Lá cờ trong mỗi cuộc chiến là gì? Là danh dự Tổ Quốc, là hiện thân của Tổ Quốc, là máu của biết bao thế hệ, là mục tiêu, là chiến thắng, là những gì mà mỗi chiến sĩ phải giữ gìn và bảo vệ. Như liệt sĩ Trần Văn Phương trước khi hy sinh tại Gạc Ma đã nói: "Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ biển Đông chứ cương quyết không để mất đảo", hay như các liệt sĩ Sư đoàn 304 phải hy sinh nhiều người để cắm lá cờ to đẹp, toàn vẹn, vững chãi tại căn cứ Động Toàn, Quảng Trị. Hoặc như lá cờ tại cầu Quảng Trị, trải qua bao nhiêu đợt mưa bom, bão đạn nhưng vẫn đứng vững, lá cờ này bom quật hạ xuống, lá cờ khác lại được dựng lên…
Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022
HÀNG TRIỆU NGƯỜI NGÃ XUỐNG ĐỂ LÁ CỜ ĐƯỢC ĐỨNG LÊN!
TẬP THỂ BỘ CHÍNH TRỊ, BAN BÍ THƯ LÀ MỘT TẬP THỂ ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT, TRÊN DƯỚI ĐỒNG LÒNG
Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và bế mạc vào chiều 10/5.
Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu bế mạc Hội nghị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:
"Kính thưa Trung ương,
Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,
Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các đồng chí Uỷ viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã tập trung công sức, trí tuệ, nghiên cứu tài liệu, tổng kết thực tiễn, phát huy dân chủ, thảo luận thẳng thắn, sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, sâu sắc vào các tờ trình, báo cáo, đề án. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình có sức thuyết phục những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhất trí cao thông qua các Nghị quyết và Kết luận của Hội nghị. Để kết thúc Hội nghị, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị, phát biểu, nhấn mạnh và làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng chủ yếu mà Hội nghị của chúng ta lần này đã đạt được.
1. Về vấn đề quản lý và sử dụng đất đai
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bám sát Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá XI, dành nhiều thời gian để nghiên cứu, thảo luận và đã thống nhất cao ban hành Nghị quyết mới về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao". Trung ương cho rằng, cần phải kế thừa, bổ sung, phát triển Nghị quyết Trung ương 6 theo hướng tiếp tục khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội theo luật định, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch. Quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm lợi ích chung của toàn dân; nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất một cách công bằng, hiệu quả và bền vững. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo lãnh thổ quốc gia, cả về diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường; phân công hợp lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, hiệu quả đối với các địa phương.
Quyền sử dụng đất là quyền sử dụng một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu; quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ. Người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân; có chính sách để đất nông nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả cao nhất. Thể chế, chính sách về đất đai phải được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có chính sách phù hợp đối với đối tượng, loại hình sử dụng đất để khơi dậy tiềm năng, phát huy cao nhất nguồn lực tài nguyên đất đai; kiên quyết khắc phục tình trạng đầu cơ đất, sử dụng đất không đúng mục đích, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực, gây khiếu kiện, bức xúc trong nhân dân.
Nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về đất đai. Hiện đại hoá công tác quản lý đất đai và dịch vụ công về đất đai. Củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đất đai một cách tập trung, đồng bộ, thống nhất. Nâng cao vai trò và năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai. Đất đai phải được điều tra, đánh giá, thống kê, kiểm kê, lượng hoá, hạch toán đầy đủ trong nền kinh tế; được quy hoạch sử dụng hợp lý, với tầm nhìn dài hạn, hài hoà lợi ích giữa các thế hệ, các vùng, miền; giữa Trung ương và địa phương; giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Giải quyết tốt những bất cập, vướng mắc trong việc quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại và từ yêu cầu mới đặt ra của thực tiễn.
Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, quán triệt đầy đủ, sâu sắc những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Hội nghị Trung ương lần này đã đi sâu phân tích, đánh giá và thống nhất cao về các giải pháp, chủ trương, định hướng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt hơn nữa luật pháp, chính sách về đất đai, trước hết là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 và các luật pháp có liên quan để khắc phục những hạn chế, yếu kém tồn tại kéo dài lâu nay, đặc biệt là những hạn chế, yếu kém liên quan đến công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất; hỗ trợ, bồi thường, tái định cư, thu hồi đất; chính sách tài chính đất đai và xác định giá đất; chế độ quản lý và sử dụng đất nông nghiệp; đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh, đất dành cho việc thờ tự, tôn giáo, nghĩa trang, nghĩa địa; quản lý nhà nước về đất đai...
Trung ương còn nhấn mạnh, trong quá trình tổ chức thực hiện, cần thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân để tạo sự đồng thuận, đưa chính sách, pháp luật về đất đai thực sự đi vào cuộc sống.
2. Về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận sôi nổi và cho nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm để hoàn thiện "Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn". Trung ương nhận thấy: Sau gần 15 năm thực hiện Nghị quyết, với sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, sự chung sức, đồng lòng của toàn dân, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện, nhất là trong việc cơ cấu lại nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và cải thiện đời sống của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố, nâng cao.
Nông nghiệp đang tiếp tục được phát triển cả về quy mô và trình độ sản xuất, duy trì tăng trưởng ở mức khá cao và tiếp tục khẳng định được vai trò và vị trí quan trọng, là trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Sản xuất, kinh doanh nông nghiệp đang chuyển mạnh theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng, từng bước thích ứng với biến đổi khí hậu; phát huy lợi thế vùng, miền, địa phương; chú trọng ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh ngày càng được hoàn thiện, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu. Tỉ lệ nông sản qua chế biến tăng dần; thị trường tiêu thụ được mở rộng cả trong và ngoài nước; xuất khẩu tăng nhanh cả về sản lượng, giá trị và tỉ trọng sản phẩm chất lượng cao. Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.
Nông dân nước ta đã phát huy tốt hơn vai trò là chủ thể, tích cực trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học - công nghệ, tham gia hợp tác, liên kết, khôi phục và phát triển ngành nghề nông thôn; xây dựng nông thôn mới, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn. Thu nhập của nông dân ngày càng tăng, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được cải thiện; tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm nhanh; dân chủ cơ sở ngày càng được phát huy.
Nông thôn đang có nhiều thay đổi rõ rệt, khá toàn diện, thể hiện rõ vai trò là địa bàn chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cơ cấu kinh tế của khu vực nông thôn chuyển đổi tích cực; tỉ trọng kinh tế công nghiệp và dịch vụ tăng khá. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào sâu rộng, có sức lan toả mạnh mẽ, nhận được sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, của toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp, đã về đích sớm hơn 1,5 năm so với mục tiêu đề ra.
Để tiếp tục phát huy những kết quả, thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, thực hiện thành công những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, chúng ta phải nhận thức thật đầy đủ và đúng đắn hơn nữa về vị trí, vai trò có ý nghĩa chiến lược lâu dài của phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; coi đây là cơ sở và lực lượng đặc biệt quan trọng để phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá và sức mạnh con người Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước cần phải tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Phát triển hài hoà giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền; gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp; giữa phát triển nông thôn bền vững với quá trình đô thị hoá theo hướng "nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh".
Khẳng định Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp. Chú trọng nâng cao trình độ, năng lực làm chủ của nông dân theo hướng phát triển toàn diện, văn minh; phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, tự chủ, tự lực, tự cường, đổi mới sáng tạo; ý chí vươn lên, khát vọng xây dựng quê hương, đất nước phồn vinh, hạnh phúc; có trình độ tổ chức sản xuất tiên tiến, nếp sống văn minh, trách nhiệm xã hội, tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trường; được thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế - xã hội và tiếp cận các dịch vụ, tiệm cận với đô thị. Phát triển nông nghiệp, nông thôn phải hướng tới nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và người dân nông thôn; lấy lợi ích của người dân là mục tiêu cao nhất.
