽ khắc phục được thói áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tránh được tư duy bảo thù, trì trệ và mọi người có được quyền tự do tư tưởng, tự do thảo luận và khi ấy, tự do tranh luận, thảo luận lại chính là quyền tự do phục tùng chân lý. Do vậy, Người nhấn mạnh, điểm cốt lõi về thực hành dân chủ ở đây còn là và chính là “làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm” (11).


Các đại biểu biểu quyết thông qua các chỉ tiêu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh Kon Tum lần thứ II, nhiệm kỳ 2020 - 2025_Nguồn: baokontum.com.vn

Thực trạng mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội thời gian qua

Những kết quả, thành tựu đạt được cần tiếp tục kế thừa, phát huy

Trong hơn 92 năm qua, dù phải đối diện nhiều khó khăn, thử thách, nhưng với bản lĩnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn coi trọng và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đây là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ chức chặt chẽ, thống nhất, vừa phát huy dân chủ, tôn trọng đóng góp của mỗi cá nhân, vừa phát huy sức mạnh của tập thể, duy trì sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng, nỗ lực thực hiện sứ mệnh, nhiệm vụ chính trị được nhân dân tin tưởng giao phó. Kế thừa và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ, Đảng ta tập trung nâng cao nhận thức, mở rộng thực hành dân chủ và đã đạt được những kết quả tích cực. Sự ra đời của Quy chế chất vấn trong Đảng và việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng đã làm gia tăng tính dân chủ trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn. Đồng thời, công tác cán bộ cũng đã được chú trọng hơn, với yêu cầu phải tiến hành theo những quy trình, quy định, các bước chặt chẽ, công khai, dân chủ, minh bạch; đặc biệt, công tác bầu cử với những quy định mới bước đầu tạo ra sự công bằng về cơ hội, tạo niềm tin, động lực phấn đấu cho chính đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Cùng với đó, việc thực hành dân chủ nói chung, Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở nói riêng đã góp phần phát huy được vai trò, tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân trong tham gia bàn thảo, góp ý vào những quyết định, chính sách phát triển của địa phương, đất nước. Đặc biệt, nhân dân đã tích cực góp ý xây dựng Đảng, chính quyền, tham gia giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư. Dân chủ trong Đảng được tăng cường, dân chủ trong xã hội được mở rộng hơn, tạo ra sự tương tác tích cực, thúc đẩy lẫn nhau. Những kết quả đáng ghi nhận trong thực hành dân chủ đó đã giúp tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát triển, do nhân dân cùng với Đảng, chính quyền bàn bạc, tìm cách giải quyết có hiệu quả, như vấn đề bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư khi triển khai thu hồi đất để thực hiện các công trình, dự án của Nhà nước; vệ sinh môi trường, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh… Bầu không khí dân chủ khởi sắc đã tạo khí thế phấn khởi, khích lệ các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực, góp phần đưa đất nước ta vượt qua khó khăn, thách thức, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; bảo đảm quốc phòng, an ninh; góp ý xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tạo sự nhất trí trong Đảng, đồng thuận trong xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế.

Những hạn chế, yếu kém cần nhận diện rõ và nhanh chóng khắc phục

Thực tế cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn tồn tại những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm kéo dài, ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình xử lý, hài hòa hóa mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội. Thực hành dân chủ trong Đảng và trong Nhà nước chưa đạt hiệu quả như mong muốn, đã ảnh hưởng tới quy mô, chất lượng thực hành dân chủ trong xã hội; thậm chí, có lúc, có nơi còn gây cản trở quá trình dân chủ hóa trong xã hội. Một mặt, có khá nhiều chủ trương của Đảng về thực hành dân chủ trong xã hội chưa được thể chế hóa kịp thời và khi thực hiện thì còn nhiều hạn chế, yếu kém, đã dẫn tới việc quyền làm chủ của nhân dân chưa được phát huy đầy đủ. Mặt khác, cơ chế bảo đảm để nhân dân thực hiện vai trò chủ thể của quyền lực chưa được hoàn thiện, quyền lực của các cơ quan nhà nước vẫn rất lớn và một số công chức nhà nước đã lợi dụng quyền lực được giao để gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân, trục lợi cá nhân, hướng lái chính sách để phục vụ cho “lợi ích nhóm”, doanh nghiệp “sân sau”, “thân hữu”, gây bức xúc dư luận.

Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật của Đảng có lúc, có nơi chưa nghiêm, còn có biểu hiện “nhẹ trên, nặng dưới” hoặc “trên nóng, dưới lạnh”. Công tác quản lý cán bộ, đảng viên có mặt còn thiếu chặt chẽ; nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế thực sự hữu hiệu để bảo vệ người dám đấu tranh, phê bình. Một bộ phận cán bộ, đảng viên còn chưa quan tâm, nhận thức khá hời hợt, phiến diện về dân chủ và thực hành dân chủ; thường rơi vào hai thái cực: Hoặc cho rằng dân chủ là quyền muốn làm gì, phát ngôn thế nào cũng được, không tuân thủ các quy định, kỷ luật của Đảng hoặc thờ ơ, coi thực hành dân chủ chỉ là nhiệm vụ của lãnh đạo cơ quan, đơn vị, không liên quan đến mình. Nhiều cán bộ, đảng viên chưa nhận thấy dân chủ là quyền lợi thiết thân, còn có biểu hiện “dĩ hòa vi quý”, né tránh, không dám đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình khi gặp phải những vi phạm, mất dân chủ. Ở một số nơi, người đứng đầu thường có tâm lý coi nhẹ, phó mặc cho cấp dưới trong thực hiện phát huy dân chủ tại địa phương, cơ quan, đơn vị, không sâu sát, thiếu tâm huyết với nhiệm vụ quan trọng này. Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ, một trong những hạn chế của thực hành dân chủ là do vấn đề dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa được quan tâm phát huy đầy đủ, quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm; vẫn còn biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật. Khi dân chủ không được thực hành rộng rãi trong Đảng, còn biểu hiện độc đoán, chuyên quyền… tất yếu sẽ dẫn đến việc coi nhẹ, thậm chí vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và hệ lụy là, dân chủ trong xã hội cũng bị kìm hãm, hạn chế. Bên cạnh đó, trong xã hội vẫn còn tình trạng một bộ phận người dân lợi dụng “dân chủ” để đưa ra những đòi hỏi không chính đáng, không đúng pháp luật… với các cơ quan công quyền, có thái độ coi thường kỷ cương, phép nước, thậm chí bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia biểu tình, gây rối, tụ tập đông người, làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật.

Những định hướng chủ yếu

Một là, thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội đều phải hướng tới vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, là cơ sở để hình thành những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, tổ chức quản lý, điều hành xã hội để hiện thực đường lối chính trị của Đảng, hành động vì quyền lợi của nhân dân, điều gì có lợi cho dân phải cố gắng làm, điều gì có hại cho dân phải hết sức tránh, chăm lo phát triển, bồi dưỡng và tiết kiệm sức dân, như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Đây là điểm chung, thống nhất đối với cả thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội, là luận điểm quan trọng, xuyên suốt của Đảng trong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; bởi lẽ, không có dân chủ thì chắc chắn là sẽ không có chủ nghĩa xã hội. 

Thấm nhuần và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, nền dân chủ ở nước ta vừa mang bản chất tiến bộ của dân chủ xã hội chủ nghĩa, vừa kế thừa những giá trị mang tính phổ quát của nhân loại trong lịch sử, đồng thời không ngừng gia tăng thêm những giá trị mới; qua đó, dân chủ trở thành giá trị phổ biến của xã hội, thâm nhập vào mọi quan hệ chính trị - xã hội, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra ngày càng nhiều hơn, đầy đủ hơn những điều kiện cho sự giải phóng mọi năng lực, tiềm năng sáng tạo vô tận của con người. Chính vì nhận thức được ngày càng sâu sắc vai trò đó của dân chủ, nhất là trong mối quan hệ biện chứng với công bằng, nên Đảng ta đã xác định và đưa dân chủ trở thành một trong những thành tố quan trọng, mang giá trị cốt lõi trong hệ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hai là, gắn quá trình tăng cường thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội với công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ vai trò của Nhà nước và cả hệ thống chính trị, đặc biệt là thúc đẩy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mỗi công dân trong thực hành dân chủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của Nhà nước trong thực hành dân chủ: “Để thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng, Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội” (12). Điều kiện có tính quyết định nhất để xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là Đảng phải lãnh đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân, phấn đấu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dân chủ trong Đảng quyết định dân chủ trong tổ chức hoạt động của Nhà nước, gắn liền với quá trình thực hành dân chủ trong xã hội. Bởi lẽ, trong các cơ quan nhà nước có tổ chức đảng thì cán bộ chủ chốt đều là đảng viên. Do vậy, Đảng phải thông qua bộ máy nhà nước, lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa các chủ trương, đường lối thành các chính sách, quy định, pháp luật; tăng cường quản lý, giám sát đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(13). Điều 28 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: 1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; 2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.

