Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

LÀM RÕ NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA AN NINH MẠNG ĐỂ SẴN SÀNG ỨNG PHÓ

 

Đặc điểm của an ninh mạng

Tính toàn cầu

Tính toàn cầu xuất của an ninh mạng phát từ tính chất không biên giới của không gian mạng, hoạt động trên không gian mạng không giới hạn bởi địa giới lãnh thổ và hành chính, có khả năng tác động đến toàn cầu, một quốc gia đơn lẻ không thể giải quyết hết được các nguy cơ, thách thức an ninh mạng.

Trên thực tế, những năm qua, các nguy cơ, thách thức tới từ không gian mạng, như: tấn công mạng nghiêm trọng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiến tranh mạng hầu hết đều không tới từ bên trong lãnh thổ quốc gia. Các hoạt động tương tác trên không gian mạng được thực hiện trên các dịch vụ xuyên biên giới, có tính chất toàn cầu, có khả năng liên kết và xử lý dữ liệu lớn, máy chủ xử lý dữ liệu được đặt tập trung ở một số địa điểm trên thế giới, cho phép công dân toàn cầu truy cập và sử dụng. Do đó, hợp tác quốc tế đối phó với những mối đe dọa dến từ không gian mạng đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia.

 Tính phi chính phủ

Nguy cơ, thách thức từ không gian mạng không xuất phát từ đường lối, chính sách của chính quyền mà có thể do một nhóm người, một tổ chức, cá nhân gây ra. Với tính toàn cầu, các nhóm tin tặc có thể được tập hợp từ nhiều nơi trên thế giới, hoạt động không giới hạn về thời gian. Nhóm tin tặc Anonymous đã tấn công, xâm nhập thành công vào hệ thống mạng của Bộ Quốc phòng Pháp, đánh cắp các thông tin nhạy cảm nhằm phản đối chính sách tăng cường xuất khẩu vũ khí của Chính phủ Pháp, đánh sập 20 trang web của Chính phủ Angola nhằm phản đối việc bỏ tù 17 nhà vận động hòa bình trẻ; tiến hành chiến dịch chúng tôi là những tin tắc tốt hơn “#OpISIS” tấn công Thổ Nhĩ Kỳ vì cho rằng nước này đang hỗ trợ Tổ chức Hồi giáo IS.

Tính tương đối

Các hành vi gây mất an ninh mạng có tác động tới nhiều lĩnh vực khác nhau.Hành vi tấn công mạng vào hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia có thể dẫn tới tình trạng khẩn cấp. Tháng 6/2017 đã xảy ra vụ tấn công mạng bằng mã độc vô cùng phức tạp với trên 2.000 cuộc tấn công nhằm vào các cơ quan, tổ chức của Nga và Ukraine, Ba Lan, Ý, Anh, Đức, Pháp, Mỹ và nhiều quốc gia khác... Về tính chất, các cuộc tấn công này đã gây nguy hại đến an ninh quốc gia, nhưng mục đích thực sự chỉ nhằm chiếm đoạt tài sản với giá trị tiền chuộc là 300 USD thanh toán bằng bitcoin cho dữ liệu đã bị mã hóa.

 Tính chuyển hóa

An ninh mạng có thể chuyển hóa từ vấn đề an ninh phi truyền thống trở thành vấn đề an ninh truyền thống.Vũ khí mạng có thể được sử dụng vào các hoạt động vũ trang và có sức sát thương không khác gì bom đạn truyền thống. An ninh mạng có quan hệ tác động qua lại với các vấn đề an ninh truyền thống, như: an ninh chính trị và an ninh quân sự.

Ở chiều ngược lại, xuất phát từ lợi ích chính trị, quân sự, các quốc gia không chỉ quan tâm bảo đảm an ninh mạng bằng năng lực công nghệ, chính sách, chiến lược mà còn quan tâm đến hoạt động tình báo mạng, gián điệp mạng, “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng, chiến tranh mạng.

An ninh mạng có quan hệ tác động qua lại, chồng lấn, chuyển hóa với các vấn đề an ninh phi truyền thống khác, như an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh tư tưởng - văn hóa, đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố. Nguyên nhân xuất phát từ thực trạng dịch chuyển dần các hoạt động kinh tế, xã hội và đời sống con người lên không gian mạng.

 Tính khó xác định.

Đến thời điểm hiện tại, chưa thể dự đoán được các mối đe dọa an ninh mạng sẽ xảy ra ở đâu, khi nào và hậu quả ra sao. Đặc tính ẩn danh và lan tỏa cực nhanh của không gian mạng khiến cho đến nay, việc truy nguồn các cuộc tấn công rất khó khăn. Ngay các cường quốc về an ninh mạng trên thế giới như Nga, Mỹ cũng chỉ dừng lại ở các cáo buộc đối phương thực hiện các hoạt động tấn công mạng, gián điệp mạng mà không thể đưa ra được bằng chứng cụ thể.

PHAO

TÌM HIỂU VỀ AN NINH MẠNG

           Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, an ninh mạng trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu, đóng vai trò quan trọng trong xây dựng xã hội thông tin và phát triển kinh tế tri thức. An ninh mạng thay đổi theo sự phát triển của khoa học công nghệ và không gian mạng. Nhiều quốc gia đã nhận thức rõ về những mối đe dọa đối với an ninh mạng, ban hành nhiều văn bản chính sách, văn bản pháp luật như luật nhằm tạo ra các thiết chế, cơ sở pháp lý chống lại các nguy cơ, thách thức từ không gian mạng. Một số quốc gia coi an ninh mạng là an ninh quốc gia, không thể có an ninh quốc gia nếu không có an ninh mạng. Một số quốc gia coi an ninh mạng là hoạt động bảo vệ tính toàn vẹn, bảo mật, sẵn sàng của thông tin.

Thế giới có 05 quan điểm về an ninh mạng.

Một là, an ninh mạng là tập hợp chủ trương, chính sách, học thuyết, biện pháp, lực lượng, quy tắc, sự bảo đảm để bảo vệ không gian mạng quốc gia, tài sản của các tổ chức, cá nhân.

Hai là, an ninh mạng là tập hợp các công nghệ, quy trình và thông lệ được đưa ra nhằm bảo vệ các mạng lưới, máy tính, chương trình và dữ liệu tránh bị tấn công, phá hủy hoặc truy nhập trái phép.

Ba là, an ninh mạng là an ninh công nghệ thông tin là hoạt động bảo vệ các máy tính, mạng lưới, chương trình và dữ liệu tránh bị truy cập trái phép, không có chủ đích, thay đổi hay phá hủy.

Bốn là, an ninh mạng liên quan đến việc bảo vệ thông tin và các hệ thống thông tin tránh khỏi các mối đe dọa từ không gian mạng, như: khủng bố mạng, chiến tranh mạng và gián điệp mạng.

Năm là, an ninh mạng là một bộ quy tắc hay tập hợp các công nghệ nhằm thực thi chính sách liên quan đến các khía cạnh khác nhau của việc sử dụng máy tính và liên lạc điện tử.

Ở nước ta, khoa học công nghệ và không gian mạng đã được ứng dụng sâu rộng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Bên cạnh đó, không gian mạng cũng đặt ra nhiều nguy cơ, thách thức, như: Chuyển hóa chính trị, tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiến tranh mạng, mất kiểm soát về an ninh mạng...Thực trạng, nguy cơ trên đã đặt ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng và ban hành văn bản luật về an ninh mạng để phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Ngày 12/6/2018, Quốc hội khóa XIV ban hành Luật số 24/2018/QH14 về an ninh mạng, với 07 Chương, 43 Điều quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng, triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Theo đó, an ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Khái niệm an ninh mạng trong Luật An ninh mạng thể hiện được tầm nhìn chính sách chiến lược, coi không gian mạng là một không gian mới, bên cạnh đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian. Không gian mạng phản ánh hoạt động của con người, tạo ra lợi ích và cũng mang tới nguy cơ, thách thức, tác động tới an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. An ninh mạng không chỉ giới hạn trong phạm trù bảo vệ an ninh quốc gia. An ninh mạng lấy con người làm trung tâm, bảo vệ con người trước các nguy cơ, thách thức tới từ không gian mạng.

PHAO

NẾU BẠN BẮN VÀO QUÁ KHỨ BẰNG SÚNG LỤC THÌ TƯƠNG LAI SẼ BẮN VÀO BẠN BẰNG ĐẠI BÁC!

