Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2022

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU “THỰC CHẤT HỒ CHÍ MINH LÀ NGƯỜI DÂN TỘC CHỦ NGHĨA”!

         Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đang ngày càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân Việt Nam, trở thành “kim chỉ nam” cho sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước. Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước lại dùng chiêu bài “hạ bệ thần tượng” để xuyên tạc, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận điệu xuyên tạc được họ đưa ra trong thời gian gần đây là “thực chất Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa”.

NHẬN DIỆN “CHỦ NGHĨA DÂN TỘC” VÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”(1). Theo đó, chủ nghĩa dân tộc được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như chủ nghĩa sô-vanh nước lớn có tâm lý coi thường các dân tộc khác, tự cho mình quyền “khai hóa văn minh” cho các dân tộc nhỏ hơn hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, có khuynh hướng khép kín, không muốn mở rộng quan hệ với các dân tộc khác. Cả hai khung hướng này của chủ nghĩa dân tộc đều xa lạ với bản chất của giai cấp vô sản - giai cấp đại diện cho chủ nghĩa quốc tế vô sản. Do đó, về bản chất, chủ nghĩa dân tộc là thù địch với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, với thế giới quan mácxít và mâu thuẫn với quá trình khách quan của sự phát triển. Đó là sự xích lại gần nhau của các dân tộc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Là lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, V.I.Lênin luôn phê phán những người cộng sản có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. V.I.Lênin chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh chống những thành kiến dân tộc chủ nghĩa càng có ý nghĩa trọng đại khi vấn đề chuyển nền chuyên chính vô sản từ phạm vi quốc gia (tức là mới tồn tại ở trong một nước và không có khả năng quyết định được chính trị thế giới) thành chuyên chính vô sản trên quy mô quốc tế (tức là chuyên chính vô sản ít nhất cũng ở một số nước tiên tiến và có khả năng tác động quyết định đến toàn bộ chính trị thế giới), ngày càng trở nên bức thiết”(2). Quan điểm của V.I.Lênin đã cho thấy, những người theo chủ nghĩa cộng sản chân chính không thể có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.

Thế nhưng gần đây, các thế lực thù địch lại rêu rao rằng “thực chất Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa”. Họ cho rằng “chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”; từ đó, quy chụp Hồ Chí Minh “là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản”(3). Thậm chí, có những kẻ cơ hội chính trị còn cố tình quy chụp rằng trong bộ 15 tập Hồ Chí Minh có 17 lần nhắc đến cụm từ “chủ nghĩa dân tộc” nên cáo buộc rằng “Hồ Chí Minh đích thị là người theo chủ nghĩa dân tộc”(4)!

Từ sự cáo buộc đó, một số phần tử phản động, cơ hội chính trị còn lên tiếng đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng “bây giờ chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam hay “Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”(5). Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin!”(6). Thực chất của luận điệu này là nhằm chia rẽ chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, phá vỡ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng, gây ra sự xáo trộn trong ý thức hệ của nhân dân.

CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CHÂN CHÍNH TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc chân chính, mang bản chất của giai cấp vô sản. Từ năm 1924 , trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, tại mục D “Chủ nghĩa dân tộc”, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đề cập và khẳng định vai trò của chủ nghĩa dân tộc chân chính: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người cu li biết phản đối; nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917…”(7). Đây là chủ nghĩa dân tộc chân chính vì nó khơi dậy lòng yêu nước, trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc và trở thành động lực để các tầng lớp nhân nhân đứng lên đấu tranh chống lại những áp bức, bất công. Đây cũng chính là động lực to lớn để chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc lên tiếng đấu tranh ở nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau nhằm đòi quyền lợi chính đáng cho dân tộc Việt Nam.

Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định một sự thật không thể xuyên tạc được, đó là: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(8). Lập luận trên của Hồ Chí Minh vừa cho thấy hành trình Người đến với chủ nghĩa Lênin, vừa khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó, luận điệu cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn sai lầm, quy chụp.

Không chỉ vậy, bản thân Hồ Chí Minh cũng là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mát-xcơ-va họp từ ngày 14 đến 16/11/957, không ai khác và hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Vì vậy, Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”(9). Do đó, những kẻ cơ hội cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin là nhằm “hạ bệ thần tượng”, chia rẽ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Khi cho rằng “Hồ Chí Minh thực chất là người dân tộc chủ nghĩa” là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ tính đảng và lập trường cách mạng chân chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. Đúng như V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của các giai cấp này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”(10). Do đó, chúng ta cần phải tỉnh táo trước những luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh hay tinh vi hơn là lấy danh nghĩa đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin để đối lập, tách dời từng mảng trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa dân tộc - thứ chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn, bành trướng hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ như các thế lực thù địch thường rêu rao, quy chụp. Có chăng, Hồ Chí Minh chính là người theo chủ nghĩa dân tộc vô sản, không chỉ suốt đời đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn vì sự nghiệp cách mạng chung của các dân tộc bị áp bức, lệ thuộc trên thế giới.

BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
Trên hành trình tìm đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa triệt để tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là vận dụng sáng tạo, bổ sung và làm phong phú thêm học thuyết Mác - Lênin “bằng dân tộc học phương Đông”. Từ trong bản chất của sự phát triển, tất cả các học thuyết chính trị nói chung mà học thuyết Mác - Lênin nói riêng đều rất cần đến sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Chính bản thân Hồ Chí Minh là người đã chứng kiến sự vận động không ngừng của cách mạng thế giới những năm đầu thế kỷ XX nên Người đã bổ sung vấn đề dân tộc thuộc địa - điều mà V.I.Lênin, đặc biệt là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa thể hoặc chưa có điều kiện đề cập một cách sâu sắc.

Khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh nhận thấy: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”(11). Và “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”(12), “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(13). Việc bổ sung vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông - nơi mà có nhiều nước bị lệ thuộc và trở thành thuộc địa của các nước tư bản phương Tây đã làm cho vấn đề dân tộc trở nên phong phú hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Đó là biểu hiện rõ ràng của tinh thần dân tộc vô sản, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và lệ thuộc.

Tháng 7/1920, sau gần 10 năm bôn ba tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã bắt gặp bản “Sơ thảo Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Những tư tưởng về dân tộc, thuộc địa của V.I.Lênin như một ngọn đuốc soi đường cho Nguyễn Ái Quốc trên hành trình tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hướng sự nghiệp giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Điều đó giúp cho Nguyễn Ái Quốc ngày càng mạnh dạn nói lên tiếng nói của mình tại các diễn đàn quan trọng để lên tiếng ủng hộ phong trào cách mạng ở các dân tộc thuộc địa.