Ba là, thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội đều phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; giữ nghiêm kỷ luật Đảng và bảo đảm kỷ cương xã hội.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “dân chủ” luôn phải gắn với “kỷ cương”, thực hành dân chủ trong Đảng phải đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong mọi hoạt động của Đảng; vì vậy, Người cũng thẳng thắn chỉ rõ “căn bệnh” dân chủ tùy tiện, dân chủ quá trớn, dẫn tới coi thường kỷ luật đảng ở một số cán bộ, đảng viên: “Ở trong Đảng thì không thực hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo. Phớt lờ kỷ luật và chính sách của Đảng và của Chính phủ. Khinh rẻ ý kiến của cấp dưới. Xem thường chỉ thị của cấp trên. Không muốn chịu kiểm tra, không muốn nghe phê bình” (14). Kế thừa tư tưởng này, Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh và yêu cầu thực hành dân chủ trong Đảng phải “gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, một xã hội không thể ổn định và phát triển nếu thiếu pháp luật và sự tuân thủ pháp luật của công dân; theo đó, thực hành dân chủ trong xã hội cũng không thể tách rời với quá trình tăng cường kỷ cương xã hội. Theo Người, xã hội dân chủ là một xã hội có trật tự, kỷ cương, bảo đảm cho mọi người cùng có quyền tự do, dân chủ như nhau. Do đó, thời gian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để phát huy dân chủ và thực hành dân chủ gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội; yêu cầu “xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân” (15). Qua tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận 35 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là mối quan hệ lớn thứ mười trong các mối quan hệ lớn, cần được chú trọng nắm vững và xử lý tốt trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 và các giai đoạn tiếp theo.

Bốn là, gắn kết chặt chẽ, xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội là nhằm hướng tới, tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để phát triển đất nước trong điều kiện mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, nước ta là một nước dân chủ và đó là nền dân chủ mới, cần có quá trình phát triển, hoàn thiện lâu dài để đi lên chủ nghĩa xã hội. Kế thừa và kiên định vận dụng sáng tạo những luận điểm cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ trong điều kiện mới; nhận thức rõ vai trò của dân chủ xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh thực hành dân chủ, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tiễn cuộc sống ở mỗi cấp và tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm.

Đảng ta không chỉ xác định vai trò, vị thế chủ thể mọi quyền lực nhà nước của nhân dân, mà còn khẳng định bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là phải làm cho nhân dân được hưởng quyền làm chủ, có đủ năng lực làm chủ trên thực tế và khi đó, dân chủ trở thành động lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước nhanh, bền vững. Theo đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm phải thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Trước tình hình thế giới và trong nước biến động nhanh và khó lường như hiện nay, việc kiên định vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, kết hợp chặt chẽ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội, phát huy mạnh mẽ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ tạo ra động lực to lớn thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu đưa nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo động lực phát triển đất nước nhanh và bền vững trong thời gian tới

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc nâng cao nhận thức, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ; chú trọng xử lý hài hòa mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội.

Nâng cao nhận thức, chú trọng xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu, có tính quyết định đối với thành công của việc đẩy mạnh thực hành dân chủ rộng rãi và thực chất trong Đảng và trong xã hội. Những quan điểm, luận điểm cốt lõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội cần được Đảng ta kiên định vận dụng sáng tạo trong giai đoạn mới. Muốn vậy, yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra là phải tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội, tạo cơ sở lý luận, khoa học vững chắc để nâng cao, thống nhất nhận thức và từ đó, có căn cứ tổ chức triển khai, xử lý hài hòa mối quan hệ này trong bối cảnh mới.

Thứ hai, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng, giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội; đồng thời, gia tăng đối thoại để mở rộng dân chủ.

Cần ra sức học tập, nắm vững nội dung cốt lõi tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ để vận dụng sáng tạo trong thực tiễn, tạo nên sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp và động lực phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới. Trước hết, Đảng phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức của đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng, vị trí, vai trò, ý nghĩa của mối quan hệ giữa dân chủ trong Đảng và xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình thực hành dân chủ, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xã hội ngày càng văn minh.