Bạn sẽ nghĩ gì nếu như biết rằng có một nhóm rất đông các bạn trẻ, vượt tường lửa vào các trang mạng Trung Quốc, đón xem phim Vương Bài - bộ phim có nhiều tình tiết xúc phạm lịch sử Việt Nam trong cuộc chiến biên giới 1979. Thực ra xem phim thì không có gì đáng sợ, điều đáng sợ ở đây là các bạn xem phim, truyền tay nhau và viết rằng: “Học thêm lịch sử từ phía Trung Quốc để biết sự thật về Việt Nam”. Nhằm tránh bị lên án vì cái tên “Vương Bài”, nhiều người hâm mộ Việt Nam đã ghi tựa đề tiếng Trung là “王牌部队” nhằm lách việc bị lên án khi đăng thông tin, quảng bá và chia sẻ phim. Có một fan nữ bình luận trong nhóm hâm mộ diễn viên đóng chính ấy bình luận rằng: “Không phải tự nhiên mà Trung Quốc làm phim vu cáo Việt Nam xâm lược Trung Quốc trước. Không có gì hay lại là bưng bít”. Bạn sẽ nghĩ gì nếu như đọc được những bình luận bênh vực phía Hoa Kỳ trong vụ việc ném bom vào phố Khâm Thiên khiến khoảng gần 300 người Việt Nam thiệt mạng. Ví dụ như “phi công Mỹ không cố tình”, “phải bay cao tránh tên lửa nên ném đại trúng người dân chứ không phải là cố ý”, “trách chính quyền trước khi không di tản người dân”, “số liệu ở Khâm Thiên theo phía Mỹ là thổi phồng”... Liệu bạn có bức xúc không khi trong bài viết về phi công Vũ Xuân Thiều - người đã điều khiển MiG lao vào B52. Họ nói rằng anh “không đáng tôn vinh vì lãng phí máy bay và tiền ngân sách đào tạo phi công”, ví anh “ngờ nghệch” học tập theo các chiến cơ Thần Phong - hay còn gọi là phong cách chiến cảm tử Kamikaze của Nhật Bản. Một vài người khác, cho rằng anh “kém cỏi” và “lãng phí” khi không bắn trúng được B52… Trường hợp của anh Thiều, chúng ta không khuyến khích các phi công làm vậy, nhưng việc anh làm là một việc làm dũng cảm hết mực. Hãy nhớ về sự kiện Khâm Thiên và Bạch Mai trong những đêm ác liệt cuối 1972 đã khiến hàng trăm dân thường vô tội thiệt mạng… Có một bình luận vừa đắng, vừa mặn, vừa hài hước thế này: “Chúng nó nghĩ lái MiG đối đầu với B52 thêm đống F4 và F111, dễ như chơi Ace Combat 7 không bằng. Bác Thiều lao phi cơ vào đổi mạng với B52 để cứu thêm nhiều người dân vô tội khác sẽ thiệt mạng nếu chiếc phi cơ này cất cánh và rải bom thêm nhiều lần nữa. Giờ thì chúng nó xét lại và bảo bác là kém cỏi vì không bắn tên lửa trúng bố chúng nó…” Nếu bạn hay lướt mạng, sẽ thấy một số bạn trẻ “joke” về việc “tắt máy núp mây” - một kỹ thuật bay tránh radar của các phi công Việt Nam, sau đó bổ nhào tấn công máy bay Mỹ. Mặc dù sau này thuật ngữ này đã được chứng minh, nhưng đám trẻ này vẫn cố vin vào cái nghĩa đen “tức là tắt động cơ, núp vào trong đám mây rồi tấn công địch” để phủ nhận thành quả nỗ lực của những phi công anh hùng đạt đẳng cấp ACE như Nguyễn Văn Bảy hay sĩ quan dẫn đường máy bay Lê Thành Chơn. Hoặc nếu về cách đây mấy tháng, có một trending trên Tiktok nói cuộc chiến từ 1954 đến 1975 là “nội chiến”. Và kỳ lạ thay, trending này lại được hàng chục triệu lượt view, được viral một cách rầm rộ, người ta hành xử với trending với một tâm thế vui đùa, bỡn cợt với lịch sử… Nhưng không biết rằng như vậy không khác gì xát muối vào những thế hệ cựu chiến binh còn sống! Một vài minh chứng ở trên để chúng ta sẽ thấy rằng sự xuyên tạc, xét lại lịch sử đang ngày càng nhiều, ở một tầm vóc quy mô đang ngày càng lớn hơn. Điều gì gây ra thực trạng đó? Vì nhiều người trẻ không thích lịch sử? Vì tuyên truyền không đủ tốt? Vì quản lý báo chí và không gian mạng không tốt? Vì giáo dục? Hay vì lý do gì khác. Nhưng với bất cứ lý do gì, thì thực trạng này hoàn toàn có thể dẫn tới thảm họa “cách mạng màu”. Xin mượn một bình luận từ một bài viết trong nhóm Tìm hiểu lịch sử: “Đây là một điều nhức nhối từ xưa tới nay, bởi một bộ phận bạn trẻ Việt Nam tiếp cận các nguồn sử không rõ ràng, minh bạch, nhưng tự cho mình là đúng; hoặc chỉ xem nửa vời, qua loa rồi phô diễn thêm những cái hư cấu để làm lệch đi giá trị chính sử”. Một trong những lý khiến Liên Xô sụp đổ là vì chủ nghĩa xét lại được manh nha và hoạt động một cách rầm rộ. Ukraine rơi vào hoảng loạn và khủng hoảng trong bấy nhiêu năm qua vì một thế hệ trẻ hắt nước, chửi bới và tấn công những cựu binh chiến thắng và bứt bỏ thành quả cách mạng trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Chủ nghĩa xét lại sẽ khiến một dân tộc đánh mất bản chất anh hùng của dân tộc đó, một chủ nghĩa giúp dân tộc đó chiến thắng kẻ thủ và đoàn kết phát triển. Chủ nghĩa xét lại khiến những anh hùng trở thành những tội đồ, khiến những chiến công trở thành dĩ vãng. Thời nay, có lẽ bom đạn, súng ống không còn là thứ đáng sợ nhất nữa. Có một bình luận có lẽ khiến mình nhớ mãi: “Cứ mỗi dịp đặc biệt là chỉ thấy các cựu binh già đến thắp hương cho đồng đội cũ”.

NHIỀU NGƯỜI VIỆT BÊNH VỰC PHÁP, MỸ LÀ KHÔNG THUA TẠI VIỆT NAM, HỌ CHỈ RÚT LUI MÀ THÔI (?)