Khi vận dụng nội dung Luận cương của V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng ở thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”(14). Đó là cơ sở để cách mạng vô sản ở các dân tộc thuộc địa có tính độc lập, chủ động không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, nó có thể nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc tiến lên. Đánh giá về sự bổ sung, vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với quan điểm của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Luận điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ,... Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”(15).

Hơn ai hết và trước hết, Hồ Chí Minh chính là người cộng sản chân chính. Chính Người cũng đã góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú hơn quan điểm về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những nội hàm mới. Do đó, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng, cách mạng vô sản và độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Bởi lẽ, con đường này chẳng những giải phóng hoàn toàn dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa đế quốc, mà còn giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi mọi sự áp bức bóc lột, đi đến ấm no, hạnh phúc thực sự. Sự lựa chọn này vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của nhân loại và thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đã được mở ra, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Với quan điểm độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, “Hồ Chí Minh là người tiên phong trong việc củng cố và bổ sung chủ nghĩa Mác - Lênin”(16)./.
________________
(1) A.M.Ru-mi-an-txép (chủ biên): Chủ nghĩa cộng sản khoa học - Từ điển, Nxb. Tiến Bộ, M, 1986, tr.106.
(2) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, t.26, tr.202-203.
(3) (4) Võ Văn Hải: Những luận điệu lạc lõng của RSF, trong sách "Bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới", Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2017, tr.100, 100.
(5) (6) Cục Tuyên huấn: Phòng, chống âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch (sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2019, tr.58, 27.
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, H, 2011, t.1, tr.511.
(8) (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.563, 189 – 190.
(10) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t, 23, tr.57.
(11) (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.268, 280.
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.56.
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, t.8, tr.567.
(15) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - chân dung một con người, Nxb. Văn hóa thông tin, H, 1996, tr.26.
(16) Bùi Đình Phong: Hồ Chí Minh - tầm nhìn thời đại, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2020, tr.14./.


Yêu nước ST.

ĐI TÌM CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

         Đầu thế kỷ 20, thấu hiểu được nỗi khổ đau của nhân dân Việt Nam khi phải chịu ách thống trị của thực dân - phong kiến trong đêm trường nô lệ, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sớm ra đi tìm đường cứu nước. Với lòng yêu nước nồng nàn, Người đã nhận ra ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tìm thấy con đường đúng đắn, phù hợp nhất để giải phóng dân tộc. Nhà thơ Chế Lan Viên với niềm kính yêu vô hạn và cảm xúc mãnh liệt đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã tái hiện giây phút thiêng liêng và hạnh phúc vô bờ bến của Bác và cũng là của nhân dân Việt Nam khi được tiếp xúc với bản Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê nin:
Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê-nin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài đất nước đợi mong tin.

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
Hình của Đảng lồng trong hình của nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười.
                            (Người đi tìm hình của nước)
Sau khi đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc, Người nhanh chóng bắt tay vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê nin vào trong nước, nhằm trang bị cho giai cấp công nhân Việt Nam kiến thức lý luận chính trị khoa học và tiến bộ để xúc tiến thành lập một chính đảng vô sản đủ khả năng lãnh đạo phong trào cách mạng. Và ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập trên nền tảng kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân trong nước. Đây là một sự kiện lịch sử trọng đại trong tiến trình cách mạng Việt Nam, mở ra trang sử mới, tươi sáng hơn cho dân tộc. Ánh sáng của những chủ trương, đường lối cách mạng đúng đắn mà Đảng đề ra đã soi rọi vào mọi tâm hồn, lý trí của nhân dân Việt Nam, xua đi cảnh tối tăm, u ám và mang lại niềm tin tưởng vào đường lối cách mạng của Đảng, niềm lạc quan về tương lai dân tộc. Trải qua thực tiễn đấu tranh, uy tín và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng ngày càng được nâng cao. Điều đó đã được nhà cách mạng Trường Chinh – nhà thơ Sóng Hồng diễn tả một cách cụ thể, gợi cảm qua hình ảnh ẩn dụ:        
Bình minh bừng sáng ở phương đông
Xé toạc màn sương phủ cánh đồng
Đêm sẽ qua đi, ngày sẽ lại
Trời quang, mây tạnh, ánh dương hồng.
            (Tin tưởng)
Còn với Tố Hữu – nhà thơ cộng sản đã gắn bó cả cuộc đời với Đảng và cách mạng, một trong những người học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã có một loạt bài ca ngợi Đảng, như: Với Đảng, mùa xuân, Một nhành xuân, Bài ca xuân 61, Bài ca xuân 67, Bài ca xuân 68... Với Tố Hữu, Đảng luôn là niềm tin, là lẽ sống, lẽ yêu đời. Trong bài Ba mươi năm đời ta có Đảng, với những vần thơ cô đọng súc tích, Tố Hữu đã thể hiện niềm tự hào, tin tưởng đối với Đảng, đối với chế độ xã hội mới; đồng thời nhà thơ cũng đề cao sức mạnh cũng như vai trò của Đảng đối với dân tộc và lòng biết ơn sâu nặng của nhân dân đối với Đảng:
Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt
Đảng ta đây, xương sắt da đồng
Đảng ta, muôn vạn công nông
Đảng ta, muôn vạn tấm lòng, niềm tin
Đảng ta Mác – Lê nin vĩ đại
Lại hồi sinh, trả lại cho ta
Trời cao đất rộng bao la
Bát cơm, tấm áo, hương hoa, hồn người.
Sức mạnh to lớn của Đảng đã bao trùm, bất diệt trong lịch sử dân tộc bởi Đảng đã được xây dựng bằng trí tuệ minh triết của lãnh tụ và niềm tin tuyệt đối của nhân dân cùng sự đoàn kết chung sức chung lòng của những người cộng sản:
Đảng Cộng sản Việt Nam, là một đó
Kim Tự Tháp diệu kỳ trong vũ trụ
Hồ Chí Minh là đỉnh sáng: ngôi sao
Và thân mình dám ngạo cả trời cao
Là vai gắn của biết bao đồng chí
Và nền tảng vững vàng hơn chiến luỹ
Là nhân dân, là dân tộc quật cường.
                   (Gánh – Xuân Diệu)
Ở mọi lúc mọi nơi, nhân dân vẫn luôn là nền tảng vững chắc nhất để xây dựng và phát triển Đảng. Đã có biết bao người con của Đảng được nhân dân nuôi dưỡng, chăm sóc, chở che đùm bọc. Đặc biệt, trong những thời kỳ khó khăn nhất của cách mạng, nhân dân càng thể hiện niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với cách mạng:
- Thằng này là cộng sản
Không được đứa nào chôn!
- Không được đứa nào chôn!
Lũ chúng vừa quay lưng
Chiếc quan tài sơn son
Đã đưa anh về mộ.