Thực tế cũng cho thấy rằng, dân chủ luôn đi đôi với đối thoại, đặc biệt là đối thoại về những vấn đề được đảng viên, dư luận quan tâm, còn những ý kiến khác nhau. Theo đó, cần mở rộng các hình thức dân chủ, nhất là tăng cường đối thoại (cả trong Đảng và trong xã hội) để đi đến thống nhất, tạo sự đồng thuận trong nhận thức và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, trong điều kiện Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền thì đối thoại cởi mở và thực hành dân chủ rộng rãi luôn là phương thức, chiến lược quan trọng để có thể tận dụng, phát huy được trí tuệ của toàn Đảng và toàn thể nhân dân.

Thứ ba, nâng cao năng lực, hoàn thiện cơ chế thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong thực hành dân chủ, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội.

Muốn phát huy, mở rộng và thực hành dân chủ trong Đảng có hiệu quả và thực chất thì yêu cầu đặt ra cấp thiết hiện nay là, cần không ngừng tập trung nâng cao nhận thức, năng lực thực thi, củng cố, hoàn thiện cơ chế thực hành dân chủ trong Đảng để dân chủ “thấm sâu” và được thực hiện trong mọi hoạt động của Đảng, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, cấp ủy và tổ chức đảng các cấp. Tiếp tục phát huy trách nhiệm nêu gương của các cấp ủy, người đứng đầu, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược về thực hành dân chủ trong Đảng và tại địa phương, cơ quan, đơn vị để nhân dân tin tưởng; tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội.

Trên cơ sở các quy định được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành thời gian qua, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội quán triệt, cụ thể hóa, xây dựng thành các quy định cụ thể về nêu gương thực hành dân chủ sao cho sát hợp với chức năng, chức trách, nhiệm vụ của từng tổ chức, lực lượng và mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị công tác; qua đó, tạo thành phong trào thực hành dân chủ sâu rộng, hiệu quả, thiết thực, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả trong toàn hệ thống chính trị, đi đôi với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Giữ vững các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và đề cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nghiêm túc thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo việc đổi mớí, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng cấp, từng ngành, từng địa phương; xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu. Ở đây, cần chú ý “đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Chính phủ, chính quyền các địa phương… với các cơ quan, đơn vị của Đảng, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, hệ thống các cơ quan tư pháp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm cả hệ thống tổ chức bộ máy luôn luôn vận hành một cách đồng bộ, thống nhất” (16).

Thứ năm, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội; nhanh chóng nhận diện và giải quyết kịp thời những rào cản, “điểm nghẽn” nảy sinh để có thể xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ này trong thực tế.

Thời gian qua, tuy dân chủ trong Đảng và trong xã hội đã được mở rộng, quá trình thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đáng ghi nhận; nhưng có lúc, có nơi vẫn còn tình trạng một số cán bộ, đảng viên, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị và người dân chưa nhận thức và thực hành dân chủ đầy đủ, làm cho mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội chưa gắn kết và được xử lý hài hòa. Do vậy, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải tiến hành khảo sát kỹ lưỡng, tổng kết thực tiễn thực hành dân chủ, thường xuyên tìm tòi, phát hiện và đúc kết, hoàn thiện các hình thức thực hiện dân chủ, kể cả dân chủ đại diện lẫn dân chủ trực tiếp. Nhanh chóng nhận diện những rào cản, nguy cơ… gây cản trở hoặc có tác động tiêu cực tới mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội; đặc biệt là, tập trung khắc phục tình trạng một số đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý buông lỏng nguyên tắc tập trung dân chủ, có biểu hiện độc đoán, chuyên quyền, lộng quyền, gây bức xúc dư luận xã hội và nhân dân; đề cao cảnh giác trước các hành vi lợi dụng dân chủ, dân chủ quá trớn, dân chủ cực đoan, “bất tuân dân sự” đe dọa đến trật tự, kỷ cương, pháp luật, gây bất ổn đến trật tự, an ninh, an toàn xã hội.

Thứ sáu, phát huy vai trò chủ thể, tinh thần tích cực, chủ động của nhân dân tham gia góp ý xây dựng, kiểm tra, giám sát quá trình dân chủ hóa trong Đảng và hệ thống chính trị; tăng cường vai trò của báo chí, truyền thông đối với quá trình thực hành dân chủ trong Đảng và xã hội. 