Phải nhận thức và xác định rõ, nông nghiệp là một lợi thế của quốc gia, là trụ đỡ của nền kinh tế. Phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững, minh bạch, trách nhiệm, tích hợp đa giá trị theo hướng giữ vững an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái; khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn. Phát huy lợi thế vùng, miền; tổ chức sản xuất, kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị, dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu. Chuyển mạnh từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh; phát triển cả thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu.
Xây dựng nông thôn hiện đại, phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, văn minh; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, kết nối với đô thị; có đời sống văn hoá lành mạnh, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc; có môi trường xanh, sạch, đẹp; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cần chú trọng phát triển hài hoà, đồng bộ cả nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, gắn với cơ cấu lại lao động, tạo sinh kế, việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho nông dân và người dân nông thôn. Xây dựng nông thôn mới ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả và bền vững. Quản lý, sử dụng một cách hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên đất, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững các hệ sinh thái. Chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu, bảo đảm an toàn cho người dân.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống của nông dân và người dân nông thôn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc giám sát, phản biện và vận động đoàn viên, hội viên, người dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
3. Về vấn đề phát triển kinh tế tập thể
Hội nghị Trung ương lần này cũng đã thống nhất cao về sự cần thiết phải tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò và những kết quả quan trọng đã đạt được của kinh tế tập thể nước ta trong suốt 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX; đồng thời chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân. Trung ương cho rằng, có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, đặc biệt là do: Nhận thức của nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, đảng viên và người dân về bản chất, vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chưa thật đầy đủ, thiếu thống nhất, thậm chí còn bị chi phối, ảnh hưởng bởi định kiến về mô hình hợp tác xã kiểu cũ. Việc lãnh đạo, chỉ đạo của nhiều cấp uỷ đảng và chính quyền còn hình thức, chưa thực sự quan tâm, thậm chí còn lúng túng, hoài nghi về sự thành công của kinh tế tập thể. Công tác hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, xây dựng thể chế, chính sách còn chậm, thiếu cụ thể, hiệu quả chưa cao. Chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho kinh tế tập thể tuy đã có nhiều nhưng còn dàn trải, phân tán, chưa thống nhất, thiếu nguồn lực để tổ chức thực hiện. Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế tập thể chưa được kiện toàn, còn nhiều bất cập, không thống nhất, thiếu chặt chẽ, phân tán, hoạt động chưa hiệu quả; ở một số nơi còn tình trạng buông lỏng quản lý hoặc can thiệp quá sâu, không đúng đối với tính chất tổ chức, hoạt động của hợp tác xã; hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp luật về kinh tế tập thể chưa sâu sát, chưa thường xuyên. Việc đánh giá về hiệu quả và đóng góp của kinh tế tập thể còn phiến diện, thiên về mặt kinh tế, chưa chú ý đúng mức đến mặt chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường,... dẫn đến hạ thấp vai trò, vị trí của kinh tế tập thể trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Kinh tế tập thể, hợp tác xã phần lớn có quy mô còn nhỏ, năng lực nội tại còn yếu; đội ngũ cán bộ hợp tác xã cơ bản chưa được đào tạo chuyên sâu. Việc tổng kết lý luận và thực tiễn về kinh tế tập thể chưa kịp thời; tâm lý xã hội nói chung còn rất e ngại đối với kinh tế tập thể; thành viên hợp tác xã vẫn còn tâm lý ỷ lại, dựa dẫm lẫn nhau hoặc trông chờ sự trợ cấp của Nhà nước.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu, trong thời gian tới, phải tiếp tục quán triệt, nhận thức sâu sắc, đầy đủ, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết của Trung ương lần này về phát triển kinh tế tập thể phù hợp với yêu cầu và tính chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta. Phải thường xuyên quan tâm đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, mà nòng cốt là các hợp tác xã kiểu mới; coi đây là một thành phần kinh tế quan trọng cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Khẳng định phát triển kinh tế tập thể là xu thế tất yếu khách quan và phải xuất phát từ nhu cầu thiết thực của các thành viên; bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện cho các thành viên hăng say làm việc, lao động tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững; tôn trọng các giá trị, nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã, phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng vùng và của cả nước. Kinh tế tập thể có nhiều hình thức tổ chức, hợp tác đa dạng, phát triển từ thấp đến cao (tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã...), trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Kinh tế tập thể phát triển dựa trên sở hữu riêng của thành viên và sở hữu chung của tổ chức; tổ chức hoạt động theo nguyên tắc đối nhân, không chỉ phụ thuộc vào vốn góp; phân phối theo mức độ tham gia dịch vụ, theo lao động và theo vốn góp. Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế là chính, bao gồm cả lợi ích của thành viên, của tập thể và lợi ích của xã hội, của Nhà nước; đồng thời coi trọng lợi ích về chính trị, văn hoá, xã hội trên địa bàn. Thành viên kinh tế tập thể bao gồm các cá nhân và pháp nhân, thành viên chính thức và thành viên liên kết, cả người ít vốn và người nhiều vốn, cùng góp vốn, góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, và quản lý dân chủ. Khuyến khích việc tích lũy và sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản chung trong tổ chức kinh tế hợp tác. Phát triển kinh tế tập thể cả về số lượng và chất lượng, trong đó chú trọng về chất lượng; bảo đảm sự hài hoà trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa bàn của nền kinh tế; có chính sách ưu tiên các tổ chức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, gắn hoạt động sản xuất kinh doanh với chuỗi giá trị sản phẩm, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ưu tiên phát triển các tổ chức kinh tế hợp tác gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức. Đánh giá hiệu quả của kinh tế tập thể phải toàn diện, cả về kinh tế lẫn chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh; về hiệu quả của tổ chức và của các thành viên. Phải nhận thức rõ: Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể, và coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, Liên minh hợp tác xã phải phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia phát triển kinh tế tập thể.
4. Về vấn đề xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên
Hội nghị đã thảo luận sôi nổi, tâm huyết và thống nhất cao về sự cần thiết phải tạo cho được sự chuyển biến mạnh mẽ và thực chất hơn nữa trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị ở nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện từ gốc, từ cơ sở; xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên, nhất là bí thư cấp uỷ có đủ năng lực, uy tín lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị; nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên và chất lượng đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Trung ương đặc biệt nhấn mạnh: Để thực hiện thành công mục tiêu tổng quát cũng như các mục tiêu cụ thể đến năm 2025 và năm 2030 như đã đề ra, cần phải nâng cao hơn nữa sự thống nhất về nhận thức, và đổi mới, hành động quyết liệt hơn nữa. Cụ thể là:
Về nhận thức, phải xác định rõ tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Đội ngũ đảng viên có vai trò trực tiếp và là nhân tố cơ bản quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, đảng viên, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng phải gắn liền với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phải lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ sở và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Quá trình thực hiện phải thường xuyên kết hợp giữa xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh với củng cố, chấn chỉnh cơ sở đảng yếu kém; coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đi đôi với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, vai trò tiên phong, gương mẫu trong sinh hoạt đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời, cần tạo môi trường để đảng viên rèn luyện, phấn đấu, nâng cao bản lĩnh chính trị, tính tiên phong, gương mẫu, thực hiện nghiêm các nguyên tắc về sinh hoạt đảng và lời thề của đảng viên khi vào Đảng. Phát huy thật tốt dân chủ trong Đảng và trong xã hội; tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên. Coi trọng chất lượng phát triển đảng viên, chú trọng hơn nữa đến việc rèn luyện, bồi dưỡng quần chúng, đối tượng cảm tình đảng, trước khi vào Đảng phải thực sự là những quần chúng ưu tú không chỉ về năng lực công tác mà phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức, lối sống, có động cơ trong sáng với phương châm "quý hồ tinh bất quý hồ đa". Thường xuyên rà soát, sàng lọc, kịp thời và kiên quyết đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.