Đi theo sau hồn anh
Cả làng quê đường phố
Cả lớn nhỏ, gái trai
Đám càng đi càng dài
Càng dài càng đông mãi.
              (Mồ anh hoa nở – Thanh Hải)
Lịch sử đấu tranh, xây dựng và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và chúng ta luôn cảm thấy vinh dự, tự hào khi người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta vượt qua mọi khó khăn, là Bác – một con người chủ nghĩa Mác sinh ra (Hải Như):
Đừng dệt nhé chuyện thần kỳ về Bác
Chữ thần kỳ Bác riêng tặng nhân dân
Đảng ta lập ra gian khổ muôn phần
Lập ra Đảng là một người giản dị
Người nguyện sống trọn cuộc đời chiến sĩ
Một con người chủ nghĩa Mác sinh ra
Bất cứ hoàn cảnh nào cũng vậy, Đảng và Bác Hồ luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống của mọi tầng lớp nhân dân từ thành thị đến nông thôn, từ người miền xuôi đến đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhà thơ Lương Quý Nhân đã ca ngợi và khắc ghi công lao của Đảng đối với nhân dân ta bằng những câu thơ với hình ảnh giản dị, gần gũi và mang tính khái quát cao:
Bà mẹ lo cho cả năm chục triệu đứa con
Khối óc tinh tường
Mắt nhìn sáng rõ
Trái tim dũng cảm...
Có một bà mẹ nào như vậy?
Đảng Cộng sản Việt Nam - đó chính là bà mẹ ấy!
                 (Bà mẹ)
Hình ảnh so sánh Đảng với Bà mẹ đã phần nào thể hiện vai trò, tránh nhiệm của Đảng đối với nhân dân cũng như thể hiện tấm lòng của nhân dân ta đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu.
Một điều dễ nhận thấy là những vần thơ ca ngợi Đảng đều có giọng điệu hào hùng mà chân thành tha thiết. Đó là tình cảm, tấm lòng của nhân dân ta dâng lên Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại./.
Yêu nước ST.

TỔNG THỐNG BIDEN NÓI “DÀNH NHIỀU TÌNH CẢM CHO VIỆT NAM”



Gặp Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Joe Biden chia sẻ rằng ông luôn dành nhiều tình cảm cho đất nước và người dân Việt Nam.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU “THỰC CHẤT HỒ CHÍ MINH LÀ NGƯỜI DÂN TỘC CHỦ NGHĨA “


Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đang ngày càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân Việt Nam, trở thành “kim chỉ nam” cho sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước. Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước lại dùng chiêu bài “hạ bệ thần tượng” để xuyên tạc, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận điệu xuyên tạc được họ đưa ra trong thời gian gần đây là “thực chất Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa”.

MÔN LỊCH SỬ NHÌN TỪ THẾ GIỚI!

     Một trong những lý do để Bộ Giáo dục và đào tạo quyết định đưa môn lịch sử trở thành môn tự chọn trong chương trình giáo dục phổ thông bắt đầu từ năm học 2022 - 2023 là điều này phù hợp với xu hướng giáo dục quốc tế. Vậy quốc tế giáo dục lịch sử như thế nào?
Ở Israel, môn lịch sử được coi trọng, xếp ngang hàng với môn văn học, môn Kinh thánh. Chính nhờ môn lịch sử mà người Do Thái mới không quên được lịch sử dân tộc, đất nước mình.
Ở Mỹ và Canada, lịch sử là môn học bắt buộc ở cấp phổ thông, đại học như các môn Toán, tiếng Anh hay Vật lý.
Ở Trung Quốc, từ năm 2020, môn lịch sử cũng trở thành môn học bắt buộc tại cấp trung học cơ sở chứ không riêng gì cấp trung học phổ thông.
Ở Nam Phi, năm 2018, Bộ giáo dục nước này đã quyết định lịch sử trở thành môn học bắt buộc từ năm 2023.
Ở Hàn Quốc, từ năm 2005 môn lịch sử trở thành môn tự chọn. Và hậu quả là một thế hệ trẻ không rõ về chính lịch sử nước mình, không ý thức được vấn đề chủ quyền quốc gia đặc biệt là lịch sử bị nước ngoài dày xéo, về những vùng đất xâm chiếm đến bây giờ vẫn chưa đòi lại được. Rất nhiều nhà giáo dục đã nhận ra sai lầm. Bài báo: “Lịch sử là môn học bắt buộc, không phải tùy chọn” được đăng trên Chosun vào năm 2013 đã gây chấn động Hàn Quốc. Cuối cùng, Hàn Quốc đưa lịch sử trở lại giáo dục bắt buộc vào năm 2015.
Không hiểu các vị xây dựng đề án môn lịch sử là môn tự chọn ở Việt Nam học hỏi kinh nghiệm từ nước nào, xu hướng quốc tế ra làm sao nhưng có một điều chắc chắn rằng, có khi các vị đền tiền ngân sách cho những chuyến đi học hỏi kinh nghiệm vô bổ đó. Nhưng có những thứ tiền không thể bù đắp lại được, chính là lỗ hổng kiến thức lịch sử, lỗ hổng về niềm tự hào dân tộc của thế hệ trẻ ngày nay./.
Môi Trường ST.

LỊCH SỬ HÀO HÙNG VÀ HÌNH ẢNH ĐẸP ĐẼ CỦA NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ KHÔNG AI ĐƯỢC PHÉP XUYÊN TẠC!

     Quá bức xúc, khi hình ảnh Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật - Người đã phất cờ trên nóc hầm Đờ Cát tơ ri vào ngày 7 tháng 5 năm 1954 rất đẹp trai và dung dị. Vậy mà cái tay hoạ sĩ suýt được triển lãm lại vẽ ra Ma cà rồng như như cái tâm đen của nó.
Thật sự đau lòng và lo lắng khi đám lật sử đã ăn sâu bám rễ vào mọi góc cạnh của xã hội. Bộ Giáo dục đào tạo muốn khai tử môn lịch sử ở bậc PTTH, nay ngành văn hóa nghệ thuật lại dùng triển lãm để gieo rắc những thứ rác rưởi vào đầu giới trẻ.
Quá nguy hiểm!


Môi Trường ST.

BỘ MẶT MỚI CỦA CHIẾN LƯỢC "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" TRONG CỤC DIỆN THẾ GIỚI HIỆN NAY!

         Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, thế giới có nhiều thay đổi sâu sắc. Cùng với sự dịch chuyển trọng tâm quyền lực, các nước lớn cạnh tranh gay gắt, thực hiện can thiệp linh hoạt hơn, kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau để xác lập vị thế. Trong bối cảnh đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên nhiều phương diện ngày càng tinh vi hơn. Nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt mới của chiến lược này có ý nghĩa định hướng chiến lược trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam hiện nay.

Cục diện quan hệ quốc tế mới - nguyên nhân của sự điều chỉnh
chiến lược “diễn biến hòa bình”
“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự(1). Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”, có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này, “diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”.

Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực đối đầu bị phá vỡ, lợi thế tạm thời nghiêng về phía các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhân loại đang dần bước vào thời kỳ hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Đây là lúc các thế lực thù địch rút kinh nghiệm, quá trình tiến hành và chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những bước điều chỉnh cơ bản về phương thức, thủ đoạn cho phù hợp với những thay đổi mới của tình hình, khoét sâu thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ yếu thông qua “thẩm thấu hòa bình”, “ngoại giao thân thiện”, hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại... để “hoàn thành nốt mục tiêu” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, xác lập lại trật tự thế giới mới do các nước tư bản lãnh đạo, chi phối.

Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”(2). Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay
Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng, nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải do sự chống phá từ bên ngoài (?!). Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là “ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng cách mạng. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, nhất là trong trường hợp số đông quần chúng nhân dân bị mê hoặc, tin theo lời hứa hão huyền bằng các khẩu hiệu lòe bịp, bị “sập bẫy” giương sẵn của các trung tâm quyền lực, các tổ chức phản động quốc tế luôn rắp tâm “đục nước béo cò”, tạo cớ can thiệp, chống phá.

Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.

Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm... thì đó là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”.

Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa bình)(3), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là “bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm 2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: Một là, hình thành các hoạt động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất ổn. Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. Ba là, tạo cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... Bốn là, cài cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của họ. Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy luật(?!). Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được “hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản kháng phi bạo lực”(4), nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng, bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép”(5) mới.

Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.

Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong.

Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.

Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.
----------------------------------------
(1) Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 303
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 30 - 31
(3) Học thuyết này dựa trên nội dung cuốn sách “Từ độc tài đến dân chủ” (From dictatorship to democracy) do Giên Sáp-pơ - một nhà hoạt động xã hội ở Mỹ, Giáo sư Đại học Massachusettes Dartmouth (Mỹ) viết về phong trào dân chủ ở Mi-an-ma năm 1993 sau khi bà A-ung San Su Ky, lãnh tụ phe đối lập, Chủ tịch Đảng Liên minh quốc gia vì dân chủ Mi-an-ma bị chính quyền cầm tù.
(4) “198 methods of nonviolent action” - Đây cũng là một cuốn sách đã xuất bản của Giên Sáp-pơ.
(5) Một dạng thức chiến tranh mà chủ thể tiến hành sử dụng chủ yếu các biện pháp phi quân sự được hỗ trợ bằng hành động quân sự với mục đích lật đổ chính quyền đương nhiệm của một quốc gia không cùng quỹ đạo; bắt đầu bằng “diễn biến hòa bình” tạo bất ổn, gây biến động, bạo loạn, khủng bố, xung đột, nội chiến, can thiệp quân sự... và kết thúc bằng hành động xâm lược quy mô lớn.
(6) Theo số liệu thống kê của Cục Bảo vệ an ninh quân đội, hiện nay, các thế lực thù địch đang sử dụng trên 40 đài phát thanh, truyền hình; 400 tờ báo và tạp chí tiếng Việt; 66 nhà xuất bản để tuyên truyền chống phá Việt Nam./.


Yêu nước ST.

Tài sản tham nhũng chắc chắn sẽ bị thu hồi

 

Trước đây, tài sản tham nhũng là tài sản của người tham nhũng, nếu chuyển cho người khác thì rất khó thu hồi. Nhưng bây giờ, tài sản tham nhũng là tài sản có nguồn gốc tham nhũng. Nếu chứng minh được quá trình hình thành tài sản đó do nguồn gốc tham nhũng, dù mang tên người khác vẫn có thể thu hồi. Đó là một sự thay đổi rất quan trọng. Trước đây có chuyện “hy sinh đời bố, củng cố đời con”, chết là hết, còn bây giờ không có chuyện đó. Việc áp dụng biện pháp cứng rắn với một tập đoàn lớn, có tầm ảnh hưởng quan trọng lên kinh tế quốc gia cũng chính là lời tuyên bố: Pháp luật không khoan nhượng với bất kỳ cá nhân, đoàn thể nào. Đây chính là lời cảnh tỉnh, răn đe mạnh mẽ nhất cho tất cả các doanh nghiệp lớn nhỏ trên cả nước.

 

Gần đây, cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an đề nghị chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo các đơn vị chức năng rà soát, cung cấp thông tin, tài liệu về tài sản (bất động sản, cổ phần/vốn góp, cổ phiếu…) đứng tên ông Trịnh Văn Quyết, bà Trịnh Thị Thúy Nga (em gái ông Quyết), bà Trịnh Thị Minh Huế (em gái ông Quyết) và bà Lê Thị Ngọc Diệp (vợ ông Quyết). Ngoài ra, công an cũng đề nghị tạm dừng biến động (giao dịch chuyển nhượng, mua, bán, cho, tặng, cầm cố, thế chấp,…) đối với tài sản (bất động sản, cổ phần/vốn góp, cổ phiếu…) của ông Trịnh Văn Quyết và các cá nhân nêu trên. Động thái kiểm soát và phong toả tài sản của các bị cáo trên là một nước đi rất kịp thời của Bộ Công an nhằm ngăn chặn hành vi rửa tiền và tẩu tán tài sản. Trước đây, việc bắt giữ và xét xử có diễn ra thì tài sản thu hồi cũng khó hoặc là không đủ.

 

Không những là ông Trịnh Văn Quyết mà tất cả những doanh nhân, tỷ phú hay tập đoàn nào cũng vậy. Bất kể có hành vi trái phạm luật, sở hữu tài sản bất hợp pháp đều sẽ bị xử lý nghiêm minh. Về tài sản bất minh, nếu đầu vào quản lý chặt, tài sản thò ra, thụt vào đều biết hết. Phần tài sản tăng lên đáng kể đó, bị can phải chứng minh được, nếu không sẽ bị quy vào tài sản bất minh, hay buôn lậu, trốn thuế.

 

Việt Nam luôn coi việc thượng tôn pháp luật là yếu tố hàng đầu để xây dựng đất nước vững mạnh, để làm được điều đó thì không những đất nước phải ra sức bảo vệ, củng cố pháp luật mà người dân còn phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Bất kỳ một hành vi nào làm tổn hại đến tính công minh của pháp luật và quyền lợi của người dân đều sẽ bị trừng trị thích đáng, không khoan nhượng./.

Thấy gì qua thủ đoạn đòi trả tự do cho Châu Văn Khảm

Cứ vào mỗi dịp đầu năm là tổ chức khủng bố Việt Tân cùng các đối tượng chống phá Việt Nam ở hải ngoại lại lu loa đòi trả tự do cho Châu Văn Khảm. Đây là một thành viên cộm cán của tổ chức này bị bắt “nhân dịp” nhập cảnh trái phép về Việt Nam để thực hiện các hoạt động “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”. Vậy mục đích của những đối tượng này là gì?