Hoàn thiện cơ chế để bảo đảm quyền tham gia ý kiến trực tiếp của người dân trong hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật; quyền giám sát trực tiếp của cộng đồng tại cơ sở đối với những vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân, theo đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”; thực hiện có hiệu quả Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong phản biện và giám sát xã hội, trong đó có phản biện và giám sát quá trình thực hành dân chủ trong Đảng và xã hội. Báo chí cần thực hiện nhiệm vụ là kênh thông tin hữu ích giúp Đảng, Chính phủ lãnh đạo, điều hành và quản lý tốt hơn các lĩnh vực trong đời sống xã hội, nhất là lên án, đấu tranh chống lại các biểu hiện vi phạm dân chủ, những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân, góp phần tăng cường hiệu quả thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội.

Thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội bằng và thông qua việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ ở các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị… để tăng cường vị thế, vai trò chủ thể xã hội của nhân dân, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, thực hành dân chủ trong Đảng. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới đồng bộ, toàn diện ở nước ta hiện nay, “dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân” (17)./.

Mọi hành vi hoạt động lợi dụng tôn giáo chống phá chế độ, sự thống nhất độc lập chủ quyền của Tổ quốc, quyền và lợi ích của nhân dân đều phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật

         Mọi hành vi lợi dụng tôn giáo làm mất an ninh trật tự xã hội, gây tổn hại đến các giá trị đạo đức, lối sống, văn hóa dân tộc, ngăn cản chức sắc, tín đồ tôn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; những hành vi, hành động lợi dụng tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; xâm phạm đến độc lập, chủ quyền của Tổ quốc đều phải xử lý theo pháp luật.

Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh: “thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”[1]. Như vậy, không chỉ “kiên quyết đấu tranh”, mà còn “nghiêm trị” mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch.

Bên cạnh đó, cần phải “Chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh thông tin truyền thông, an ninh mạng và an ninh xã hội. Xử lý hài hòa các vấn đề dân tộc, tôn giáo, bức xúc xã hội, không để xảy ra các “điểm nóng”[2]. Những vấn đề dân tộc, tôn giáo không được giải quyết kịp thời, thỏa đáng, dứt điểm, bùng phát “điểm nóng” chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến mất ổn định chính trị - xã hội cục bộ, các thế lực thù địch bên ngoài tạo cớ can thiệp, tiến hành bạo loạn lật đổ hòng thực hiện mục đích chính trị của chúng.

PHAO

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 51.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 280-281.

Lịch sử phát triển kinh tế kết hợp quốc phòng ở biên giới và chính sách an dân để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân

Để tăng cường sức mạnh, tiềm lực mọi mặt cho bảo vệ lãnh thổ, ngoài chú trọng xây dựng lực lượng quân sự từ Trung ương đến các làng bản biên giới, Nhà nước còn chú trọng phát triển kinh tế ở các vùng biên ải; trong phát triển kinh tế luôn quan tâm kết hợp tăng cường với sức mạnh quốc phòng. Đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực làm vững mạnh biên giới, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê, Nguyễn đều khuyến khích chiêu mộ người ra vùng biên viễn khai khẩn đất hoang để mở rộng diện tích canh tác, phát triển kinh tế biên giới vững mạnh, vừa tạo cơ sở xã hội cho nhà nước ở biên giới, vừa khẳng định chủ quyền lãnh thổ ở những vùng đất mới khai phá. Diện tích do nhân dân tự khai phá được cho thành ruộng tư, không thu thuế trong nhiều năm đầu, những năm sau thu thuế rất nhẹ. Nhà nước khen thưởng những ai mộ được nhiều người, khai khẩn được nhiều diện tích ở biên giới, vùng biển; mộ được càng nhiều người, khai hoang được càng nhiều ruộng đất mức thưởng càng cao. Với biện pháp này, nhà nước đã đưa được một lực lượng lớn cư dân ra biên giới, khai phá được nhiều ruộng đất canh tác. Lực lượng cư dân bám trụ ở biên giới ngày càng tăng làm cho sức mạnh biên phòng ngày càng được củng cố.