“Việt Cộng cứ nghĩ là Mỹ thua. Nhưng sự thật thì Mỹ chỉ rút quân thôi. Tôi có người nhà thuộc VNCH và người nhà tôi cùng quan điểm với người Mỹ”. “Năm 1972, nhân dân Hoa Kỳ biểu tình đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam nên quân đội Mỹ rút quân về chứ còn lâu mà thua nhé” “Mỹ rút quân thôi mà các bố Việt Cộng ảo tưởng. Mỹ lại ném cho 2 quả bom nguyên tử vào giữa Hà Nội, Hải Phòng như Hiroshima và Nagasaki lại giơ cờ trắng đầu hàng. Mỹ nó thương cho lại đéo biết gì” Đó là những bình luận cho rằng Mỹ chỉ rút lui tại Việt Nam tại video trên Tiktok từ bạn Sỹ Anh - một du học sinh Việt Nam tại Mỹ. Bạn này cho biết Mỹ dạy học sinh của họ là Mỹ sợ chủ nghĩa cộng sản lan ra các nơi nên họ chọn Việt Nam để ngăn chặn sự lan tỏa của chủ nghĩa cộng sản. Sau đó Mỹ rút quân vì “không muốn tiếp tục cuộc chiến tranh nữa” và Mỹ viết rằng “Hồ Chí Minh là một lãnh đạo độc tài” chứ không phải là một “người vĩ đại” như người Việt tôn thờ. Cũng trong một video trên Tiktok khác tóm tắt về cuộc chiến Điện Biên Phủ năm 1954, nhiều “người Pháp nói tiếng Việt” bình luận rằng “Việt Nam không thắng Pháp vì Pháp không sử dụng bom nguyên tử”, “Pháp tha cho Việt Nam nên không sử dụng bom nguyên tử ném vào Điện Biên”, “Việt Nam thiệt hại nhiều hơn nên không thể coi như là chiến thắng”... Trước hết, nhắc cho đám đám dốt về lịch sử, Pháp thử nghiệm thành công bom nguyên tử vào năm 1960 tại Algeria thuộc châu Phi với tên mã là Gerboise Bleue. Sau đó, Pháp thử nghiệm khoảng 13 lần nữa cho đến năm 1967. Tức là trong thời gian Pháp tiến đánh Việt Nam lần thứ 2 (1945 - 1954) thì Pháp chưa có bom nguyên tử. Vậy lấy đâu ra bom nguyên tử để ném xuống Điện Biên Phủ? Bom võ mồm à? Tiếp nữa, Pháp đóng quân tại lòng chảo Mường Thanh, còn quân ta đóng quân bao vây khu vực này ở những điểm cao hơn. Nếu ném bom nguyên tử xuống lòng chảo Mường Thanh thì khác gì Pháp “tự tay bóp dé” khiến 16 ngàn quân theo Pháp lên bảng đếm số? Có sáng kiến gì khôn hơn không? Hãy nhớ rằng quân ta và quân Pháp cách nhau chỉ vài cây số, trong khi bom nguyên tử có phạm vi sát thương hàng chục, hàng trăm km. Muốn Việt Minh thiệt hại thì quân Pháp ở Điện Biên Phủ cũng tèo theo là chắc. Dốt lịch sử cộng với tư duy tự nhục, xét lại thì đúng là combo thất bại của cuộc đời. Tiếp tục nói về chuyện “Mỹ rút lui tại Việt Nam” thì trang thống kê US Wings được viết bởi cơ quan thống kê Hoa Kỳ, sở hữu bởi một công ty quân sự tư nhân cũng ghi rõ rằng: “Mỹ không bị đánh bại ở Việt Nam. Quân đội Mỹ không thua một trận chiến nào. Việt Cộng và Cộng quân đã thiệt hại lớn”. Được rồi, nếu xét về thiệt hại nhân mạng, thì chúng ta phải khẳng định rằng quân Giải Phóng thiệt hại nhiều hơn quân Mỹ tại chiến trường miền Nam Việt Nam. Nhưng mấy ông Mỹ đúng là khôn lỏi, ông lấy số thiệt mạng của lính Mỹ ít hơn nhiều so với lính Việt Cộng để nói các ông không thất bại, nhưng cái phe mà các ông đứng đầu, bao gồm VNCH, Hàn, Thái, Úc… thì các ông không đưa ra. Việt Cộng có đối đầu với RIÊNG các ông đâu? Mà với cả một phe liên quan gồm nhiều quốc gia, phe phái. Ừ thì các ông thiệt hại ít hơn thì các ông không thua, nhưng mà phe của ông thua, đúng không? Kèo thơm thì nước Mỹ vĩ đại, kèo thối thì đổ tại đồng minh. Mà nếu các ông Mỹ và đám người Mỹ nói tiếng Việt cho rằng Mỹ không thua vì thiệt hại ít hơn. Vậy hãy điểm qua những thiệt hại chỉ riêng mặt trận trên không nhé. Từ 1954 đến 1975, Mỹ thiệt hại tới 10 - 12 ngàn thiết bị bay, máy bay, trực thăng, còn phía Việt Nam chỉ vào khoảng khoảng 200. Trong 24 phi công đạt đẳng cấp ACE (đẳng cấp bắn hạ 5 phi cơ trở nên) tại chiến tranh Việt Nam, phe Việt Cộng có tới 19 phi công, phe Mỹ chỉ có 5 phi công. Hoa Kỳ còn đạt được một thành tích “vô tiền khoáng hậu” là tất cả các loại máy bay được đưa đến Việt Nam đều bị bắn hạ. Trước trận Linebacker II thì quyết tâm đưa miền Bắc về thời đại đồ đá, thách phòng không Bắc Việt hạ được B52, sau trận thì… à mà làm éo gì còn sau đó nữa. Ngồi xuống, ký hiệp định và lượn! Lại thêm một kèo thơm thì gáy rõ to, kèo thiệt hại nhiều hơn thì im. Hay thắng ở đây là ném bom và gây thiệt mạng càng nhiều dân thường càng tốt? Nói “ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản và chống Trung Quốc” cũng chẳng đúng. Đầu tiên, thì chính người Việt đã tìm đến người Mỹ nhờ hỗ trợ, lên tiếng trong vấn đề độc lập, chủ quyền, chính người Mỹ từng đào tạo Việt Minh chống Nhật, hỗ trợ Việt Nam tham gia phe đồng minh. Nhưng sau đó, vì liên minh với Mỹ, chính Mỹ đã tạo điều kiện cho Pháp đánh Việt Nam lần 2. Thực tế, Việt Minh là một khối gồm nhiều giai cấp, tầng lớp, không chỉ bao gồm công nhân và nông dân. Mà nếu muốn chống Trung Quốc thì mang quân đi ốp Trung Quốc chứ tự dưng đem qua ốp Việt Nam (?) Sau năm 1975 lại quay qua chơi và làm thân với Trung Quốc (?) Tiếp nữa, Việt Nam không chủ trương mang chủ nghĩa cộng sản đi quảng bá cho các nước khác. Mỹ đã thành công trong việc chia đôi bán đảo Triều Tiên, nhưng lại thất bại rõ ràng ở Việt Nam, vì người Việt Nam coi tư tưởng cộng sản là nền tảng chính trị cho những mục tiêu vĩ đại hơn như giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ Quốc. Mỹ đã thành công trong việc “ngăn cách” bán đảo Triều Tiên nhưng lại thất bại trong việc chia đôi Việt Nam. Thậm chí còn khiến chủ nghĩa cộng sản trở nên lớn mạnh khắp Việt Nam ngay cả khi Mỹ còn đóng quân ở Việt Nam. Nói chung là, cứ tìm một lý do nào đó để giải thích cho sự thất bại của bản thân mà thôi. Không đạt được mục tiêu là thua, đồng minh bị đánh cho chạy sml là thua, còn Việt Nam đạt được mục tiêu là giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ Quốc là phe thắng, nói nhanh cho vuông! Ai cũng biết thành công lớn nhất của Mỹ là vươn lên thành siêu cường lớn nhất thế giới và đánh bại Liên Xô. Vậy thất bại lớn nhất nước Mỹ là gì? Đó là thất bại tại chiến trường Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên là người Mỹ lôi số người thiệt mạng ở chiến tranh Việt Nam ra so sánh với đại dịch Covid-19. Là người Việt Nam, phải thông hiểu lịch sử Việt Nam, phải học lịch sử bằng cái tâm và trí óc, và muốn nói về lịch sử đôi khi cũng cần trình độ nhất định. Chứ cứ phát ngôn “Pháp chưa ném bom nguyên tử xuống Điện Biên 1954” hay “Mỹ rút lui và tha cho Việt Nam” là thấy trò hề rồi.

KHI BẠN BÈ NƯỚC NGOÀI YÊU THÍCH LỊCH SỬ VIỆT NAM, CÒN CHÚNG TA THÌ SAO?

Có thể bạn không biết về một trào lưu reaction lịch sử Việt Nam trên Youtube và Tiktok được thực hiện bởi các streamer, Youtuber nước ngoài. Trào này này tương đối lớn mạnh trên 2 mạng xã hội này trong nhiều tháng trở lại đây và thậm chí nhận được hàng chục, hàng trăm ngàn lượt xem. Họ nghĩ về lịch sử Việt Nam? Việt Nam hiện ra trong con mắt của họ như thế nào? Có một bình luận đáng chú ý về trào lưu reaction lịch sử bởi các bạn bè nước ngoài: “Toàn thấy người nước ngoài xem lịch sử Việt Nam, chẳng thấy Youtuber Việt nào quảng bá, reaction lịch sử Việt Nam. Mang tiếng là lập kênh reaction mà toàn reaction mấy thứ nhảm nhí và đi lùa gà không”. Khởi nguồn của những clip reaction này bắt nguồn từ mạng xã hội livestream nổi tiếng Twitch, khi mà một tài khoản Việt Nam donate cho một streamer kèm theo đường dẫn video lịch sử Việt Nam trên nền nhạc Victory - TSFH, streamer này có bật xem và nhanh chóng thu hút nhiều sự chú ý của dân mạng. Từ đó, nhiều người khác học theo và trở thành một trào lưu trên mạng xã hội. Dumsybrown, một Youtuber có hơn 200 ngàn lượt theo dõi nói rằng anh ấy nể phục vì những gì mà những nông dân Việt Nam đã làm được. Anh ấy bình luận: “Tôi nhìn thấy khuôn mặt của một người phụ nữ hằn lên những nỗi đau. Tôi biết rằng các bạn đã chiến đấu cho chiến thắng của các bạn đi kèm với một cái giá phải trả. Một số sẽ chết, một số sẽ sống, gia đình sẽ phải di tản, nhưng cuối cùng các bạn đã chiến thắng. Và có thể nói với con cái rằng chúng sẽ được sống trong hòa bình…” “Họ đều là những người anh hùng. Họ đã chiến đấu cho lý tưởng của họ… Tôi biết có những người đàn ông, phụ nữ có thể chiến đấu mà không có thức ăn. Chỉ để đảm bảo rằng họ sẽ mang lại hòa bình cho đất nước của họ” Combat Arms Channel - một trong những channel về quân sự nổi tiếng nhất Youtube có hơn 350 ngàn theo dõi, cũng có clip reaction về lịch sử Việt Nam đạt hàng chục ngàn lượt xem. Và hãy xem để biết họ nói gì về Hồ Chí Minh? “Hồ Chí Minh là một người nhìn xa trông rộng, hết sức trong sáng. Một người đàn ông tận tụy với sự nghiệp của mình. Một người đàn ông tuyệt vời và không có gì để nghi ngờ” - Mr Jean Deaux “Người Việt Nam biết họ chiến đấu vì điều gì và muốn chiến đấu vì điều đó. Trong khi người Mỹ không muốn chiến đấu và không muốn ở đó” - Archie Bald Một tài khoản phản biện việc lịch sử Mỹ vu cáo là “lính Bắc Việt đã tra tấn, giết hại phi công Mỹ” là: “Phi công Mỹ nhảy dù xuống miền Bắc đều an toàn. Khi dân Việt Nam ăn khoai mỡ thì lính Mỹ vẫn có thịt gà để ăn. Đó là vì sao một trong cựu binh vĩ đại nhất John McCain đã trở lại và giúp đỡ Việt Nam. John McCain là người bạn tốt nhất của Việt Nam”. Honour Onyedum, chủ kênh Bambi Tv đang sinh sống ở Nigieria cũng có reaction về lịch sử Việt Nam đạt gần 100 ngàn lượt xem. Anh nói: “Tôi biết rằng nhiều người anh hùng đã mất đi và tôi thấy nhiều người sẵn sàng sẵn sàng tạm biệt gia đình để chiến đấu và giành chiến thắng. Đó là điều mà mọi quốc gia cần phải học hỏi”. Trên trang cá nhân, anh ấy từng cho biết rằng ở anh ấy được dạy rằng Việt Nam là một quốc gia có lịch sử đáng trân trọng. Một channel reaction nổi tiếng là Youtuber Highly Combustible Reacts đã trả lời câu hỏi của những người theo dõi: Tại sao anh lại thích lịch sử Việt Nam trong khi anh là một người Mỹ?. Paul Freitas, tên thật của Youtuber này trả lời: “Điều đó đâu có gì quan trọng. Thế hệ đi trước đã chiến đấu với họ chứ không phải tôi. Tôi không còn là một người Mỹ thiếu hiểu biết nữa”. Video reaction của anh về chiến tranh Việt Nam thu hút gần 200 ngàn người xem, rất đông người Việt và bạn bè quốc tế theo dõi. Trước đó, nhiều lần Paul Freitas nói về lịch sử Việt Nam với một thái độ trân trọng, cầu thị và yêu mến. Anh là cựu chiến binh từng ở Afghanistan trong 6 năm và anh ấy từng chia sẻ rằng người Afghanistan nói nhiều về Việt Nam là quốc gia có một lịch sử vĩ đại. Và điều đó là cảm hứng cho anh tìm hiểu về lịch sử Việt Nam. Channel Vibe with Judeo cũng reaction về chiến tranh Việt Nam và thu được gần 150 ngàn lượt xem, người này bình luận: “Đây không phải là một cuộc nội chiến và chống Trung Quốc…”. Youtuber The Perseverance còn làm động tác chào và nói “Họ là những anh hùng” và giơ tay chào khi bức ảnh tướng Giáp đứng trước Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. “Tôi biết bức ảnh này, nó khá là nổi tiếng. Đó là lúc mà đội quân Việt Nam được thành lập từ vài chục người”. Chúng ta đã quen với clip trải nghiệm ẩm thực Việt Nam, du lịch Việt Nam, đánh giá món ăn Việt Nam, cà phê Việt Nam hay là reaction A, B, C.. gì đó. Thật vui vì lịch sử Việt Nam lại đang được biết đến nhiều và rộng rãi như vậy. Có một bình luận mà mình thấy hơi xót xa: “Nhiều người nước ngoài yêu quý và theo dõi lịch sử Việt Nam. Vậy mà đáng buồn là nhiều người Việt lại không trân trọng lịch sử hào hùng của cha ông”. Có lẽ chúng ta cần cám ơn người anh em Việt Nam nào đó đã donate cho một streamer nước ngoài để anh này reaction lịch sử Việt Nam trên Twitch. Nói vui chút, nếu không có ngày hôm đó, có lẽ chúng ta sẽ không có những clip xem lịch sử Việt Nam như hiện tại. Nhưng reaction là cảm nhận của họ, vậy cảm nhận của chúng ta như thế nào? Cảm nhận của người Việt ra sao? Thật buồn là chúng ta chưa chứng kiến Youtuber, Tiktoker người Việt Nam nào reaction về lịch sử Việt Nam thì phải. Có nhiều người đón xem lịch sử Việt Nam hơn là một niềm vui lớn. Nhưng nhiều người Việt Nam lại không biết đến, không quan tâm lại là một nỗi buồn tương đối lớn.