Theo cáo trạng thì vào đầu tháng 1.2019, Châu Văn Khảm nhập cảnh vào Campuchia, sau đó sử dụng giấy chứng minh nhân dân mang tên Chung Chính Phi để xâm nhập bất hợp pháp vào Việt Nam qua biên giới đường bộ Campuchia. Hoạt động tại Việt Nam, Châu Văn Khảm đã lôi kéo, kết nạp Nguyễn Văn Viễn, Trần Văn Quyền vào tổ chức khủng bố Việt Tân bằng cách cho tiền, vận động. Các đối tượng này giúp Khảm làm giả giấy tờ cho các thành viên trong tổ chức khủng bố Việt Tân; khảo sát một số tuyến đường có lắp đặt vị trí camera để cung cấp cho Đỗ Hoàng Điềm; khảo sát các tuyến xâm nhập đường bộ khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia; xuất cảnh sang Campuchia tham gia lớp huấn luyện do tổ chức khủng bố Việt Tân tổ chức.

Các cơ quan chức năng của Việt Nam đã nhiều lần khẳng định phiên tòa xét xử Châu Văn Khảm và đồng phạm thuộc thành viên tổ chức khủng bố Việt Tân đã diễn ra công khai, minh bạch, theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật Việt Nam, bảo đảm đầy đủ các quyền của các bị cáo. Việt Nam không hề có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, một khái niệm mơ hồ mà chỉ có những kẻ vi phạm pháp luật bị xét xử theo đúng thực tế pháp luật.

 Hành vi phạm tội của Châu Văn Khảm đã rõ ràng như vậy, luật pháp Việt Nam luôn công bằng. Vậy nhưng những tổ chức như Việt Tân lại cố tình ủng hộ, đòi thả tự do cho cho hắn. Đây rõ ràng là thủ đoạn nhằm hạ thấp tình hình thực thi pháp luật tại Việt Nam, hạ thấp uy tín sự lãnh đạo của Chính phủ, của Đảng, cuối cùng là phá hoại sự phát triển của đất nước Việt Nam./.


Một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam khi cuộc cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trên lĩnh vực an ninh - chính trị

 Sự cọ xát và cạnh tranh, điều chỉnh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn, nhất là Mỹ và Trung Quốc, với những đặc điểm mới, đang và sẽ tác động sâu rộng đến tình hình an ninh - chính trị khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, khu vực Đông Nam Á là nơi tập trung nhiều lợi ích “cốt lõi” của Trung Quốc, cũng là địa bàn trọng điểm để Mỹ tập trung gây sức ép, cạnh tranh, đối đầu với Trung Quốc. Do đó, cả Mỹ và Trung Quốc sẽ gia tăng tập hợp lực lượng tại khu vực. Cục diện khu vực trong thời gian tới sẽ là việc các nước thúc đẩy xây dựng trật tự mới thay thế nguyên tắc cân bằng quyền lực trước đây. Các quốc gia gần nhau về lập trường trong các vấn đề chung của khu vực sẽ dần dần hình thành xu hướng liên minh, liên kết mới. Các liên minh, liên kết này sẽ đóng vai trò định hình lại cách thức quản trị khu vực. Đặc biệt, tình hình Biển Đông có thể có những phức tạp mới với những toan tính của các nước lớn trong bối cảnh các nước trong khu vực đang phải tập trung phòng, chống dịch bệnh COVID-19.

Bối cảnh, tình hình mới này đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu kỹ, đánh giá đúng bản chất của vấn đề, đưa ra những dự báo chính xác về xu hướng vận động cùng những tác động của nó để chủ động tìm đối sách phù hợp nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro, củng cố và tăng cường tốt nhất các lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thứ nhất, thống nhất trong tư tưởng và nhận thức về vai trò, vị trí của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương; cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong bối cảnh Mỹ - Trung Quốc gia tăng cạnh tranh chiến lược. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhận định: “Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có vị trí trọng yếu trên thế giới, tiếp tục là động lực quan trọng của kinh tế toàn cầu, song tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định do cạnh tranh chiến lược, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên. Tình hình Biển Đông diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định của khu vực và môi trường đầu tư phát triển”(10). Việt Nam ở vị trí trung tâm của khu vực, với vị thế, uy tín quốc tế ngày càng cao, có “giá trị chiến lược” đối với các nước lớn, cần tiếp tục theo dõi sát diễn biến cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, tổ chức nghiên cứu ở các cấp độ để có chiến lược, phương án tận dụng cơ hội, điều kiện thuận lợi và mặt tác động thuận, hạn chế tối đa những tác động không thuận từ cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc. Cuộc cạnh tranh này dù gay gắt, đối đầu toàn diện như hiện nay vẫn đang ở giai đoạn khó đoán định, do vậy rất cần sự thận trọng trong lựa chọn những nội dung, hình thức, mức độ hưởng ứng khi tham gia các đề xướng của Mỹ hay Trung Quốc. Mọi sự lựa chọn tham gia đều phải trên cơ sở bảo đảm lợi ích của Việt Nam, với tinh thần chủ động, tránh để rơi vào thế bị động, bất lợi về chiến lược.

Thứ hai, tiếp tục triển khai chủ trương “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy”; cụ thể hóa và đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập đi vào chiều sâu, thực chất, tạo sự đan xen gắn kết giữa lợi ích của ta với các nước. Thực hiện cân bằng linh hoạt ảnh hưởng cũng như lợi ích trong quan hệ với cả Mỹ và Trung Quốc; đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt quan điểm “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa” của Đảng và Nhà nước ta đã được đề ra tại Đại hội XIII; tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung.