Về hành động, cần khẩn trương, nghiêm túc xây dựng và tổ chức thực hiện thật tốt các chương trình, kế hoạch hành động liên quan đến việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết lần này của Trung ương đã đề ra, như: Đổi mới, hoàn thiện tổ chức của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; rà soát, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác cho phù hợp với từng loại hình tổ chức cơ sở đảng. Xác định rõ những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt của đảng bộ, chi bộ; bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cấp uỷ viên các cấp...
Để thực hiện thành công mục tiêu, yêu cầu và các nhiệm vụ và giải pháp đề ra, Ban Tổ chức Trung ương và các Ban Đảng, các cơ quan tham mưu, giúp việc ở Trung ương cần sớm có hướng dẫn tổ chức thực hiện; các tỉnh, thành uỷ, các đảng bộ trực thuộc Trung ương phải thực sự năng động, chủ động cụ thể hoá các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết của Trung ương đã đề ra, sao cho thật sát hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị và đặc điểm của địa phương mình, ngành mình, cơ quan, đơn vị mình; và đặc biệt là từng cơ sở đảng phải đề ra và tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phù hợp với cơ sở mình. Từng đảng viên cũng phải xác định rõ bổn phận và trách nhiệm thiêng liêng và cao cả của mình khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng, không ngừng phấn đấu và rèn luyện bản lĩnh chính trị, tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, lối sống; thường xuyên tự phê bình và phê bình, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ có như vậy thì tổ chức đảng và đảng viên mới thật sự trong sạch, vững mạnh, có uy tín với quần chúng nhân dân. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, cần hết sức coi trọng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, qua đó kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến; kịp thời củng cố các tổ chức đảng yếu kém; xử lý nghiêm các đảng viên thoái hoá, biến chất, vi phạm pháp luật và kỷ luật đảng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội thông qua các hoạt động của mình, phát huy vai trò của đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh.
5. Về Báo cáo kết quả kiểm điểm, tự phê bình và phê bình của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021
Ban Chấp hành Trung ương đánh giá cao sự chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm hết sức nghiêm túc, trách nhiệm, gương mẫu của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; và hoàn toàn đồng tình, nhất trí cao với Báo cáo, đặc biệt là những bài học kinh nghiệm dẫn đến thành công của năm 2021 được rút ra, đó là: (1) Tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt là một tập thể đoàn kết, thống nhất, trên dưới đồng lòng, đã phát huy những bài học kinh nghiệm được rút ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm "dân là gốc"; lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, có bước đi phù hợp; chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (2) Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã bám sát Quy chế làm việc, Chương trình làm việc toàn khoá và Chương trình làm việc năm 2021, bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành khoa học, phối hợp nhịp nhàng, thống nhất, không có tình trạng chồng chéo hoặc "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". (3) Phương thức lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư có đổi mới, có sự phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng, bảo đảm được sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trực tiếp, toàn diện.
Đồng thời, Trung ương cũng đồng tình, nhấn mạnh thêm sự cần thiết phải tập trung ưu tiên lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2022 do Bộ Chính trị, Ban Bí thư đề ra trong Báo cáo.
6. Về một số vấn đề quan trọng khác
Bên cạnh những vấn đề nêu trên đây, Ban Chấp hành Trung ương cũng đã bàn và thống nhất rất cao về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Nghiêm túc tổ chức, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như nêu trong Đề án chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa, hiệu lực, hiệu quả cao hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo đúng tinh thần: "Trên Dưới đồng lòng, Dọc Ngang thông suốt!".
Tại Hội nghị này, Trung ương cũng đã nghe báo cáo chuyên đề về cuộc "Xung đột Nga - U-crai-na: Tác động quốc tế và những vấn đề đặt ra". Hội nghị đã biểu thị sự đồng tình, đánh giá cao về những chủ trương, quyết sách kịp thời, đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta trước những diễn biến mới rất phức tạp tại U-crai-na và trên thế giới; đồng thời yêu cầu phải tiếp tục theo dõi sát sao tình hình; dự báo các tình huống, khả năng có thể xẩy ra để chủ động có các phương án ứng phó kịp thời, phù hợp, có hiệu quả; giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực, theo đúng tinh thần "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế".
Thưa các đồng chí,
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã thành công tốt đẹp, hoàn thành có chất lượng cao một khối lượng công việc lớn, rất quan trọng. Chúng ta đã bàn và nhất trí cao về nhiều chủ trương, định hướng cơ bản, quan trọng trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.
Thành công của Hội nghị Trung ương lần này, ngoài sự nỗ lực tích cực, đầy tinh thần trách nhiệm của các đồng chí Trung ương, các đồng chí tham dự Hội nghị, các cấp uỷ, chính quyền, các cơ quan và cán bộ tham mưu, còn có phần đóng góp quan trọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước, đặc biệt là các đồng chí cán bộ lão thành, các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, những người luôn luôn quan tâm, nhiệt tình hưởng ứng và có nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết, trí tuệ cho công việc chung của Đảng và Nhà nước. Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi xin trân trọng cảm ơn những tình cảm và sự đóng góp quý báu đó. Tôi tin tưởng rằng, với thành công của Hội nghị lần này và với truyền thống đoàn kết, nhất trí trong Đảng, trước hết là trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự ủng hộ, hưởng ứng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhất định chúng ta sẽ tổ chức thực hiện thành công các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương lần này, góp phần từng bước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc, hoàn thành xuất sắc trọng trách trước Đảng và nhân dân với niềm tin mới và khí thế mới.
Tôi xin trân trọng cảm ơn".
Nguồn: Thông tin Chính phủ
Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là mục tiêu, đích đến của Việt Nam
Xã hội XHCN là xã hội: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để đạt được đích đó cần đổi mới mạnh mẽ và triệt để nhận thức, tư duy về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước hết cần khơi dậy một văn hóa vươn lên, văn hóa làm giàu, khát vọng làm giàu, khát vọng sáng tạo trong xã hội.
Lịch sử xã hội loài người là tiến trìnhphấn đấu liên tụccho một cuộc sống đầy đủ về vật chất, hạnh phúc về tinh thần. Trong lịch sử thế giới,nhiều triều đại đã đặt mục tiêutrở thành nước mạnh để xưng bá, xưng hùng với xung quanh,do đóđã thực hiện cáccuộc chiến tranh đẫm máu và phi nghĩa. Ngược lại, để trở thành một nước mạnh, nhiều nhà cầm quyền đã quan tâm đến đời sống của người dân, quan tâm đến việclàm cho dân ngày một giàu có hơn vì người ta hiểu rằng “đẩy thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”. Nhìn chung, khát vọng giàu hơn, mạnh hơn, dân chủ hơn, công bằng hơn, văn minh hơn là khát vọng của nhân loại.Cũng vì nó, ở mọi nơi, người tađã đấu tranh, phấn đấu liên tục từ thế hệ này đến thế hệ khác.
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìnnăm lịch sử phấn đấu không mệt mỏi cho mục tiêu này. Biết bao anh hùng, liệt sĩ đã không tiếc máu xương hy sinh anh dũng cho một Việt Nam độc lập, tự do, giàu mạnh và hạnh phúc. Độc lập dân tộc và CNXHlà lý tưởng và là con đường mà Đảng Cộng sản Việt Nam, Bác Hồ và dân tộc Việt Nam đã chọn. Đó phải là một xã hội tươi đẹp hơn, phát triển hơn, giàu có hơn và tự do, văn minh hơn quá khứ và hiện tại.
Chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đây là một xã hội tiến bộ, ưu việt hơn tất cả các xã hội trước đó về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Theo chủ nghĩa Mác -Lênin, trongCNXH,con người được giải phóng khỏi mọi ách bóc lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện; cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội được tạo ra bởi một lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại; dựa trênchế độ công hữu về tư liệu sản xuất; cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới với năng suất cao; thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động; nhà nước dân chủ kiểu mới, thể hiện bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động; các quan hệ giai cấp - dân tộc -quốc tế được giải quyết phù hợp, kết hợp lợi ích giai cấp - dân tộc với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Tuy nhiên, những điều trên là những nét chấm phá nhận thức về CNXH, nhưng chưa cho chúng ta cách xây dựng, phát triển thế nào để đạt được CNXH, mà đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn sáng tạo, phát triển phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của đất nước.
Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ ngày thành lập Đảng(1930)đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng đổi mới nhận thức về CNXHở Việt Nam. Qua các kỳ Đại hộiĐảng, nội hàm về CNXHluôn được bổ sung, làm phong phú hơn. Mô hình CNXHmà nhân dân Việt Nam xây dựng được phác họa gồm sáu đặc trưng được nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) của Đảng. Đại hội X (2006) của Đảng đã đổi mới và phát triển nhận thức về CNXHtrên một bước mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung, phát triển và làm cho mô hình CNXHViệt Nam toàn diện hơn với tám đặc trưng. Đặc biệt, đến Đại hội XI (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục đổi mới nhận thức về CNXHvới việc tiếp tục xác định tám đặc trưng của chủ nghĩa xã hội trên cơ sở kết hợp, bổ sung, phát triển những đặc trưng đã nêu ở Đại hội VII (1991) và Đại hội X (2006).“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Do dân làm chủ; Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc; Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnhphúc, có điều kiện phát triển toàn diện; Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; Có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”.
Nhờ sự đổi mới tư duy, nhận thức về CNXHmà qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạtnhững bước phát triển có ý nghĩa lịch sử. Từ bỏ nền kinh tếkế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCNlà một đổi mới có tính đột phá, bước ngoặc từ tư duy, nhận thức lý luận đến hành động. Thực tế đã minh chứng, đường lốiđổi mới là vô cùng sáng tạo và hoàn toàn đúng đắn trong bước thăng trầm lịch sử. Thực tếcho thấy, phát triển nền kinh tế thị trường là một yêu cầukhách quan để đất nướcphát triển và giàu mạnh.Theo đó,mọi nguồn lực, tiềm năng và sựsáng tạo được khơi dậy và giải phóng.
Tám đặc trưng về CNXHở Việt Nam được Đại hội XI (2011) của Đảng nêu ra là những đặc trưng cho xã hội XHCN hoàn bị,là mục tiêuđể phấn đấu đạt được trong tương lai. Songcái đích mà chúng ta sẽ đi đến làcon đường dài đầy gian nan, vất vả, chứ hoàn toàn không phải bằng phẳng, dễ dàng, không phải do ta vẽ ra và mong muốn mà được. Theo năm tháng phát triển, tám đặc trưng về CNXH mà Đại hội XI đưa ra có thể sẽ được bổ sung thêm, hoặc điều chỉnhcho phù hợp với thực tế.
Trong giai đoạn hiện nay, để nền kinh tế Việt Nambứt phá đi lên, thoát khỏitụt hậu, không bị chậm lại so với các nước,thì chúng ta cần làm rõgiữa phát triển nền kinh tế thị trường với định hướng XHCN. Nền kinh tế thị trường là công cụ, là môi trường để chúng ta đạt được chủ nghĩa xã hội, còn chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chúng ta phấn đấu đi đến, tức là cần tách bạch giữa phương tiện đưa ta đến đích với mục tiêu chúng ta cần đạt để nền kinh tế thị trường phát triển với đầy đủ quy luật và nội dung của nó và để nó chính là nó, không bị làm méo mó đi và để truyền vào đó một động lực mới, một sự phát triển mới. Định hướng XHCN cũng được thể hiện rõ nét hơn, cụ thể hơn không bị lệch lạc đi. Để thành công cần có giải pháp cụ thể, nội dung, tiêu chícụ thể, đo đếm được, loại bỏ các ngôn từ chung chung, thiếu nội hàm và không đánh giá được. Đó chính là hiểu đúng, làm đúng các nội dung của mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Dân giàu là một thước đo có thể nhận thấy được. Con đường chúng ta đi phải đem lại cho dân ta ngày một giàu hơn, thể hiện ở thu nhập của người dân mỗi ngày một tăng hơn, đời sống vật chấtvà tinh thầncủa người dân mỗi ngày một cao hơn và đến một lúc nào đó đời sống vật chất của dân ta phải không thua kém đời sống của người dân ở bất kỳ quốc gia phát triển nào. Chỉ có con đường nào đem lại cho người dân ngày một giàu, cuộc sống tốt hơn hơn thì đó mới là con đường đúng.
Đích cụ thể thứ hai thể hiện bản chất XHCN là nước mạnh. Đây là một đích đến rất dễ thấy. Nước mạnh không phải tự vẽ ra trên giấy, hoặcnói hay mà được, mà nó phải thể hiện qua tiềm lực kinh tế của nước đó, cụ thể là GDP phải đủ lớn.Đồng thời, sự biểu hiện của nước mạnh còn là các ngành, các lĩnh vực sản xuất vật chất và dịch vụ đều phát triển và tăng cao. Tiềm lực an ninh - quốc phòng ngày một to lớn. Sức mạnh và vị thế của đất nước trên trường quốc tế được tăng lên. Không để cho bất cứ kẻ thù nào có thể đe dọa đến sự toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời và vùng biển của đất nước. Lợi ích dân tộc quốc gia được bảo đảm.
Thứ ba là vấn đề dân chủ. Ngoài việc tạo ra của cải vật chất nhiều hơn để cho đạt được dân giàu, nước mạnh thì một vấn đề không thể thiếu trong xã hội chúng ta chính là dân chủ hơn, người dân thực sự được làm chủ. Sự tập trung, tập quyền sẽ dần giảm bớt và dân chủ phải được tăng lên là xu thế tất yếu trong các xã hội phát triển. Việt Nam trên đường lên CNXH, thì vấn đề dân chủ càng đặc biệt quan tâm. Mục tiêu là phấn đấu cho mọi người dân được tự do, hạnh phúc hơn trong xã hội Việt Nam nên việc mở rộng dân chủ và làm cho dân chủ trở thành văn hóa sống của mọi người dân trong xã hội là một vấn đề có tính quy luật tất yếu. Không có dân chủ không có CNXH, chỉ có dân chủ thật sự thì CNXH mới thành hiện thực. Để đánh giá mức độ dân chủ trong xã hội cần phải có thước đo cụ thể. Trên tiến trình xây dựng đất nước, nếu dân chủ không được mở rộng, không được phát triển ở mức độ cao thì cần xem lại con đường ta đang đi.
Dân giàu, nước mạnh mà thiếu công bằng sẽ gây ra bất công xã hội và bất bình xã hội. Từ đó, xã hội sẽ rất dễ hỗn loạn, xung đột và hậu quả là khó có thể trở thành một nước giàu mạnh thực sự. Hơn nữa, nếu một xã hội không có công bằng, thì chắc chắn sẽ khó có dân chủ. Dân chủ chỉ có thể hình thành trong một môi trường bình đẳng. Chính vì lẽ đó, xây dựng CNXH chính là xây dựng một môi trường công bằng và tiến bộ. Ở đâu không có công bằng thì chắc chắn ở đó khó có CNXH và điều đó có nghĩa là con đường chúng ta đang đi phải điều chỉnh lại.