Để huy động lực lượng nhân dân bảo vệ biên giới, trước hết Nhà nước phải quan tâm đến việc an dân, cố kết các dòng họ, vỗ về nhân dân biên giới về kinh tế, xã hội… để họ gắn bó với bản làng, bám trụ nơi biên cương bảo vệ chủ quyền lãnh thổ như: Triều đình dùng biện pháp hôn nhân, gả công chúa cho các tù trưởng thiểu số cho họ làm phò mã triều đình, duy trì chế độ thế tập (cha truyền con nối) cho các thổ tù, dòng họ lớn cai quản nhân dân các địa phương biên giới, biến họ thành những gia thần để ràng buộc trách nhiệm và thành những tôi trung của triều đình, để họ thay mặt nhà nước quản lý đất đai, đoàn kết Nhân dân, ngăn ngừa tình trạng chống đối, tự đem đất dâng cho giặc, chống lại âm mưu mua chuộc của ngoại bang nhằm “gặm nhấm” dần đất đai biên giới ta. Thời Lý, họ Giáp (sau được vua cho đổi thành họ Thân) ở vùng “cổ họng” Lạng Châu ba đời được nhà vua gả công chúa, nối đời làm phò mã triều đình. Vì vậy, họ Giáp (Thân) trở thành trung thần nhiều đời của triều đình ở vùng biên ải Lạng Sơn. Một số tù trưởng ở biên giới có công lao còn được vua phong những chức tước ngang với đại thần trong triều, được vua ban quốc tính.

Tuy nhiên, ngoài biện pháp “nhu viễn” (mềm dẻo phương xa), triều đình cũng kết hợp cả biện pháp “cương”, định rõ chức phận, thưởng phạt nghiêm minh các “khổn quan” (quan coi giữ biên giới) nếu làm yếu thế nước, tạo cơ hội cho nước ngoài lợi dụng xâm chiếm đất đai ven biên giới trong Luật Hồng Đức - thế kỷ XV và Luật Gia Long - thế kỷ XIX.

Với chính sách an dân “nhu viễn” linh hoạt đối với nhân dân biên giới, Nhà nước đã thực sự đoàn kết được các tộc người thiểu số chung sức khai phá và bảo vệ  toàn vẹn bờ cõi qua hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc.

PHAO

Kinh nghiệm bảo vệ biên giới của ông cha ta

 

Từ truyền thống ngàn năm dựng nước, giữ nước, cha ông ta đã đúc kết:

Trách nhiệm quản lý và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới trước hết phải là trách nhiệm của Nhà nước, của triều đình trung ương

Trách nhiệm đó luôn được thể hiện ở chủ trương chiến lược, ở kế sách và thái độ quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của triều đình trung ương.

 Lê Thái Tổ đã từng dạy: “Biên phòng hảo vị trù phương lược

                                                  Xã tắc ưng tu kế cửu an”.

 Lê Thánh Tông đã từng nói: “Một thước núi, một tấc sông của ta có lẽ nào tự tiện vứt bỏ đi được”. Nếu người nào dám đem một thước, một tấc đất đai của Thái Tổ để lại để làm mồi cho giặc, người ấy sẽ bị trừng trị nặng”.                                                  

  Nhà nước luôn luôn coi trọng vai trò to lớn của nhân dân biên giới

Trong lịch sử hình thành lãnh thổ quốc gia mấy nghìn năm qua, Việt Nam luôn phải đối phó với chính sách bành trướng bằng vũ lực của phong kiến Hán tộc để mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, luôn phải đấu tranh để chống lại những hành động xâm lấn hoặc mua chuộc dụ dỗ các tù trưởng thiểu số của ta dâng đất cho chúng, để gặm nhấm dần lãnh thổ đất ta kiểu tằm ăn lá dâu (chính sách tàm thực).

Biên giới, vùng biển nước ta cũng là nơi cư trú của phần lớn các tộc người thiểu số. Họ là lực lượng tại chỗ rất quan trọng, luôn đứng mũi chịu sào nơi tuyến đầu để bảo vệ bờ cõi, Các vua sáng tôi hiền Việt Nam luôn hiểu rõ sức mạnh của dân, coi sức dân như nước, “dân là gốc của nước”. Vì vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn coi trọng vai trò chiến lược của đồng bào các dân tộc biên giới, coi đó là “phương lược tốt”, “kế cửu an” cho xã tắc trong việc bảo vệ toàn vẹn biên cương. Đây là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để xây dựng chiến lược “biên giới lòng dân” trong lịch sử.