Thứ ba, thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hòa bình và phát triển với cả Mỹ và Trung Quốc, tránh bị rơi vào thế phải “chọn bên”, mặc dù có thể chưa xảy ra trong ngắn hạn. Đối với Mỹ, sau gần 30 năm bình thường hóa quan hệ (từ năm 1995), quan hệ hợp tác giữa hai nước đã đạt được nhiều tiến triển thực chất, toàn diện, trải dài trên cả bình diện song phương và đa phương, cùng nhiều lĩnh vực hợp tác, từ chính trị - ngoại giao, kinh tế, khoa học - công nghệ cho đến quốc phòng - an ninh. Mỹ ngày càng đánh giá Việt Nam là một trong những nhân tố có tầm ảnh hưởng trong IPS, cũng như là một “mắt xích” quan trọng trong chuỗi cung ứng hàng hóa toàn cầu. Mỹ cũng đã và đang coi Việt Nam như một đối tác bình đẳng, quan trọng, có cùng trách nhiệm trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của Việt Nam và khu vực. Hơn nữa, là quốc gia đóng vai trò chi phối trong nhiều tổ chức quốc tế và trong quan hệ với các nước nên việc thúc đẩy quan hệ với Mỹ tạo cơ hội cho Việt Nam tiếp cận với một cường quốc có thị trường lớn, tiềm lực kinh tế, khoa học - công nghệ mạnh; đồng thời, góp phần tạo dựng một môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho Việt Nam có thể tập trung vào thực hiện các mục tiêu chiến lược của mình cả về kinh tế và quan hệ quốc tế. Duy trì, phát triển quan hệ tốt đẹp với Mỹ cũng là cầu nối để Việt Nam mở rộng các quan hệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi hơn để nâng cao hơn vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đối với Trung Quốc, tiếp tục thắt chặt hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc. Bên cạnh những nét tương đồng về văn hóa, kể từ khi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 18-1-1950, nhất là sau sự kiện hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, vượt qua nhiều thách thức, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc với cơ sở bền vững truyền thống được các nhà lãnh đạo tiền bối trực tiếp kiến lập, dày công vun đắp, đã phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên. Đây là những điều kiện thuận lợi cơ bản giúp Việt Nam triển khai hiệu quả chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Có thể nói, cạnh tranh chiến lược nước lớn trong cục diện khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ngày càng phức tạp, gay gắt, chủ yếu xoay quanh trục quan hệ Mỹ - Trung Quốc. Bên cạnh đó, dịch bệnh COVID-19 đã và đang ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội và giao lưu quốc tế... Bối cảnh này tác động mạnh mẽ, sâu sắc và nhiều mặt tới môi trường an ninh, phát triển và đối ngoại của Việt Nam, mở ra cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề mới phức tạp hơn đối với sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước, đòi hỏi Việt Nam cần thận trọng và cân nhắc kỹ các bước đi, tiếp tục có những biện pháp chủ động, linh hoạt trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, trên cơ sở thế và lực mới của đất nước./.

Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (Trung Quốc) và Chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương an toàn và thịnh vượng” (Mỹ) đều nhằm xác lập lại “một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” theo cách riêng của mỗi nước

 Với chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (IPS) dưới thời kỳ Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm hay chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương an toàn và thịnh vượng” mà chính quyền Tổng thống Mỹ Giô Bai-đơn đang triển khai hiện nay đều hướng tới mục tiêu xác lập các nguyên tắc về tôn trọng chủ quyền và độc lập của các quốc gia, giải quyết hòa bình các tranh chấp, thương mại tự do và công bằng, tuân thủ luật pháp quốc tế, minh bạch và quản trị hiệu quả. Để đạt được mục tiêu đó, chính quyền Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn đã triển khai hàng loạt hoạt động, như thắt chặt và nâng cấp các liên minh truyền thống tại khu vực, ưu tiên nguồn lực quốc phòng - an ninh cho các đối tác, gia tăng các hoạt động của quân đội Mỹ trên toàn khu vực, tham gia tích cực các thể chế an ninh đa phương, tích cực phổ biến các giá trị dân chủ, tự do của Mỹ... tại các quốc gia trong khu vực.

Trong khi đó, Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) của Trung Quốc dù không đề cập đến các hoạt động an ninh - chính trị, song hướng tới việc nâng cao uy tín của Trung Quốc trong khu vực, bảo đảm an ninh cho các hoạt động logistics của Trung Quốc không bị Mỹ cản trở. Thậm chí, thông qua BRI, Trung Quốc sẽ giành được quyền tiếp cận cảng hoặc các căn cứ quân sự mới, giúp tăng cường sức mạnh của lực lượng hải quân Trung Quốc. Năm 2019, Trung Quốc công bố Sách trắng Quốc phòng với tên gọi “Quốc phòng Trung Quốc trong kỷ nguyên mới”, đề cập đến các mục tiêu chính sách, cải cách, các nhiệm vụ và vai trò phòng thủ của lực lượng vũ trang Trung Quốc trong “kỷ nguyên mới”. Trung Quốc cho rằng, “kỷ nguyên mới” là môi trường an ninh quốc tế đang thay đổi với sự gia tăng chủ nghĩa bá quyền, chính trị cường quyền, chủ nghĩa đơn phương, chiến tranh và xung đột xảy ra liên tục trong khu vực. Sách trắng Quốc phòng ra đời trong bối cảnh quan hệ Mỹ - Trung Quốc đang có nhiều căng thẳng, trong đó “Chiến lược An ninh quốc gia năm 2017” và “Chiến lược Quốc phòng năm 2018” của Mỹ xác định Trung Quốc là “cường quốc xét lại”, “đối thủ cạnh tranh chiến lược số 1”. Sách trắng Quốc phòng năm 2019 phản ánh nhận thức của Trung Quốc về mối đe dọa từ những chính sách của Mỹ đối với an ninh toàn cầu./.

Xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo động lực phát triển đất nước nhanh và bền vững trong thời gian tới

 Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc nâng cao nhận thức, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ; chú trọng xử lý hài hòa mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội.

Nâng cao nhận thức, chú trọng xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu, có tính quyết định đối với thành công của việc đẩy mạnh thực hành dân chủ rộng rãi và thực chất trong Đảng và trong xã hội. Những quan điểm, luận điểm cốt lõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội cần được Đảng ta kiên định vận dụng sáng tạo trong giai đoạn mới. Muốn vậy, yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra là phải tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội, tạo cơ sở lý luận, khoa học vững chắc để nâng cao, thống nhất nhận thức và từ đó, có căn cứ tổ chức triển khai, xử lý hài hòa mối quan hệ này trong bối cảnh mới.

Thứ hai, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng, giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội; đồng thời, gia tăng đối thoại để mở rộng dân chủ.

Cần ra sức học tập, nắm vững nội dung cốt lõi tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ để vận dụng sáng tạo trong thực tiễn, tạo nên sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp và động lực phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới. Trước hết, Đảng phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức của đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng, vị trí, vai trò, ý nghĩa của mối quan hệ giữa dân chủ trong Đảng và xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình thực hành dân chủ, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xã hội ngày càng văn minh.

Thực tế cũng cho thấy rằng, dân chủ luôn đi đôi với đối thoại, đặc biệt là đối thoại về những vấn đề được đảng viên, dư luận quan tâm, còn những ý kiến khác nhau. Theo đó, cần mở rộng các hình thức dân chủ, nhất là tăng cường đối thoại (cả trong Đảng và trong xã hội) để đi đến thống nhất, tạo sự đồng thuận trong nhận thức và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, trong điều kiện Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền thì đối thoại cởi mở và thực hành dân chủ rộng rãi luôn là phương thức, chiến lược quan trọng để có thể tận dụng, phát huy được trí tuệ của toàn Đảng và toàn thể nhân dân.

Thứ ba, nâng cao năng lực, hoàn thiện cơ chế thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong thực hành dân chủ, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội.