Với sự phát triển của nhân loại cho thấy, thế giới ngày một văn minh, tươi đẹp hơn. Đây là một quy luật phát triển khách quan của toàn thể nhân loại. Thế giới hôm nay đã thành “thế giới phẳng”, thế giới như nhỏ hơn, gần nhau hơn nhờ tiến bộ của khoa học - công nghệ. Trí tuệ của con người đã đạt được đến những đỉnh cao có thể kiến tạo và cải biến xã hội loài người. Những sản phẩm biến đổi gien, sản phẩm lai tạo đã và đang góp phần làm cho của cải tăng lên nhiều, nhưng cũng đặt ra các thử thách khác cho con người. Sinh sản vô tính và sự cấy ghép nội tạng, cơ thể con người đang làm thay đổi mạnh mẽ nhận thức và triết lý sống của nhân loại. Các nền kinh tế tri thức ngày một phát triển nhiều hơn và giàu có hơn. CNXH mà chúng ta lựa chọn chắc chắn phải là một xã hội đạt đến một trình độ văn minh, hiện đại, chắc chắn không phải một xã hội lạc hậu, trì trệ.
Với nhận thức như vậy, trong giai đoạn hiện nay, trước mắt cần tập trung làm thật tốt để đạt được 5 mục tiêu cụ thể: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và cũng coi đây là đích đến của xã hội Việt Nam. Khi đạt được 5 mục tiêu và đích đến đó, chắc chắn chúng ta có CNXH, nếu không, CNXH mãi mãi xa vời và trừu tượng. Để đạt được những mục tiêutrên cần đột phá mạnh mẽ tư duy về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng. Đặc biệt, tư duy mới về các vấn đề phát triển của nhân loại và có thái độ cầu thị,lắng nghe với phương châm: Học mọi cái khôn, cái tốt của nhân loại để dựng xây đất nước; Sử dụng mọi sức mạnh của nhân loại để bảo vệđất nước; Huy động mọi nguồn lực của nhân loại để làm giàu đất nước. Cần xây dựng một thể chế mà ở đó khát vọng làm giàu, khát vọng vươn lên được thấm sâu, được hun đúc trong tâm thức của mọi con người Việt Nam, văn hóa làm giàu trở thành văn hóa sống của con người Việt Nam, mọi nguồn lực cho phát triển được huy động, mọi sức sáng tạo cho phát triển được khơi dậy và từ đó tạo nên một động lực, một sức mạnh vươn lên trong con người Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành một đất nước giàu mạnh, phồn vinh trong thực tế.
Chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ
Câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Nguyên ngày 13-3-1960, trong thời điểm miền Bắc đang tiến hành khôi phục, cải tạo và bước đầu phát triển nền kinh tế, văn hóa xã hội chủ nghĩa (XHCN); quân và dân miền Nam đang đẩy mạnh đấu tranh chính trị, tiến tới phát động cao trào cách mạng mới.
Quan điểm trên đây của Người cùng với đường lối, chủ trương đề ra tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960) đã trở thành định hướng, phương châm, mục tiêu hành động của các tầng lớp nhân dân trong công cuộc xây dựng miền Bắc theo con đường cách mạng XHCN, củng cố, tăng cường sức mạnh của hậu phương lớn, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Dưới ánh sáng của Đại hội III, quân và dân ta thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, hướng tới mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu cao nhất của CNXH là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; sự nghiệp đấu tranh cách mạng để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xây dựng chế độ xã hội mới, giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh xét đến cùng là vì hạnh phúc, vì sự phát triển toàn diện của con người. Ngược lại, con người là lực lượng chính của sự nghiệp đấu tranh cách mạng, là lực lượng sản xuất quan trọng nhất và là chủ thể sáng tạo nên những giá trị vật chất và tinh thần của xã hội. Năm 1975, quân và dân ta đã hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc-kỷ nguyên độc lập, hòa bình, thống nhất, cả nước đi lên CNXH.
Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay có nhiều chuyển biến mau chóng, phức tạp, câu nói của Bác: “CNXH là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ” vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là mục tiêu lý tưởng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hướng tới.
Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về rèn đức, luyện tài, phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân; phát huy tinh thần độc lập tự chủ, ý thức tự lực tự cường, cần, kiệm xây dựng đất nước, xây dựng quân đội vững mạnh.
“Nền chính trị ổn định tạo cho Việt Nam có được một nền hòa bình và thịnh vượng
Âm mưu và sự chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” suy cho cùng hòng làm cho tình hình chính trị ở Việt Nam mất ổn định. Đây là “bài học” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã dành nhiều thời gian, công sức “nghiên cứu, đúc kết” từ những cuộc xung đột chính trị xảy ra
QĐND - Âm mưu và sự chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” suy cho cùng hòng làm cho tình hình chính trị ở Việt Nam mất ổn định. Đây là “bài học” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã dành nhiều thời gian, công sức “nghiên cứu, đúc kết” từ những cuộc xung đột chính trị xảy ra ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới những năm gần đây. Tuy nhiên, trên thực tế, không cần phải mất quá nhiều thời gian nghiên cứu, phân tích cũng đủ thấy: Sự bất ổn về chính trị xảy ra ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới thời gian qua, nguyên nhân sâu xa đều “khởi nguồn” từ việc tranh giành quyền lực chính trị; mâu thuẫn lợi ích giữa các đảng phái hoặc ngay nội bộ của đảng cầm quyền. Hậu quả việc bất ổn chính trị không chỉ là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia mà còn gây ra rất nhiều đau thương, bất hạnh cho nhân dân, thậm chí còn dẫn đến cảnh “huynh đệ tương tàn”. Ở những quốc gia, vùng lãnh thổ không giữ được sự ổn định về chính trị thì người gánh chịu hậu quả nặng nề nhất chính là nhân dân, những người lao động trong xã hội.
Đề cập đến vài nét khái quát như trên để thấy rõ những hậu quả nặng nề, tác hại ghê gớm do sự bất ổn về chính trị gây ra đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Nói như vậy để hiểu rõ hơn một điều là vì sao sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại hướng trọng tâm vào mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam. Chiêu thức nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tiến hành là tập trung thực hiện các đòn chiến tranh tâm lý, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội và những vấn đề bức xúc trong đời sống nhân dân để lôi kéo, kích động gây ra sự bất ổn ở cơ sở. Chúng tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân, với nhiều chiêu bài, như “hỗ trợ kinh phí để thực hiện việc khiếu kiện”; “hỗ trợ nhân đạo kèm theo những điều kiện bắt buộc như tham gia hội hè, tham gia tọa đàm, hội thảo...”; “kích động những người bất mãn với xã hội viết bài xuyên tạc, bôi nhọ cán bộ, công kích cấp ủy, chính quyền địa phương với mức trả thù lao rất cao”… Tóm lại, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tập trung lợi dụng việc nhận thức hạn chế của một bộ phận nhân dân; kích động, gây bức xúc, hoặc lợi dụng sự bức xúc trong đời sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; dùng các thủ đoạn tác động vào lợi ích trước mắt để mua chuộc lòng tham của con người, hòng đạt tới mục tiêu gây ra sự bất ổn về chính trị, gây sự hoài nghi về vị trí, vai trò, khả năng lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, từng bước hạ thấp vai trò của Đảng, phủ nhận lịch sử; tiến đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, từ đó làm thay đổi chế độ chính trị, nhằm tạo ra cơ hội chính trị và lợi ích cho chính bản thân họ mà không hề mang lại lợi ích gì dù là nhỏ nhất cho tuyệt đại bộ phận các tầng lớp nhân dân trong xã hội.