Như vậy, sự nghiệp gìn giữ quốc gia cương thổ là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, gian khổ, lâu dài. Để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, ông cha ta đã coi mỗi người dân biên giới là một người lính biên thùy. Với quan điểm cả nước đánh giặc, toàn dân là lính, Nhà nước đã huy động được sức mạnh nhân dân biên giới, vùng biển, lực lượng trực tiếp tại chỗ rất quan trọng để bảo vệ bờ cõi.

PHAO

ĐỪNG ĐỂ CON CHÁU BỊ MÙ LỊCH SỬ...!

         Xin dẫn 2 câu chuyện về 2 nguyên thủ quốc gia VIỆT NAM là TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG và TT UKRAINE ZELENSKY để các bạn biết và đánh giá nhé:
     Tháng 10/2011, trong một buổi nói chuyện, Tổng bí thư Trung Quốc khi đó là HỒ CẨM ĐÀO đã nói rất rõ với đại ý: “Tôi là người Trung Quốc tôi không nói Nam Sa – Tây Sa là của tôi thì tôi không phải là người Trung Quốc. Cũng như các đồng chí là người Việt Nam mà không nói Hoàng Sa - Trường Sa là của các đồng chí thì các đồng chí không phải là người Việt Nam”.
Đó là thứ lý lẽ ngụy biện bởi “một cái gì đó hoặc là của anh, hoặc là của tôi, làm gì có chuyện ai cũng nói là của tôi được”. 

Cũng trong cuộc gặp này ông HỒ CẨM ĐÀO còn nói rằng, đại ý: “Tôi không thể bỏ đường 9 đoạn được vì đường chín đoạn là cái lịch sử để lại, nếu chúng tôi bỏ nó thì người dân Trung Quốc không theo chúng tôi”. 

Đáp lại câu nói này, TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG đã nói: “Các đồng chí nói sai rồi, cái đường đó đâu phải là đường lịch sử để lại. Đường đó là của Tưởng Giới Thạch. Chúng tôi và các đồng chí đều không công nhận Tưởng Giới Thạch vì thế làm sao có thể công nhận sản phẩm của họ! 
Nếu các đồng chí nói lịch sử thì lẽ ra phải nói đến “Nhị thập tứ sử” hay “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”. 
Đến đây, HỒ CẨM ĐÀO chỉ còn biết im lặng… 

* "Nhị thập tứ sử" là bộ chính sử được các triều đại Trung Quốc thừa nhận. Bộ sử ký này ghi chép từ Thượng cổ đến thời nhà Thanh. Trong đó các mục Địa lý đều không đề cập đến các hòn đảo ở xa hơn đảo Hải Nam.
Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” - Tập bản đồ Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của TQ được thực hiện dưới thời nhà Thanh, xuất bản năm 1904 trong đó ghi rõ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Sự thông thái về lịch sử của TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG đã làm cho HỒ CẨM ĐÀO vừa nể phục vừa ngượng ngùng và bẽ mặt vì bị TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG chặn họng đọc được âm mưu. Màn đối đáp lịch sử đầy trí tuệ khí chất Việt Nam hào hùng này đã như một đội quân tinh nhuệ thiện chiến đẩy lùi và đánh tan sự xâm lăng của đội quân xâm lược. 

Còn ZELENSKY khi xin vũ khí của ISRAEL đã nói với chính phủ ISRAEL rằng: "Hãy cứu giúp UKRAINE như UKRAINE đã cứu dân tộc Do Thái khỏi bàn tay diệt chủng của Đức Quốc Xã ". Câu nói mù kiến thức về lịch sử này của ZELENSKY đã gây phẫn nộ các nghị sỹ ISRAEL, họ đã trả lời thẳng vào mặt ZELENSKY là: "Không phải UKRAINE mà là LIÊN XÔ đã tiêu diệt chủ nghĩa phát xít ĐỨC cứu nhân loại và dân tộc Do Thái".
Thật nhục cho một người là nguyên thủ đại diện cho một quốc gia mà kiến thức về lịch sử tồi tệ bị phơi bày làm trò cười cho thế giới! 

Nếu ngành giáo dục VIỆT NAM 🇻🇳 mà xếp môn học lịch sử là môn tự chọn (tức là bỏ) thì thế hệ con cháu chúng ta không xa đâu mà ngay sau đây thôi, một hai năm nữa chúng ta sẽ được "hưởng" một lớp người mù lịch sử tai hại như anh hề ZELENSKY!
Môi Trường ST.

Nhận thức đúng về chủ quyền biển, đảo, đấu tranh với luận điệu sai trái

 

Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.

Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.