Muốn phát huy, mở rộng và thực hành dân chủ trong Đảng có hiệu quả và thực chất thì yêu cầu đặt ra cấp thiết hiện nay là, cần không ngừng tập trung nâng cao nhận thức, năng lực thực thi, củng cố, hoàn thiện cơ chế thực hành dân chủ trong Đảng để dân chủ “thấm sâu” và được thực hiện trong mọi hoạt động của Đảng, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, cấp ủy và tổ chức đảng các cấp. Tiếp tục phát huy trách nhiệm nêu gương của các cấp ủy, người đứng đầu, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược về thực hành dân chủ trong Đảng và tại địa phương, cơ quan, đơn vị để nhân dân tin tưởng; tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội.

Trên cơ sở các quy định được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành thời gian qua, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội quán triệt, cụ thể hóa, xây dựng thành các quy định cụ thể về nêu gương thực hành dân chủ sao cho sát hợp với chức năng, chức trách, nhiệm vụ của từng tổ chức, lực lượng và mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị công tác; qua đó, tạo thành phong trào thực hành dân chủ sâu rộng, hiệu quả, thiết thực, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả trong toàn hệ thống chính trị, đi đôi với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Giữ vững các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và đề cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nghiêm túc thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo việc đổi mớí, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng cấp, từng ngành, từng địa phương; xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu. Ở đây, cần chú ý “đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Chính phủ, chính quyền các địa phương… với các cơ quan, đơn vị của Đảng, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, hệ thống các cơ quan tư pháp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm cả hệ thống tổ chức bộ máy luôn luôn vận hành một cách đồng bộ, thống nhất” .

Thứ năm, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội; nhanh chóng nhận diện và giải quyết kịp thời những rào cản, “điểm nghẽn” nảy sinh để có thể xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ này trong thực tế.

Thời gian qua, tuy dân chủ trong Đảng và trong xã hội đã được mở rộng, quá trình thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đáng ghi nhận; nhưng có lúc, có nơi vẫn còn tình trạng một số cán bộ, đảng viên, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị và người dân chưa nhận thức và thực hành dân chủ đầy đủ, làm cho mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội chưa gắn kết và được xử lý hài hòa. Do vậy, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải tiến hành khảo sát kỹ lưỡng, tổng kết thực tiễn thực hành dân chủ, thường xuyên tìm tòi, phát hiện và đúc kết, hoàn thiện các hình thức thực hiện dân chủ, kể cả dân chủ đại diện lẫn dân chủ trực tiếp. Nhanh chóng nhận diện những rào cản, nguy cơ… gây cản trở hoặc có tác động tiêu cực tới mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội; đặc biệt là, tập trung khắc phục tình trạng một số đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý buông lỏng nguyên tắc tập trung dân chủ, có biểu hiện độc đoán, chuyên quyền, lộng quyền, gây bức xúc dư luận xã hội và nhân dân; đề cao cảnh giác trước các hành vi lợi dụng dân chủ, dân chủ quá trớn, dân chủ cực đoan, “bất tuân dân sự” đe dọa đến trật tự, kỷ cương, pháp luật, gây bất ổn đến trật tự, an ninh, an toàn xã hội.

Thứ sáu, phát huy vai trò chủ thể, tinh thần tích cực, chủ động của nhân dân tham gia góp ý xây dựng, kiểm tra, giám sát quá trình dân chủ hóa trong Đảng và hệ thống chính trị; tăng cường vai trò của báo chí, truyền thông đối với quá trình thực hành dân chủ trong Đảng và xã hội. 

Hoàn thiện cơ chế để bảo đảm quyền tham gia ý kiến trực tiếp của người dân trong hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật; quyền giám sát trực tiếp của cộng đồng tại cơ sở đối với những vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân, theo đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”; thực hiện có hiệu quả Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong phản biện và giám sát xã hội, trong đó có phản biện và giám sát quá trình thực hành dân chủ trong Đảng và xã hội. Báo chí cần thực hiện nhiệm vụ là kênh thông tin hữu ích giúp Đảng, Chính phủ lãnh đạo, điều hành và quản lý tốt hơn các lĩnh vực trong đời sống xã hội, nhất là lên án, đấu tranh chống lại các biểu hiện vi phạm dân chủ, những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân, góp phần tăng cường hiệu quả thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội.

Thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội bằng và thông qua việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ ở các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị… để tăng cường vị thế, vai trò chủ thể xã hội của nhân dân, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, thực hành dân chủ trong Đảng. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới đồng bộ, toàn diện ở nước ta hiện nay, “dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân”./.


Thực hành dân chủ trong xã hội

 Thực hành dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính là để dân thực sự là chủ và làm chủ xã hội, để dân chủ được phát huy đến cao độ, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện trên thực tế và đi vào thực chất; qua đó, xây dựng chế độ ta thực sự là một chế độ dân chủ và tạo ra “cái chìa khóa vạn năng” để Đảng ta cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thành công. Thực hành dân chủ chính là quá trình huy động, thu hút sự tham gia và phát huy được tối đa quyền hạn, lực lượng của toàn dân để thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng vì lợi ích của nhân dân, phát triển đất nước. Do đó, “phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia thì mới chắc chắn thành công. Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng”.

Người chỉ rõ, thực hành dân chủ trong xã hội phải hướng đến mục tiêu làm cho dân “ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do”; công bằng và bình đẳng trước pháp luật và trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dân chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là mục tiêu để xây dựng chế độ mới, vì lợi ích của nhân dân. Người quan tâm tới nội dung toàn diện của dân chủ, trong đó có thực hành dân chủ trong xã hội. Mục tiêu dân chủ được thể hiện trước hết ở dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong chính trị; cùng với đó, còn là dân chủ trong văn hóa, trong phát triển xã hội và quản lý xã hội, hướng trực tiếp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội cấp thiết, tổ chức thực hiện chính sách xã hội và an sinh xã hội cho con người, vì con người. Không chỉ thế, theo Người, thực hành dân chủ còn là phải bảo đảm dân chủ trong đời sống tinh thần của xã hội, nghĩa là phải tạo điều kiện, cơ hội để mọi người dân dám nghĩ, dám nói lên những suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của mình; đồng thời, phải bảo đảm cho họ có được tự do về tư tưởng, thực hiện dân chủ trong sáng tạo văn hóa và thụ hưởng những thành quả văn hóa.

Bởi quan niệm dân chủ là mục tiêu, nên ngay khi chính thể dân chủ vừa mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, có mặc, có nhà ở, được học hành, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do mà họ xứng đáng được hưởng với tư cách người chủ. Người còn nói rõ, dân chỉ biết tới giá trị của tự do, dân chủ khi dân được ăn no, mặc ấm. Nước nhà tranh đấu được độc lập, tự do mà “dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”, chẳng để làm gì. Chính vì vậy, Người yêu cầu Đảng và Chính phủ cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần sâu sắc phương châm “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.