Đề cập đến vị trí, vai trò của sự ổn định chính trị đối với sự phát triển của đất nước, mới đây, khi trả lời báo chí nhân dịp dự Diễn đàn Phát triển châu Á lần thứ 5 được tổ chức tại Hà Nội, Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Takehiko Nakao đã đánh giá cao sự ổn định chính trị và ổn định về kinh tế vĩ mô ở Việt Nam. Ông cho rằng đó là điều kiện, là cơ sở vững chắc để Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tăng trưởng đồng đều. Từ những thành quả đạt được trong phát triển kinh tế mà nền tảng bắt nguồn từ sự ổn định chính trị, Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á hy vọng, Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức 5,6% trong năm 2014; đồng thời khuyến khích đạt mục tiêu trở lại mức tăng trưởng 7-8% trong những năm tiếp theo.
| Sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng ở cơ sở góp phần đảm bảo an ninh-quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn Tây Nam Bộ. Ảnh minh họa. Nguồn: qdnd.vn. |
Cũng đề cập đến vai trò, vị trí của sự ổn định chính trị đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam, trả lời phỏng vấn phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, Tiến sĩ kinh tế người Pháp Philippe Delalande khẳng định: Sự ổn định chính trị là một trong những yếu tố không thể thiếu, góp phần giúp Việt Nam có thể kiên trì chính sách phát triển kinh tế. Nền chính trị ổn định tạo cho Việt Nam có được một nền hòa bình và thịnh vượng. Nếu nhìn sang một số quốc gia trong khu vực, dễ thấy rằng, trừ Xin-ga-po, thì từ năm 1990 trở lại đây, hầu hết các nước trong khu vực đều trải qua các cuộc đảo chính hay khủng hoảng chính trị. Trong khi đó, nền chính trị của Việt Nam luôn ổn định, đây là một đảm bảo cho sự gắn kết để thực hiện chính sách kinh tế nhất quán. Tiến sĩ Philippe Delalande cho rằng: Thành công của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam cũng là dựa trên sự ổn định chính trị.
Chúng ta không phủ nhận những hạn chế, yếu kém vẫn còn tồn tại hiện nay. Những hạn chế, yếu kém cả trong phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân; cả trong xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ đều đã được Đảng nhận rõ, thẳng thắn nêu lên. Nhận rõ những hạn chế, yếu kém trong đời sống xã hội, Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp cụ thể để sửa chữa, để khắc phục. Những trường hợp cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật ở mọi cấp đều được điều tra, xử lý kịp thời đúng người, đúng tội mà không có trường hợp ngoại lệ. Các vụ án kinh tế phức tạp được các cơ quan chức năng đưa ra xét xử công khai, được nhân dân đồng tình, ghi nhận. Những cán bộ thoái hóa, biến chất, sách nhiễu nhân dân, lợi dụng chức vụ vun vén lợi ích cá nhân đều được cấp ủy, chính quyền các cấp xem xét có hình thức kỷ luật thích đáng. Những chủ trương, giải pháp trên cho thấy quyết tâm chính trị rất cao của cấp ủy, chính quyền các cấp; của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị trong việc loại bỏ, từng bước hạn chế những khuyết điểm, yếu kém gây ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển của đời sống xã hội.
Nhận thức rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng việc giữ vững sự ổn định chính trị; thấy rõ những thành tựu và quyết tâm chính trị của Đảng trong xây dựng Đảng, làm trong sạch nội bộ, để từ đó từng cán bộ, đảng viên và mỗi người dân bình tĩnh, phân tích cặn kẽ, khách quan các sự việc, hiện tượng xảy ra trong đời sống xã hội để có cách giải quyết, xử lý phù hợp. Đảng Cộng sản Việt Nam không sợ khuyết điểm, đồng thời luôn khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, tích cực đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện vi phạm pháp luật, tiêu cực, lãng phí, tham nhũng. Vì vậy, trước từng vấn đề, từng sự việc cùng với việc kiên quyết, kiên trì đấu tranh theo đúng pháp luật thì mỗi người trong xã hội phải đặt mục tiêu cao nhất là sự phát triển toàn diện của đất nước, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Nhìn lại lịch sử dân tộc cho thấy, trước những khó khăn, chính nhờ có sự đồng thuận của nhân dân “triệu người như một”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã làm nên những kỳ tích có ý nghĩa thời đại. Truyền thống dân tộc, lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng là sức mạnh vô địch để dân tộc Việt Nam tiến lên phía trước. Điều này càng được khẳng định thông qua đánh giá về tăng trưởng kinh tế năm 2014 của Chính phủ cũng như các tổ chức kinh tế quốc tế. Theo đánh giá của Chính phủ thì kinh tế tiếp tục tăng trưởng trong năm 2014. Tính chung 9 tháng đầu năm 2014, tăng trưởng kinh tế đạt 5,62%, cao hơn cùng kỳ 2 năm trước; ước cả năm 2014 đạt khoảng 5,8%. Đánh giá trên của Chính phủ cũng đúng như nhận định được nêu ra trước đó trong báo cáo của ADB, IMF, World Bank. Theo các báo cáo này thì chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2014 vẫn được giữ nguyên ước đạt 5,8%; trong khi đối với nhiều quốc gia trên thế giới thì chỉ tiêu tăng trưởng đều phải hạ xuống so với dự kiến ban đầu. Vậy yếu tố nào để năm 2014, kinh tế Việt Nam vượt qua khó khăn mà cả thế giới đang tìm mọi biện pháp khắc phục nhằm đạt được chỉ tiêu? Đó là kết quả của quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế, điều hành nền kinh tế của Chính phủ. Nhưng nền tảng vững chắc nhất để Chính phủ thực hiện tốt việc đổi mới cơ cấu kinh tế, điều hành linh hoạt các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ... đó chính là sự ổn định chính trị. Đây là đánh giá của nhiều tổ chức chính trị, kinh tế có uy tín trên thế giới khi nghiên cứu về Việt Nam.
Ổn định chính trị, nền tảng để phát triển đất nước, chính là điều mà mỗi người trong chúng ta cần nhận thức một cách đầy đủ để có hành động đúng đắn, sáng suốt. Sự ổn định chính trị chỉ được xây dựng vững chắc trên nền tảng lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Ổn định chính trị cũng chính là “phương thuốc” hữu hiệu nhằm tiêu diệt tận gốc những "vi-rút" xấu độc các thế lực thù địch, cơ hội chính trị gieo rắc thông qua chiêu bài “dân chủ”, "nhân quyền"... trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà chúng đang ráo riết thực hiện thời gian qua.
Hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước bằng sức mạnh niềm tin của nhân dân
TCCS - Ý chí, khát vọng của mỗi quốc gia, dân tộc luôn là điều kiện căn bản, là động lực chính yếu để khẳng định không gian sinh tồn và bản lĩnh phát triển. Tùy theo từng thời kỳ, giai đoạn mà ý chí, khát vọng ấy sẽ được các nhà lãnh đạo, quản lý đất nước cụ thể hóa bằng những chủ trương, đường lối khác nhau. Tại Việt Nam, khát vọng phát triển đất nước được Đảng, Nhà nước đề ra trong giai đoạn hiện nay chính là hướng tới quốc gia phồn vinh và hạnh phúc. Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, cần huy động nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó, quan trọng, chính yếu nhất vẫn là sức mạnh từ niềm tin của nhân dân - chủ thể của quá trình phát triển. Khát vọng dân tộc và sức mạnh niềm tin của nhân dân nhìn từ chiều dài lịch sử.