TẠI SAO VIỆT NAM KHÔNG ĐƯỢC DỰA DẪM VÀO BẤT CỨ QUỐC GIA NÀO KHÁC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG?

Ngày 13/01 vừa qua, Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam đăng nghiên cứu bác bỏ yêu sách chủ quyền và đặc quyền tài phán của Trung Quốc với gần như toàn bộ Biển Đông. Thông tin ấy thu hút nhiều sự chú ý và rất nhiều người Việt đã “cám ơn nước Mỹ vĩ đại”, mong muốn trở thành đồng minh của Mỹ để chống Trung Quốc. Vậy, sự thực của cái nghiên cứu đó là thế nào? Liệu chúng ta có nên ngả theo Mỹ để chống Trung Quốc hay không? Hay nên duy trì một tâm thế độc lập, tự chủ về chủ quyền dựa trên sự kìm hãm lẫn nhau giữa các nước lớn? Thứ nhất, trong nghiên cứu trên, Hoa Kỳ phủ quyết tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc với hơn 100 đối tượng địa lý tại Biển Đông bị nhấn chìm dưới mặt biển khi thủy triều lên. Hoa Kỳ cho rằng “các đối tượng địa lý này không phù hợp để được xem xét là một phần lãnh thổ hoặc lãnh hải”. Tuy nhiên, cần chú ý rằng trong 33 điểm đóng quân của Việt Nam tại Trường Sa có tới 12 đảo chìm và phần lớn trong số này nằm trong 100 đối tượng địa lý mà Hoa Kỳ phủ quyết “không thể là một phần lãnh thổ hoặc lãnh hải” ở bên trên đó. Tức là, Hoa Kỳ đã gián tiếp phủ quyết các tuyên bố chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông tại các đảo chìm. Thứ hai, nghiên cứu trên đó của Mỹ nhằm vào Trung Quốc là rõ ràng. Nhưng trong tuyên bố đó không hề nhắc đến một cụm từ nào nói rằng “Mỹ ủng hộ Việt Nam” hay tương tự. Có một thực tế phũ phàng rằng, Mỹ cũng là một quốc gia rất “nước đôi” nếu không nói là lươn lẹo. Khi các nghị sĩ Mỹ đến Đài Loan, các nghị sĩ này từng tuyên bố sẽ ở bên Đài Loan trong cuộc chiến với Trung Quốc và nhóm nghị sĩ này đã và đang vận động một đạo luật NDAA - Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng để bảo vệ hòn đảo này kèm theo vùng chủ quyền mà hòn đảo này tuyên bố. Mà Đài Loan còn có tuyên bố vùng chủ quyền tại Biển Đông lớn hơn cả Trung Quốc. Vào đầu tháng 12/2021, tức là mới chỉ vừa một tháng trước thôi, phía Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Hoa Kỳ đã gặp gỡ các đối tác từ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc để đàm phán hòa bình về các vấn đề “trên các tuyến đường thủy đang tranh chấp ở châu Á”. Bao gồm biển Nhật Bản, biển Hoa Đông và Biển Đông. Đừng quên rằng tháng 7/2020, Bộ chỉ huy Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ điều tàu chiến Arleigh Burke USS Ralph Johnson đến quần đảo Trường Sa nhằm thách thức các yêu sách chủ quyền vô lý của Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam. Dĩ nhiên và đại sứ quán Mỹ, báo chí Đông Lào cuồng Mỹ không bao giờ dám đưa tin tức này ra. Thứ ba, Hoa Kỳ dùng cụm từ “Công ước về Luật Biển” để phản đối Trung Quốc. Vậy công ước này là gì? Luật quốc tế là luật nào? Tại sao Hoa Kỳ lại không ghi rõ ra? Cần biết rằng, Mỹ không tham gia và UNCLOS - Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về luật biển. Trong khi Việt Nam luôn muốn tất cả các quốc gia phải tuân theo UNCLOS, phải xử lý và xem xét xung đột bằng UNCLOS. Nhưng một quốc gia luôn miệng hô hào tuân theo luật pháp quốc tế lại không hề tham gia vào luật pháp quốc tế. Chính vì Hoa Kỳ không tham gia UNCLOS, nên một số nhà ngoại giao Bắc Kinh đã phản hồi rằng: “Mỹ không tham gia vào luật quốc tế (UNCLOS) nên không có quyền phản đối Trung Quốc. Những kẻ đặt bản thân họ ngoài luật thì không có gì đảm bảo rằng họ chơi theo luật”. The Heritage Foundation - một quỹ nghiên cứu bảo thủ có liên kết chặt chẽ với các Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa chỉ ra 7 điểm mà Hoa Kỳ không nên tham gia vào UNCLOS. Ví dụ như việc tham gia UNCLOS sẽ giới hạn phạm vi hoạt động của Hải quân Hoa Kỳ, Hoa Kỳ sẽ không thể sử dụng các vấn đề “tự do hàng hải” để can thiệp, đòi quyền lợi ở các khu vực khác trên thế giới. Bên cạnh đó, lý do khiến Hoa Kỳ có thể đảm bảo chủ quyền an ninh đại dương bằng lực lượng quân đội mạnh mẽ chứ không cần tham gia công ước của LHQ. Tức là tao quá mạnh, tao không cần chơi theo luật. Thứ tư, Mỹ kêu gọi tuân theo phán quyết của Tòa án Quốc tế La Hay về vụ việc Philippines kiện Trung Quốc vào năm 2016. Phán quyết đó bác bỏ những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, nhưng có nhiều điều khoản bất lợi cho phía Việt Nam thậm chí ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền Việt Nam như vấn đề các đảo chìm, phần chồng lấn có lợi cho Philippines... Đài Loan và Trung Quốc đều bác phán quyết đó còn Việt Nam thì trung lập, Indonesia và Malaysia cũng không đưa ra tuyên bố đồng ý với phán quyết. Rõ ràng, chẳng có quốc gia liên quan nào tuân theo cả, một phán quyết chỉ có giá trị về mặt nói mồm. Tại sao Việt Nam thường chỉ “ghi nhận” các phiên tòa như thế này? Vì các phiên tòa thế này sẽ tạo tiền lệ cực kỳ xấu, cho phép “quốc tế hóa” các vấn đề chủ quyền, lãnh thổ, tạo điều kiện cho quốc tế can thiệp nội bộ vào một quốc gia khác. Hãy thử nghĩ thế này, nếu Trung Quốc kiện Việt Nam có hành vi xâm phạm chủ quyền Trung Quốc tại Biển Đông ra tòa án quốc tế và Trung Quốc thắng kiện, thì chúng ta sẽ phản ứng thế nào? Có dám chắc là chúng ta sẽ thắng kiện không trong khi các tòa án vốn chịu sự chi phối lớn về mặt chính trị, pháp lý từ các nước lớn? Phán quyết đã ra đời hơn 5 năm nhưng Philippines vốn chẳng nhận được thứ gì ngoài việc mất 20 triệu đô tiền phí. Trong phát ngôn mới nhất của Bộ Ngoại giao, bà Lê Thu Hằng nói rằng “Việt Nam ghi nhận việc Bộ Ngoại giao Mỹ công bố Báo cáo số 150 về các ranh giới biển” và kêu gọi các quốc gia tuân theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) - mà Hoa Kỳ không tham gia, không phê chuẩn. Hãy chú ý vào từ “ghi nhận”! Không phải là tán thành, tán đồng, cũng chẳng phải hoan nghênh hay cám ơn. Ghi nhận chỉ là một hành động cho thấy rằng phía Việt Nam đã biết đến tuyên bố của phía Hoa Kỳ, vậy thôi. Nhiều người Việt thì dường như có một tâm lý dựa dẫm vào một quốc gia khác. Trong các giai đoạn lịch sử, Việt Nam luôn có chủ trương là “tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế”, tranh thủ sự ủng hộ chứ không phải dựa dẫm. Vấn đề chủ quyền dân tộc của Việt Nam phải do người Việt Nam tự quyết. Người Mỹ đưa ra một tuyên bố chống Trung Quốc như bao nhiêu tuyên bố trước đó, điều đó không hẳn đã có lợi cho Việt Nam. Đã bao nhiêu bài học nhãn tiền về việc ngả theo một cường quốc để khiêu chiến với một cường quốc khác, cái kết phải nhận là vô cùng đắt giá. Mỹ đã từng tuyên bố sẽ chiến đấu cùng người Philippines và cái kết Philippines nhận được là gì? Hãy nhớ lại bài học của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đừng biến thành một con bài trong tay người khác”