Thực hành dân chủ trong xã hội là biện pháp, chính sách hữu hiệu nhằm thực hiện mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ phải nâng cao đời sống của nhân dân; cán bộ của Đảng và chính quyền các cấp từ trên xuống dưới đều phải hết sức quan tâm đến mọi mặt đời sống của nhân dân. Người thường xuyên nhấn mạnh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng môi trường dân chủ, tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Đồng thời, thực hành dân chủ còn có vai trò, tác dụng giải phóng tiềm năng sáng tạo của nhân dân và trở thành động lực của quá trình xây dựng một xã hội tiến bộ và phát triển, văn minh. Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết: “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên” (6) và thực hành dân chủ chính là “cái chìa khóa vạn năng” có thể giải quyết mọi khó khăn, tạo động lực để phát triển đất nước./.

Thực hành dân chủ trong Đảng

 Thực hành dân chủ trong Đảng là tiến trình thực hiện những quy định, nguyên tắc… của Đảng nhằm bảo đảm quyền của đảng viên một cách thường xuyên, liên tục; trở thành chế độ, nền nếp trong mọi sinh hoạt và hoạt động của Đảng, hướng đến và bảo đảm sự tập trung, thống nhất, tạo sự đoàn kết, nhất trí, tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng.

Vì quan niệm dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ, cho nên dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất cũng là quyền làm chủ của mỗi đảng viên trong mọi hoạt động của Đảng, là sự bình đẳng của tất cả đảng viên trước Điều lệ, các nghị quyết và các quy định của Đảng. Nếu dân chủ là “của quý báu nhất của nhân dân” thì dân chủ trong Đảng cũng là “của quý báu nhất” của Đảng; thực hành dân chủ trong Đảng cũng là “cái chìa khóa vạn năng” giúp Đảng vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành sứ mệnh, nhiệm vụ chính trị vẻ vang. 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở rộng thực hành dân chủ trong Đảng là điều cần thiết, bởi lẽ đảng viên của Đảng phải làm việc, lãnh đạo theo phong cách dân chủ, tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ thì mới xây dựng được nước ta là nước dân chủ, chế độ dân chủ, Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Theo đó, Đảng “phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải gom góp ý kiến của đảng viên để giúp đỡ Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt” (1). Ngược lại, sự mất dân chủ trong Đảng sẽ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết và làm nảy sinh các thói xấu, rất nguy hại như “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, “thậm thà thậm thụt”.

Người nhấn mạnh, Đảng ta phải được tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là, tất cả mọi công việc của Đảng đều được toàn thể các đảng viên tham gia, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời, tất cả những người có trách nhiệm trong Đảng, tất cả các ban lãnh đạo và các cơ quan của Đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn nếu không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề mấu chốt của thực hành dân chủ trong Đảng chính là phải thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, còn được gọi là “dân chủ tập trung”. Dân chủ tập trung không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, mà còn là chế độ lãnh đạo của đảng cầm quyền. “Tập thể lãnh đạo là dân chủ”, “cá nhân phụ trách là tập trung” và “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”. Khẳng định vai trò quan trọng của nguyên tắc dân chủ tập trung đối với thực hành dân chủ trong Đảng, Người chỉ rõ: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.

Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc.

Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau” (3). Như vậy, trong điều kiện một đảng cầm quyền thì tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách vừa là nguyên tắc lãnh đạo, vừa là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Đồng thời, sức mạnh của Đảng được tạo dựng bởi đội ngũ cán bộ, nên muốn mở rộng dân chủ trong Đảng thì công tác cán bộ phải thực sự dân chủ, công tâm, minh bạch. 

Người nhấn mạnh, thực hành dân chủ là cơ sở để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Thực hành dân chủ trong Đảng, từ Trung ương đến cơ sở, là nền tảng vững chắc để xây dựng một Đảng đoàn kết, thống nhất, trở thành hạt nhân, động lực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính vì vậy, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn và yêu cầu “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”. 

Thấm nhuần những lời căn dặn của Người, Đảng ta chủ trương tăng cường thực hiện dân chủ trong mọi sinh hoạt của Đảng, coi đây là cơ sở quan trọng để tạo dựng và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo nên sức mạnh của Đảng. Đảng chủ trương nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy và chi bộ; tạo điều kiện để mọi đảng viên, dù ở cương vị nào cũng được bình đẳng thực hiện quyền và trách nhiệm của mình, được tham gia quyết định công việc của Đảng, được chất vấn, tự phê bình và phê bình trong phạm vi tổ chức về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp; trong đó, có quyền được thông tin, thảo luận, nêu ý kiến riêng, được bảo lưu ý kiến và trình bày ý kiến trong tổ chức đảng./.

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2022

Ngại phê bình, góp ý - không chỉ là suy thoái...

 

Thời gian qua, khá nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật và pháp luật, phải xử lý nghiêm khắc. Điều rất đáng báo động là, đa số những người này có vi phạm kéo dài, thậm chí suốt vài năm và với nhiều hành vi, thế nhưng cấp ủy, chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác lại “không biết”, hoặc biết rõ nhưng...“mũ ni che tai”!

VIỆT NAM KHÔNG CHỌN BÊN MÀ CHỌN CHÍNH NGHĨA, CÔNG BẰNG, LẼ PHẢI.

 Thủ tướng: Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công

lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên

Hợp Quốc.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA


“Tất cả mọi người đều phải trông thấy ai sai thì phê bình. Phê bình để sửa chữa,

để tiến bộ. Không phê bình là tự làm mất quyền dân chủ”.

NỔI THÊM “LÒ LỬA”, TRÊN DƯỚI ĐỒNG LÒNG

 Đảng ta đã thể hiện quyết tâm cao nổi thêm những “lò lửa” mới, quyết liệt thực

hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần đã được đồng

chí Tổng bí thư khẳng định - "Trên Dưới đồng lòng, Dọc Ngang thông suốt!".

Đề án Thành lập Ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực cấp

tỉnh, do Ban Nội chính Trung ương chủ trì xây dựng, đã được đưa ra xem xét,

quyết định tại Hội nghị Trung ương 5 Khoá XIII, bế mạc ngày 10/5. Ban chấp

hành Trung ương Đảng ta đã thống nhất rất cao về chủ trương thành lập Ban chỉ

đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực, coi đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp

với thực tế hiện nay. Quyết sách tại Hội nghị giống như một tiếng trống lệnh,

quyết liệt nổi thêm những “lò lửa” mới nhằm loại bỏ những “cành củi sâu mọt,

mục ruỗng” một cách đồng bộ và liền mạch từ địa phương đến trung ương.