Tất nhiên, sự phân định này chỉ có tính chất tương đối bởi trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, khát vọng dân tộc sẽ được cụ thể hóa dựa theo những tiêu chí cụ thể. Thời kỳ phong kiến, sau khi đã giành được độc lập, tự chủ thì khát vọng xây dựng xã tắc thái bình, thịnh trị là đích đến của các triều đại phong kiến. Hay như ở thời điểm từ năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thì lý tưởng của toàn thể dân tộc là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, khát vọng dân tộc giữ vai trò chủ đạo trong giai đoạn này chính là độc lập và tự do. Sau khi thống nhất đất nước, để thực hiện lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội, khát vọng dân tộc lại được Đảng, Nhà nước cụ thể hóa theo từng giai đoạn, lộ trình khác nhau. Đại hội VI (năm 1986) của Đảng khẳng định: Đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn; Đại hội VII (năm 1991) đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Đại hội VIII (năm 1996) đề ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020; Đại hội IX (năm 2001) xác định, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm; Đại hội X (năm 2006) xác định, mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; Đại hội XI (năm 2011) bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991, quyết định đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh hội nhập quốc tế; Đại hội XII (năm 2016) nhấn mạnh nâng cao chất lượng phát triển, sức cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Đại hội XIII (tháng 1-2021), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương khơi dậy mạnh mẽ “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(2). Vậy, trong mối quan hệ với khát vọng dân tộc, sức mạnh niềm tin của nhân dân sẽ được thể hiện như thế nào?
Trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, các thế lực phong kiến phương Bắc luôn tìm cách Hán hóa dân tộc Việt Nam. Song, với sức mạnh của niềm tin về nòi giống “con rồng cháu tiên”, cộng đồng cư dân Việt Nam đã kiên trì, bền bỉ đấu tranh để giữ vững lấy “hồn quốc”. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam - Triệu Thị Trinh với câu nói đầy hào khí: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”(3), như là một minh chứng cho tinh thần đấu tranh bất khuất và khát vọng độc lập dân tộc trong giai đoạn này. Đầu thế kỷ X, nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ nhân cơ hội đem quân chiếm đóng thành Đại La (Tống Bình cũ - Hà Nội ngày nay), xưng Tiết độ sứ. Năm 906, vua Đường buộc phải chấp thuận vai trò của Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ; đồng thời, phong thêm cho ông tước “Đồng bình chương sự”(4). Lịch sử dân tộc ghi nhận công lao của ông như là người đầu tiên đặt cơ sở cho nền tự chủ quốc gia, khai mở niềm tin cho nhân dân về một tương lai tươi sáng của nước Việt. Để rồi, năm 938, với sức mạnh của niềm tin và tinh thần đoàn kết một lòng, nhân dân Việt Nam lại tiếp tục làm nên chiến thắng Bạch Đằng vang dội, mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ cho đất nước.
Hội nghị Diên Hồng thời Trần cũng chính là một minh chứng về sức mạnh của niềm tin và tinh thần vua - tôi đoàn kết một lòng để ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên - Mông, một trong những đế chế hùng mạnh bậc nhất thế giới lúc bấy giờ. Hai chữ “Diên Hồng” đã trở thành biểu trưng cho ý chí thống nhất của dân tộc, thể hiện sự đồng lòng nhất trí và niềm tin son sắt giữa nước với dân. Dưới thời Lê sơ, Lê Lợi và Nguyễn Trãi được quân dân một lòng tin tưởng, thương mến, bởi tinh thần cai trị đất nước: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” và ý chí kiên định “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân để thay cường bạo”. Do vậy, “Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới”, “Tướng sĩ một lòng phụ tử” để làm nên “cỗ nhung y chiến thắng” trước quân Minh(5).
Từ nửa sau thế kỷ XVIII, trước sự tranh chấp quyền lực của các tập đoàn phong kiến và những bất ổn của đời sống xã hội, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ phất cờ khởi nghĩa. Với khí thế và quyết tâm: “Đánh cho để dài tóc/Đánh cho để đen răng/Đánh cho nó chích luân bất phản/Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/Đánh cho sử tri, Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”(6), Nguyễn Huệ đã huy động được sức mạnh niềm tin của quần chúng nhân dân để làm nên những chiến công vang dội tại Rạch Gầm - Xoài Mút, hay cuộc hành quân thần tốc ra kinh đô Thăng Long để đập tan ý đồ xâm lược của quân Thanh, giữ vững bờ cõi cho dân tộc, xóa bỏ tình trạng phân chia đất nước kéo dài trên hai thế kỷ, lập lại nền thống nhất quốc gia.
Dưới thời Nguyễn, dù triều đình khuất phục trước gót giày xâm lăng của thực dân Pháp, nhưng nhân dân Việt Nam với niềm tin và ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc đã dũng cảm đứng lên phản kháng sự cai trị, chiếm đóng của thực dân Pháp. Với tinh thần “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây” (Nguyễn Trung Trực), dù thất bại, nhưng các cuộc khởi nghĩa đã cho thấy tinh thần, ý chí tự cường của nhân dân, đặc biệt là niềm tin vào sức mạnh nội tại của dân tộc.
Cũng chính niềm tin vào sự nghiệp độc lập, tự do của đất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã bôn ba khắp “bốn bể, năm châu” tìm đường cứu nước, cứu dân. Trước vòng vây của chủ nghĩa thực dân, phong kiến, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 đã trở thành ngọn cờ tiên phong trong các phong trào đấu tranh cách mạng. Trong những ngày đầu vô cùng khó khăn ấy, niềm tin của nhân dân lại được khơi dậy để nuôi nấng, bao bọc, chở che cho Đảng, cho lý tưởng mà toàn thể dân tộc hướng đến. Dù có hàng trăm, hàng nghìn người bị bắt bớ, giam cầm nhưng vẫn kiên quyết giữ vững lời thề sắt son theo Đảng. Bởi họ đã tìm được lý tưởng, niềm tin, tức là đã tìm thấy được sức mạnh, tìm được điểm tựa tinh thần và động lực cho cuộc sống. Lý tưởng ấy đã soi sáng niềm tin cho nhân dân, mà nòng cốt là giai cấp công nhân và nông dân hăng hái bước vào cuộc đấu tranh, làm nên các cao trào cách mạng (1930 - 1931; 1936 - 1939).
Sức mạnh niềm tin của nhân dân tiếp tục được phát huy mạnh mẽ hơn trong giai đoạn trực tiếp đấu tranh giành chính quyền những năm 1939 - 1945. Với niềm tin vào sự thắng lợi trọn vẹn và ý chí quyết tâm “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(7), “dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(8), toàn thể dân tộc Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xóa bỏ xích xiềng phong kiến, thực dân.
Sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước đứng trước vô vàn khó khăn, thử thách “ngàn cân treo đầu sợi tóc”, nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có những chủ trương, đường lối đối nội, đối ngoại thiết thực để củng cố tình hình đất nước, phát huy sức mạnh niềm tin của nhân dân. Đáp lời hiệu triệu của cách mạng, hơn 20 triệu đồng bào đã đoàn kết một lòng, hăng hái tham gia “tuần lễ vàng”, “quỹ độc lập”, thực hiện phong trào “tăng gia sản xuất”, “bình dân học vụ” và đoàn kết, thống nhất để chống thù trong giặc ngoài. Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi đã chính thức khép lại giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp hào hùng của dân tộc. Đồng thời, thắng lợi này cũng minh chứng một chân lý mà các dân tộc bị áp bức trên thế giới đều có thể tin tưởng rằng: Một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, nếu có một đảng mác-xít chân chính lãnh đạo với đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ thì nhất định đánh bại được các cuộc chiến tranh xâm lược của mọi kẻ thù(9).