VIỆT NAM: SẼ KHÔNG TRỞ THÀNH MỘT UKRAINE THỨ HAI

Cuối 2013 và đầu năm 2014, một trong những biến cố chính trị lớn nhất Đông Âu hậu Xô Viết diễn ra, đó là sự kiện Euromaidan. Đây là sự kiện mà phần đông người Ukraine chọn rũ bỏ Nga, quay sang phương Tây. Cách thức mà phần đông người Ukraine chọn là bạo loạn, lật đổ chính quyền, tạo điều kiện cho nước ngoài can thiệp. Hệ quả là nội chiến, đất nước bị chia cắt, lòng người li tán, kinh tế xuống dốc và Ukraine trở thành “trung gian chiến tranh” giữa các nước lớn. Cũng trong năm 2014, Việt Nam cũng trải qua một biến cố lớn. Đó là sự kiện biểu tình phản đối Trung Quốc tại gần 30 tỉnh thành phố liên quan đến vụ việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển Việt Nam. Từ cuộc biểu tình phản đối, một số nơi đã lên tới bạo động, bạo loạn và cướp phá, nhiều người đã thiệt mạng, nhiều doanh nghiệp đã bị cướp phá, nhiều thế lực nước ngoài đã gửi lực lượng về Việt Nam tạo cách mạng màu. Hai sự kiện đều có chung những tương đồng nhất định, như liên quan đến vấn đề chính trị, chủ quyền với các nước lớn, có dấu hiệu của sự can thiệp từ quốc gia nước ngoài - hay nói cách khác là cách mạng màu, mô típ chung là từ những cuộc biểu tình từ ôn hòa nhanh chóng thành bạo động, cướp phá… Thật ra tính chất của 2 sự kiện là khác nhau, quy mô của Euromaidan lớn hơn cuộc tình phản đối Trung Quốc ở Việt Nam nhiều, mức độ can thiệp của nước ngoài cũng lớn hơn, độ manh động của người dân Ukraine rõ ràng là gay gắt hơn… Nhưng thật may là chúng ta đã xử lý khéo léo để các cuộc biểu tình không leo thang, hãy nhớ rằng, chỉ với vài tay lính đánh thuê bắn tỉa xả súng vào đám đông biểu tình tại Ukraine đã khiến cho cuộc biểu tình bùng phát lên mạnh mẽ thế nào! Sau 8 năm từ dấu mốc ấy, Việt Nam và Ukraine đã rẽ theo hai hướng đối nghịch nhau. Theo ký giả Mark Mardell của BBC, chỉ vài ngày sau khi Obama rời Trung Quốc. Trung Quốc đã điều giàn khoan HD 981 đến vùng biển tranh chấp ở Biển Đông cùng lực lượng chấp pháp khổng lồ. Ký giả này cho biết, dường như các phép thử muốn xem rằng: “Việt Nam có phải là Ukraine của Thái Bình Dương hay không” - Câu trả lời, là không. Khác với Ukraine, chọn ngả hoàn toàn sang phương Tây và bài Nga một cách cực đoan - một quốc gia gần gũi về chính trị, văn hóa, lối sống, ngôn ngữ. Thì Việt Nam, mặc dù có những tranh chấp gay gắt với Trung Quốc nhưng vẫn chọn sống chung hòa thuận với Trung Quốc. Ukraine đã chọn NATO và EU là đồng minh về lâu dài - còn họ có coi Ukraine là đồng minh hay không thì không biết, còn Việt Nam không lựa chọn bất cứ quốc gia nào trở thành một đồng minh thực sự. "Việt Nam có những mối quan hệ truyền thống chứ không phải là đồng minh" Năm 2014, GDP đầu người của Ukraine là 3123 USD/1 người trong khi Việt Nam chỉ là 1975 USD/1 người. Năm 2021, dự báo con số của Ukraine là 3100 USD/1 người, còn Việt Nam là 3742 USD/1 người. Trong khi dân số của Việt Nam gấp đôi so với Ukraine. Quốc gia Đông Âu có một lợi thế lớn về công nghệ, cơ khí và máy móc, nhưng họ đã buông những thứ đó và trượt dài trong 30 năm từ khi Liên Xô sụp đổ. Dĩ nhiên, những con số đôi khi chỉ mang tính tham khảo, nhưng những con số luôn bao hàm thông tin và không hề biết nói dối. Mục tiêu của Ukraine vào năm 2014 là gia nhập EU và NATO, sau 8 năm, mục tiêu của họ… còn cái nịt và thậm chí lãnh thổ Ukraine còn bị chia cắt bởi Crimea và phần phía Đông đang nội chiến. Nhiều quốc gia EU không muốn Ukraine gia nhập EU, các cuộc đàm phán gặp nhiều khó khăn cả vì lý do chủ quan lẫn khách quan, như các quốc gia EU đã quá ngán “quả bom kinh tế” Hy Lạp và không muốn có thêm một “quả bom kích động” như Ukraine nữa. Năm 2014, Mỹ đã đưa ra một lời hứa hẹn đưa Ukraine vào NATO, nhưng Đức, Pháp và nhiều quốc gia khác không chịu gật đầu và bản thân Mỹ cũng chưa từng đưa ra bất cứ lời mời chính thức nào cho Ukraine cả. Năm 2014, Ukraine khát khao NATO sẽ đóng quân tại nước này và cái giá họ phải trả Nga trừng phạt về kinh tế và “tiện tay mượn” Crimea, kích động vùng Đông Bắc nội chiến. Sau 8 năm, không một binh NATO nào có mặt ở Ukraine theo các thỏa thuận chính thức, không có một quốc NATO tuyên bố chính thức rằng sẽ đưa quân đến giúp Ukraine. Năm 2014, theo báo giới nước ngoài, Việt Nam từ chối một số đề nghị đóng quân tại Cam Ranh, kiên trì đưa lực lượng chấp pháp hoạt động cùng với ngoại giao. Trong 8 năm, các đảo tại Trường Sa liên tục được mở rộng, thậm chí có đảo tăng diện tích gấp đôi như Phan Vinh, Trường Sa… Năm 2022, Ukraine đang bước vào bờ vực của một cuộc chiến tranh mới. Còn Việt Nam thì vẫn đang ở trong những mối quan hệ trung dung giữa các phe phái lớn và không ngả hẳn về bất cứ quốc gia nào. Ukraine - quốc gia có mối quan hệ tương đối nồng ấm với Việt Nam đã để lại nhiều bài học lớn Việt Nam. Các sự kiện diễn ra tại năm 2014 đã tạo ra những ngã rẽ khác nhau trong tương lai của hai quốc gia, về bài học nên đối đãi như thế nào với các cường quốc, làm thế nào để tối đa hóa lợi ích dân tộc, làm thế nào để tồn tại song hành bình đẳng khi có biên giới cùng một nước lớn! Và bài học Euromaidan cũng là một cái tát đau đớn cho bất cứ ai, bất cứ phe phái nào muốn Việt Nam liên minh với nước lớn để chống lại một nước lớn khác, rũ bỏ và thù địch với quốc gia hùng mạnh ở láng giếng. Không có đồng minh vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh cửu! Nước xa không cứu được lửa gần. Những ngày này, mạng xã hội Ukraine xuất hiện nhiều hình ảnh thanh niên, quân nhân Ukraine tạm biệt gia đình, vợ con, bạn gái lên đường chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh với đối phương là một quốc gia đã có quá nhiều kinh nghiệm trận mạc và sở hữu vũ khí nguyên tử. Chúng ta liệu có muốn như Ukraine không? Quay trở lại câu hỏi của ký giả Mark Mardell sau từng ấy năm: liệu Việt Nam có thể trở thành Ukraine của Châu Á hay không? - Chắc chắn là không.

ĐỪNG MANG CHÍNH TRỊ VÀO THỂ THAO!

Trong trận đấu giữa Úc - Việt Nam, nhiều người Úc gốc Việt đã mang lá cờ vàng 3 sọc đỏ vào sân để cổ vũ cho “đội tuyển người Việt Nam Quốc Gia” - theo ý họ nói. Nhưng cái kết là bị cảnh sát Úc tịch thu, nghiêm cấm vẫy cờ vàng 3 sọc đỏ trên sân thi đấu, nhiều người Úc gốc Việt chống đối quốc ca Việt Nam còn bị cảnh sát Úc yêu cầu tôn trọng. Mặc dù bị cảnh sát Úc tịch thu và dọa đuổi khỏi sân, nhưng họ vẫn gáy trên mạng rất to, rất hăng trên mạng là Việt Cộng sợ họ. Giữa một bên được thừa nhận, được vào sân đường hoàng, được vẫy cờ phấp phới đứng ngang hàng với nước Úc. Còn một bên còn không được vào sân, mà vào thì không được vẫy, không được trưng ra, bị dọa phạt và bị tịch thu. Xem ra ai hơn ai, ai phải sợ ai thì cũng đã rõ. Bóng đá, hay nói chung là thể thao luôn phi chính trị. Ngay đến cả Euro và World Cup, người ta cũng tránh né câu chuyện chính trị. Như tại Euro 2020 vừa qua, UEFA yêu cầu Ukraine gỡ bỏ khẩu hiệu dân tộc chủ nghĩa, Hy Lạp gửi yêu cầu Bắc Macedonia không được bỏ chữ “Bắc” ra khỏi tên đội tuyển vì liên quan đến vấn đề lãnh thổ. Rồi vòng loại World Cup, cổ động viên Ukraine và Bosnia Herzegovina xung đột với nhau vì cổ động viên Ukraine treo ngược cờ Nga nhằm phản đối Nga. Nhưng người Bosnia và Herzegovina lại nhận thấy rằng Ukraine cố tình làm vậy để lá cờ trông giống cờ Serbia - quốc gia xung đột với Bosnia và Herzegovina Các vị vẫy lá cờ đó bên Úc là quyền của các vị. Việc ngăn chặn lá cờ của các vị đã theo quy định của FIFA và được cảnh sát Úc thực hiện đúng theo luật quốc tế. Chúng tôi không sợ mà đơn giản chúng tôi chỉ thấy hài và buồn cười. Vì lá cờ của chúng tôi được công nhận trên bình diện quốc tế, được đứng ngang lá cờ của Úc, được đường hoàng xuất hiện và hiên ngang. Còn các vị thậm chí còn chẳng có chỗ đứng và tiếng nói. Người Úc nhìn thấy các vị cũng ngán ngẩm, họ vỗ tay cổ vũ cho hành động của anh cảnh sát và khoác vai những người Việt Nam mặc áo cờ đỏ sao vàng. Bóng đá là đoàn kết và phi chính trị. Thật tiếc là các vị không được vào sân thưởng thức trận đấu lịch sử này.

GIỮA TỐT VÀ XẤU

Thường cái gì cũng có hai mặt tốt và xấu. Điều xấu thì có lẽ là chúng ta đã nhìn thấy rồi, đến cá nhân mình cũng rất bực vì những đã diễn ra trong mấy ngày vừa nó, nó kiểu như là một thứ gì đó tan vỡ. Năm 2020, chúng ta đã từng thành công như thế nào rồi đến năm 2021, nói thất bại thì là nặng nhưng nói chống dịch tệ thì cũng không sai. Từ vụ Đô đốc Nguyễn Văn Hiến đến Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, từ vụ các nghệ sĩ với những bê bối từ thiện, sự xuất hiện của lang băm tồn tại như một điều hiển nhiên không bị trừng phạt. Đến vụ Việt Á như là một cú đấm vào nhân dân cả nước, biết bao nhiêu người đã kỳ vọng vào nó, biết bao báo chí, truyền thông, từ Chính phủ đến sóng truyền hình quốc gia tin vào nó - trong đó có cả mình… Rồi còn vụ những quan chức Cục lãnh sự bị bắt vì nhận hối lộ, cấp phép cho các chuyến bay đưa đón người về nước kể từ đầu những năm 2021. Tại sao những tháng đầu 2020, chúng ta làm tốt như vậy, đưa thai phụ, lao động, người già về nước mà lại trở thành bung bét ra như thế? Tại sao lại có một mức giá trên trời, tình trạng chung chi, cò mồi, gò ép người dân như vậy? Tại sao những cái tốt đẹp vừa mới diễn ra thôi mà những cái tiêu cực lại đến ngay sau đó? Điều xấu đã trở thành hệ thống chứ không phải là riêng lẻ một vài cá nhân. Mà những hệ thống này tồn tại ở số nhiều chứ không phải số ít. Như “hệ thống” các tướng lĩnh ở Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, rồi hệ thống các nhân sự Cục lãnh sự Bộ Ngoại giao, các giám đốc CDC dính bê bối... Nhưng cũng phải thật may vì chúng ta còn những điều tốt. Đó là tình trạng tham nhũng, hối lộ, vô trách nhiệm được đưa ra ánh sáng thay vì bưng bít. Điều đáng sợ nhất là ở thượng tầng không hành động gì cả, không đưa ra ánh sáng những cá nhân suy thoái, không dám làm gì để đấu tranh… mà ru ngủ và mặc kệ dân chúng. Bất cứ ai trong chúng ta cũng cảm thấy bức xúc, nhưng cũng có nhiều người cảm thấy rằng cuộc chiến chống tiêu cực vẫn còn có những người dẫn đầu có tâm. Bên cạnh cái xấu thì còn có cái tốt, bên cạnh cái bi quan còn có lạc quan. Để trở nên tốt hơn, điều tiên quyết là ta phải đối mặt với cái xấu trước. Bản chất con người ta là tham lam, mưu cầu danh vọng, việc chặt đứt cái nhu cầu ấy khó hơn cưỡi cá chép lên giời, nhưng kiềm chế nó thì có thể. Nhiều người mất niềm tin vì những sự việc vừa qua. Đó là một điều vô cùng dễ hiểu. Vì chính những người kiên định nhất là mình từng biết, họ cũng có những suy nghĩ như vậy. Nhưng, đối diện với cái cái tiêu cực là cần một sự đồng lòng. Phanh phui ra những vụ việc trên chứng tỏ rằng thượng tầng của chúng ta không sợ việc mất niềm tin. Công khai tham nhũng trước dân, chấp nhận những cái tốt đẹp có thể bị ảnh hưởng, lụi tàn hoặc biến mất. Nhưng đó là tiền cho một tương lai có lẽ là tốt. Thà hành động còn hơn là éo làm cái gì cả và mặc kệ. Mất niềm tin thì người ta có thể lấy lại được. Chứ sợ là không còn thứ gì để mà mất nữa thôi. Năm mới, chúc cho bác Trọng, bộ máy chống tham nhũng của chúng ta hoạt động tích cực và quyết liệt hơn nữa, khui ra nhiều vụ việc hơn, đúng người đúng tội. Mong cho đất nước chúng ta trở nên hùng cường, mạnh mẽ hơn nữa về nhiều mặt! Tiến hành mở cửa đất nước bình thường hoàn toàn sau đại dịch!