Sau năm 1954, miền Bắc quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Khát vọng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, sức mạnh niềm tin của nhân dân tiếp tục được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”(10) và “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta”(11). Với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do”(12); “Dù khó khăn, gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất”(13), triệu người như một đều nhất loạt đứng lên đấu tranh để bảo vệ quê hương, xóm làng. Từ phong trào Đồng Khởi năm 1960, trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975..., tất cả những thắng lợi vang dội ấy đều được tạo nên bởi sức mạnh của niềm tin, bởi truyền thống của một dân tộc vốn đất không rộng, người không đông, vũ khí trang bị chưa hiện đại, nhưng với ý chí quyết tâm, tinh thần đoàn kết, đồng sức, đồng lòng đã đánh thắng một đế quốc to, quân đông, vũ khí trang bị hiện đại.
Sau khi thống nhất đất nước, cả nước quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sức mạnh niềm tin của nhân dân tiếp tục được huy động cho công cuộc đổi mới. Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất, kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình. Văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố. Tình hình chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững. Vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đặc biệt, trong năm 2020, dù gặp phải rất nhiều khó khăn do đại dịch COVID-19, nhưng Việt Nam vẫn thực hiện thành công nhiệm vụ “kép” đầy ấn tượng trong phòng, chống đại dịch và phát triển kinh tế. Việt Nam là một trong số ít quốc gia duy trì tăng trưởng dương trên thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 đạt 2,91%.
Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và sức mạnh niềm tin của nhân dân trước yêu cầu mới của đất nước
Năm 2021, đánh dấu chặng đường 35 năm đổi mới đất nước. Những thành quả đạt được từ trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước cho phép Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam hướng đến khát vọng lớn là phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Khát vọng phồn vinh, hạnh phúc chính là sự kết tinh bản lĩnh, trí tuệ của Đảng dựa trên sự đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước. Đó không phải là khát vọng giản đơn, xuôi chiều, mà được bồi đắp trên cơ sở phân tích, dự báo, lường đoán kỹ lưỡng những thời cơ, thuận lợi có thể nắm bắt, phát huy; đồng thời, tỉnh táo cân nhắc, tính toán những khó khăn, thách thức bên ngoài, những yếu kém, trở ngại bên trong cần phải kiên quyết khắc phục, thích ứng, vượt qua. Đó cũng là sự vận dụng phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, nhạy bén chớp thời cơ, chủ động ứng phó với nguy cơ, tìm cơ hội trong thách thức để đổi mới và phát triển. Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc mang sức sống hiện thực được hình thành, bồi đắp trên một cơ tầng khoa học về lộ trình hướng đích, bước đi được dự liệu rõ ràng và là sự kế thừa, hoàn thiện những mục tiêu đã được xác định từ những giai đoạn trước. Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc gắn liền với quá trình xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và giá trị chuẩn mực, cùng sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới(14) gắn liền với phát huy đồng bộ hệ động lực phát triển: Dân chủ xã hội chủ nghĩa; đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài; khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo(15).
Thứ nhất, cần nâng tầm và đặt đúng vị trí, vai trò của niềm tin nhân dân trong chiến lược phát triển. Phải xem sức mạnh niềm tin nhân dân là động lực của sự phát triển quốc gia. Động lực này không chỉ là kết quả từ sự kiến tạo niềm tin của nhân dân, của mỗi người lao động, của các doanh nghiệp đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý, quản trị hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước; mà còn là sự kiến tạo niềm tin và trách nhiệm cao cả của Nhà nước đối với nhân dân với tư cách là chủ nhân, chủ thể phát triển của xã hội, đất nước. Đó còn là sự kiến tạo niềm tin dựa trên các mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, giữa các chủ thể với nhau trong cộng đồng quốc gia - dân tộc, kết tụ ở việc luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết.
Động lực này sẽ được xác lập dựa trên những nền tảng đường lối, chủ trương, định hướng phát triển đúng đắn của Đảng, Nhà nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; trên nền tảng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, một hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sách quản lý, quản trị phát triển, hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch; một nền hành chính liêm chính, tinh thần trách nhiệm cao trước dân; trên nền tảng một đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức “thực đức, thực tài”, thực sự công bộc, đặt lợi ích của nhân dân, lợi ích phát triển của đất nước lên trên hết. Động lực này sẽ phát huy cao độ khi thực hành dân chủ xã hội rộng rãi gắn liền với thực thi kỷ cương phép nước, “sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”; tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của của mỗi con người, của nhân dân và của tất cả các chủ thể trong xã hội. Có được động lực niềm tin thì tất cả mọi người dân trong xã hội mới vững tâm mang tất cả tâm huyết, nguồn lực, trí tuệ, tài năng của mình ra để cống hiến cho sự phát triển chung của đất nước và dân tộc. Động lực này cũng là sự kết tinh, kết tụ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội, khát vọng chấn hưng đất nước của mỗi con người, của toàn dân tộc với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Có thể nói, niềm tin của quần chúng nhân dân chính là thước đo quý giá nhất đối với năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và là một động lực to lớn, chính yếu cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Thứ hai, cần chú trọng xây dựng cơ sở để nhân dân ký thác niềm tin và thể hiện tình yêu đối với đất nước. Xưa nay, niềm tin và tình yêu Tổ quốc luôn sẵn có trong mỗi người dân Việt Nam và nó được duy trì, phát triển qua các giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên, nếu niềm tin và lòng yêu nước không được định hình dựa trên nền tảng, quan điểm và cả những định hướng cụ thể thì sẽ rất dễ bị tổn thương và lợi dụng. Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, niềm tin và tình yêu quê hương, đất nước cần phải được định hình dựa trên những cơ sở khoa học, nếu không sẽ bị lợi dụng để phục vụ cho các toan tính chính trị đen tối, âm mưu chia rẽ quan hệ giữa nhân dân với Đảng và nhà nước, kích động chống đối chế độ. Điều này sẽ tạo nên những hệ lụy và hậu quả vô cùng to lớn đối với sự an nguy của đất nước.
Để xây dựng môi trường cho niềm tin hình thành và phát triển, thì trước hết phải được bắt nguồn từ việc Đảng, Nhà nước có những chủ trương, cơ chế, chính sách thực sự đúng đắn và phù hợp. Cần quan tâm hơn nữa lợi ích, nguyện vọng của nhân dân; lấy lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền lợi căn bản của công dân làm mẫu số chung cho quá trình phát triển; phải xem trọng nhân dân với tư cách là chủ thể của việc tạo lập niềm tin trong xã hội,... Phải chăm lo xây dựng con người phát triển toàn diện theo hướng trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, ý chí, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Phải tạo nên được sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, niềm tin sâu sắc vào truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc. Phải gắn việc xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Phải nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức, khát vọng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế,...
Thứ ba, cần gắn chặt vấn đề xây dựng, phát huy sức mạnh niềm tin với việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Có niềm tin mới có đoàn kết dân tộc. Sự phát triển hay suy giảm niềm tin luôn kéo theo tỷ lệ thuận tương ứng của tinh thần đoàn kết dân tộc. Do đó, cần đặt mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc với việc củng cố và phát huy niềm tin trong quần chúng nhân dân. Việc gắn chặt niềm tin với tinh thần đoàn kết không chỉ cho phép tăng thêm sức mạnh nội lực trong quá trình phát triển, hội nhập sâu rộng với thế giới mà còn làm gia tăng sức đề kháng cho quốc gia, dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”, chỉ có sức mạnh của tinh thần đoàn kết mới mang lại cho dân tộc một sự phát triển ổn định và thịnh vượng, mới giúp dân tộc thành công trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và niềm tin chính là mẫu số chung có giá trị cao nhất để thúc đẩy các thành viên trong xã hội xích lại gần nhau, đoàn kết, gắn bó keo sơn với nhau trong một chỉnh thể nhà nước, quốc gia thống nhất./.