HỒ CHÍ MINH- MỘT BIỂU TRƯNG SINH ĐỘNG CHO PHONG CÁCH SỐNG CỦA MỘT NGƯỜI CON VĨ ĐẠI

 

Đối với người Việt Nam và bè bạn thế giới, ngày 19/5 hằng năm đã trở thành một ngày kỷ niệm thiêng liêng, một ngày trọng đại, có nhiều ý nghĩa sâu sắc. Đó là ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ thiên tài của Đảng và Nhân dân ta, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, Nhân dân ta và non sông đất nước ta, người chiến sỹ cộng sản quốc tế mẫu mực, người bạn thân thiết của các dân tộc đã và đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Trong những ngày tháng này, đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước và bà con ta ở nước ngoài đang hướng về Bác với tất cả lòng thành kính và biết bao sự thương nhớ, càng thấm thía và biết ơn công lao trời biển của Bác. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là một bản anh hùng ca, một tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước, về phẩm chất cộng sản, về trí tuệ uyên bác, đạo đức cách mạng trong sáng và là sự cổ vũ lớn lao đối với các thế hệ người Việt Nam.
Ra đi tìm đường cứu nước khi mới 21 tuổi, với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước, Người bôn ba khắp năm châu bốn biển, vừa lao động, học tập, vừa quan sát, nghiên cứu lý luận qua kinh nghiệm các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới. Hồ Chí Minh đã tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp, là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Chính cuộc hành trình này đã giúp Người hiểu rõ nguồn gốc những khổ đau của nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc, từ đó hình thành nên ý thức giai cấp rõ rệt. Vì thế, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin một cách tự nhiên, như một tất yếu lịch sử và đã tìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập vào năm 1930, cùng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đường lối cách mạng Việt Nam đã cơ bản được hình thành, con đường cứu nước của Việt Nam đã cơ bản được xác định. Sự đúng đắn ngay từ đầu của tư tưởng, đường lối cách mạng Việt Nam do Hồ Chí Minh vạch ra đã được thực tiễn chứng minh và khẳng định; và chính trong quá trình vận động của cách mạng, tư tưởng, đường lối đó ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện dần, trở thành ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng nước ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Nhà nước do dân làm chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" giải phóng hoàn toàn miền Bắc, xây dựng hậu phương lớn cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi bước đầu với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế mà hiện nay Nhân dân ta đang tiến hành. Công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Người đã gắn bó và hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng ta và dân tộc ta, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân cho đến hơi thở cuối cùng. Dù đã về với thế giới người hiền hơn 50 năm, song tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ còn mãi với non sông đất nước, sống mãi trong lòng mỗi chúng ta và bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Cuộc đời của Người là biểu tượng cao đẹp về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nước, yêu Nhân dân tha thiết, đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị. Người để lại cho chúng ta một tấm lòng nhân hậu, một tình cảm chan chứa yêu thương, vì nước, vì dân, vì Đảng; một trí tuệ anh minh, mẫn tiệp; một tầm nhìn xa rộng, sâu sắc; một mẫu mực tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ, cách viết, cách nói, cách làm việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà hoạt động cách mạng thực tiễn vĩ đại, nhà tổ chức kiệt xuất, đồng thời là nhà lý luận, nhà chiến lược thiên tài của cách mạng Việt Nam. Nét đặc sắc ở Hồ Chí Minh là lý luận nhưng không giáo điều, sách vở, trái lại, luôn gắn bó chặt chẽ, nhuần nhuyễn với thực tiễn; lý luận mà không cao xa, cầu kỳ, trái lại, rất mộc mạc, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, thiết thực. Nói cách khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà lý luận cách mạng giàu thực tiễn và kinh nghiệm đấu tranh, đồng thời là một nhà thực tiễn giàu lý luận khoa học.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người Việt Nam, mà còn cho cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì lương tri và phẩm giá con người, vì hòa bình trên thế giới và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Chính vì vậy mà không chỉ Nhân dân Việt Nam kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nhân dân thế giới cũng rất yêu quý Người, dành cho Người những tình cảm trân trọng và những lời nói tốt đẹp nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh là vĩ nhân đã in đậm dấu ấn vào lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại. Thời gian càng lùi xa chúng ta càng nhận rõ tính nhân văn và sự vĩ đại của Người. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sống mãi trong tâm khảm của chúng ta, soi đường dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi đến bến bờ vinh quang./.

VIỆT NAM KHÔNG CHỌN PHE MÀ CHỌN LẼ PHẢI


Sau khi Việt Nam bỏ phiếu đỏ, phản đối việc loại Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc, các thế lực thù địch, phản động liền rêu rao rằng “Việt Nam đã chọn phe”, “đã chọn đứng về phe ác”!
Không! Việt Nam không chọn phe mà chọn lẽ phải. Khi chọn lá phiếu đỏ, Việt Nam có lý lẽ của riêng mình, như phát biểu của Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên Hợp Quốc - Đại sứ Đặng Hoàng Giang tại phiên bỏ phiếu đã khẳng định: “Việt Nam phản đối mọi hành vi tấn công dân thường, vi phạm luật nhân đạo và nhân quyền quốc tế, đồng thời cho rằng cần xác minh, kiểm chứng các thông tin gần đây một cách công khai, minh bạch, khách quan, với sự hợp tác của các bên liên quan”.
Như vậy, chúng ta thấy việc chọn lá phiếu đỏ của Việt Nam có các nguyên nhân: Một là, theo quan điểm của Việt Nam, vụ việc tại Bucha còn nhiều điểm khuất tất, chưa minh bạch, cần phải được điều tra làm rõ. Nga có thảm sát dân thường vô tội ở Bucha hay không mới chỉ là cáo buộc từ một phía, chưa có bằng chứng rõ ràng. Thế nên, việc loại Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với cáo buộc “sát hại gần 300 dân thường vô tội ở Bucha, ngoại ô thủ đô Kiev” là một việc làm nóng vội, chủ quan, không đúng trình tự pháp lý. Mặt khác, phương Tây chỉ chăm chăm vào sự kiện ở Bucha mà không quan tâm đến những cáo buộc của Nga về tình trạng vi phạm nhân quyền ở vùng Donbass là sự thiên vị, thiếu công tâm, thiếu khách quan.
Vì vậy, như đã nói trên, Việt Nam không chọn phe mà chỉ chọn lẽ phải, chọn chân lý. Điện Kremlin đã bác bỏ các cáo buộc, cho rằng đây là sự dàn dựng để làm mất uy tín của Nga, gây rối tiến trình đàm phán hòa bình cũng như để hợp thức hóa việc áp các lệnh trừng phạt cứng rắn hơn với Moskva. Thế thì, tại sao không mở một cuộc điều tra mang tính quốc tế, có sự tham gia của các thành viên Hội đồng Nhân quyền và các bên liên quan? Hãy cho người Nga cơ hội để họ tự minh oan, dù họ đã rất nhiều lần đề nghị được cung cấp bằng chứng. Không lẽ những cáo buộc của phương Tây là chân lý, còn các nước không theo trục của họ thì nghiễm nhiên là sai trái?
Hai là, đây không phải lần đầu tiên Việt Nam có những lá phiếu đi ngược lại mong muốn của Hoa Kỳ và phương Tây. Từ trước tới nay, chúng ta luôn luôn tán đồng các nghị quyết của Liên hợp quốc lên án và đòi Hoa Kỳ dỡ bỏ cấm vận đối với Cuba. Hay, cuối 2017, Việt Nam đã cương quyết ủng hộ Nghị quyết ES-1/L.22 của Liên hợp quốc phủ quyết việc “Israel tuyên bố Jerusalem là thủ đô”, mặc dù Hoa Kỳ tuyên bố sẽ trừng phạt những ai bỏ phiếu đồng ý với Nghị quyết đó. Hoặc, năm 2018, Liên hợp quốc tiếp tục bỏ phiếu lên án các hành động quân sự của Israel nhắm vào dân thường Palestine, trong khi Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây bỏ phiếu chống thì Việt Nam đã bỏ phiếu đồng ý, lên án hành động của Israel. Gần đây nhất, trong các năm 2016 và 2021, khi Liên hợp quốc thông qua nghị quyết lên án việc “ca tụng, tôn vinh chủ nghĩa phát xít”, tại hai lần bỏ phiếu, Hoa Kỳ đều bỏ phiếu chống, các quốc phương Tây bỏ phiếu trắng còn Việt Nam đã bỏ phiếu xanh. Trong danh sách 82 quốc gia phản đối hoặc trung lập, chúng ta thấy có cả các nước hoặc là đồng minh của Mỹ hoặc là rất thân thiết với Hoa Kỳ và phương Tây như Thái Lan, Singapore, UAE, Qatar, Saudi Arabia. Điều đó khẳng định lập trường của Việt Nam về sự kiện Bucha là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt. Việc lợi dụng sự kiện chưa được kiểm chứng ở Bucha nhằm áp đặt quân bài dân chủ, nhân quyền phương Tây chính là cái cớ để can thiệp vào nội bộ quốc gia khác đã hết sức rõ ràng. Chúng ta hẳn còn chưa quên, năm 2011, việc Libya bị loại khỏi Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc đã khiến nước này bị tước đi các quyền phản biện, tranh tụng về dân chủ, nhân quyền, cuối cùng vào vòng xoáy chiến tranh, trở nên hoang tàn, đổ nát như ngày nay.
Ba là, như đã nói ở trên, Việt Nam chọn lẽ phải chứ không chọn phe, đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của chúng ta. Còn nhớ, cách đây hơn ba tuần, khi Nga cáo buộc Hoa Kỳ có dính líu đến các phòng thí nghiệm sinh học tại Ukraina, Việt Nam không lên tiếng ủng hộ Nga cũng không chỉ trích Ukraine bởi những lý do mà phía Nga đưa ra chưa thực sự thuyết phục và đến nay các cáo buộc này vẫn đang được điều tra làm rõ.
Lợi ích quốc gia - dân tộc là tối thượng. Việt Nam ủng hộ các nỗ lực đối thoại, các giải pháp hòa bình. Việc chọn phiếu đỏ lần này chính là việc làm đúng đắn của chúng ta, như Thủ tướng Phạm Minh Chính nhiều lần khẳng định: “Tinh thần là chúng ta không “chọn bên” mà chọn lẽ phải lớn của thời đại là hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”./.

TỪ NGUYỄN ÁI QUỐC ĐẾN HỒ CHÍ MINH - LÃNH TỤ BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của Đảng, nhân dân, dân tộc ta; Người sáng lập, rèn luyện Đảng ta; là danh nhân văn hóa thế giới; là chiến sĩ cộng sản kiệt xuất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động thế giới, mà còn là người sáng lập, đặt nền móng cho những tổ chức chính trị, quân sự, xã hội, các tổ chức văn hóa, trong đó có báo chí cách mạng nước nhà.
TỪ NGƯỜI CON YÊU NƯỚC ĐẾN NHÀ BÁO QUỐC TẾ
Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước. Từ nhỏ, Người đã tiếp thu ảnh hưởng tư tưởng yêu nước tiến bộ, nhân cách cao thượng của cụ Phó bảng và những nhà chí sĩ yêu nước. Vì vậy, Người đã sớm nhận thức được con đường cứu nước riêng cho dân tộc.
Năm 1911, Người đã xin làm phụ bếp dưới tàu buôn Đô đốc Amiral Latouche với biệt danh Văn Ba để được ra thế giới mở rộng kiến thức. Người đã đi qua rất nhiều nước ở châu Âu và châu Phi. Năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định hoạt động cách mạng người thanh niên Nguyễn Tất Thành. Năm 1919, Nguyễn Tất Thành đã viết “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Versailles, đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách được ký tên Nguyễn Ái Quốc(1). Cũng từ đó, cái tên ấy được nhiều người trong nước và thế giới biết đến. Nguyễn Ái Quốc đã tham gia Đảng Xã hội Pháp và từ đây, Người bắt đầu có quan niệm rõ ràng, chính xác về một đảng cách mạng chân chính. Tại Đại hội Tour, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III, từ giờ phút ấy, Nguyễn Ái Quốc trở thành Người Cộng sản.
Mặc dù không được hội nghị các nước đế quốc xem xét, nhưng Bản yêu sách đã được đăng trên tờ báo Dân chúng. Cảm kích, Nguyễn Ái Quốc đến tòa soạn báo để cảm ơn. Chủ nhiệm báo - ông Jean Longuet là cháu ngoại của Karl Marx và là Nghị sĩ Quốc hội Pháp đã khuyến khích Nguyễn Ái Quốc viết tin tức ở thuộc địa cho báo với mong muốn giúp người Pháp hiểu rõ những bất công xảy ra ở An Nam. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc thường lui tới tòa soạn báo Dân Chúng để học hỏi và tích cực làm quen với những người Pháp khác. Cũng trong thời gian này Người quen ông chủ bút tờ Đời sống thợ thuyền và bắt đầu học kỹ năng làm báo từ viết những mẩu tin về thuộc địa.
Tại Pháp, những bài báo của Nguyễn Ái Quốc được đăng ở nhiều tờ báo khác nhau như Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền, Dân chúng, Người tự do... Tháng 7/1921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà yêu nước của các nước thuộc địa Pháp thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa nhằm tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. “Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận động cách mạng các nước thuộc địa, năm 1922, Hội Liên hiệp thuộc địa cho xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ)”(2). Trong hoàn cảnh khó khăn, Nguyễn Ái Quốc vừa là chủ bút kiêm chủ nhiệm, đồng thời là thủ quỹ, xuất bản và liên lạc để đảm bảo duy trì hoạt động cho tờ báo.
Thời điểm đó, ở Paris có vô số tờ báo ra mỗi ngày nên ban đầu tờ Le Paria không bán được nhiều. Nguyễn Ái Quốc đã mang báo đến các cuộc mít tinh phát cho dân chúng, rồi lên diễn đàn nói: “Các bạn thân mến, báo Người cùng khổ phát không nhưng chúng tôi hết sức cảm ơn nếu các bạn vui lòng quyên góp giúp ít nhiều để chúng tôi trả tiền in. Một xu, một quan, nhiều ít cũng tốt”(3). Nhờ cách đó, Nguyễn Ái Quốc đã đủ tiền chi trả cho việc ra báo và thỉnh thoảng còn có dư. Có thể nói, việc xuất bản báo Người cùng khổ đã thổi một luồng sinh khí mới đến nhân dân các nước thuộc địa. Tờ báo đã trở thành vũ khí chiến đấu để giải phóng con người!
Những bài báo, tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc viết thời gian này rất nổi tiếng và được nhiều người trên thế giới biết đến. Năm 1923, chỉ tính riêng “trên các trang báo Le Paria, L’Humanite’, La Vie Ouvrière đã in khoảng gần 30 bài viết của Nguyễn Ái Quốc. Những bài báo này đều tập trung lên án chủ nghĩa thực dân, sự tàn bạo của nó đối với các thuộc địa, kêu gọi đoàn kết giữa những người lao động không phân biệt màu da, sắc tộc, biên giới, chính quốc gia hay thuộc địa...”(4).
Năm 1923 - 1924, Nguyễn Ái Quốc theo học trường đại học Phương Đông tại Liên Xô. Tại đây, Người đã viết “Lênin và các dân tộc thuộc địa” đăng trên báo Sự thật của Liên Xô, ca ngợi Lênin - vị lãnh tụ vĩ đại của công nhân và nhân dân lao động thế giới. Năm 1924, Người viết “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa” đăng trên báo Đời sống thợ thuyền, ví chủ nghĩa tư bản như con đỉa hai vòi, một vòi hút máu của giai cấp vô sản chính quốc, một vòi hút máu của giai cấp vô sản thuộc địa, muốn giết nó thì phải chặt đứt cả hai vòi. Tháng 6/1924, Người tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và được bầu làm Ủy viên thường trực Bộ Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.
Đặc biệt, tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tập hợp nhiều bài viết của Nguyễn Ái Quốc khi hoạt động ở Pháp và Liên Xô, xuất bản 1925, không chỉ dừng lại ở việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc mà đã nêu lên những luận điểm cơ bản về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, mở ra đường lối chính trị cho nhân dân các nước thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam dựa trên những tư liệu đầy sức thuyết phục, không những có giá trị về chính trị, lý luận mà còn có giá trị báo chí, văn học.
HÀNH TRÌNH KHƠI NGUỒN NỀN BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Trên con đường hoạt động cách mạng, hành trình khơi nguồn dòng báo chí cách mạng Việt Nam là giai đoạn đầu tiên khi Nguyễn Ái Quốc hoàn thiện nhận thức về lý luận và thực tiễn con đường giải phóng cho dân tộc, chuẩn bị các bước về tư tưởng, tổ chức, con người để tiến tới thành lập một chính đảng vô sản tại Việt Nam.
Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, khi đọc được Bản luận cương bàn về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người đã khẳng định chắc chắn về con đường giải phóng dân tộc. Với quan niệm, làm báo chính là để làm cách mạng, Người xuất bản tờ báo Người cùng khổ. Để giác ngộ lòng yêu nước và ý chí cách mạng của Việt Kiều đang sống và làm việc tại Pháp cũng như kêu gọi đồng bào nổi dậy đấu tranh đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập tự do, năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trương xuất bản báo bằng tiếng Việt lấy tên là Việt Nam hồn để bí mật gửi về nước, chuẩn bị cho những bước tiếp theo của cách mạng. Tờ báo này ra đời và xuất bản chỉ trong vòng 8 tháng (từ tháng 1/1926 - 8/1926) thì bị nhà cầm quyền Pháp cấm, sau đó được tái bản vào tháng 9 với tên Phục Quốc; đến tháng 10, toà soạn bị lục soát, ký giả bị bắt. Thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc không có điều kiện tham gia viết cho báo Việt Nam hồn vì Người đã rời Pháp sang Liên Xô.
Sau đó, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), từng bước chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thành lập một chính Đảng Mácxít ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo đội ngũ cán bộ và bắt tay vào việc chuẩn bị xuất bản một tờ báo chính trị. Ngày 21/6/1925, tờ báo Thanh Niên - cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã ra đời, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo.
Nhìn lại bức tranh toàn cảnh về báo chí Việt Nam trước khi xuất hiện dòng báo chí cách mạng, tính đến năm 1922, cả nước có 96 tờ báo, tạp chí, tập san, tức là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, trong đó Bắc kỳ có 44 tờ (36 tờ tiếng Pháp, 8 tờ tiếng Việt); Nam kỳ có 39 tờ (29 tờ tiếng Pháp, 10 tờ tiếng Việt); Trung kỳ có 3 tờ (2 tờ tiếng Pháp, 1 tờ tiếng Việt). Năm 1925, cả nước có 121 tờ, trong đó Bắc kỳ có 69 tờ (56 tờ tiếng Pháp, 13 tờ tiếng Việt); Nam kỳ có 49 tờ (38 tờ tiếng Pháp, 11 tờ tiếng Việt); Trung kỳ có 3 tờ (2 tờ tiếng Pháp, 1 tờ tiếng Việt)”(5).
Báo chí Việt Nam giai đoạn này phát triển rầm rộ, nội dung các tờ báo đặc biệt báo bằng tiếng Việt đã bắt đầu đề cập đến những vấn đề chính trị, kinh tế, tài chính. Tuy nhiên, ở Nam Kỳ “những tờ báo thường chỉ đề cập đến những vấn đề đặc biệt. Những vấn đề chính trị chỉ được nói đến rất ít trong tờ báo”(6). Nói chung, loại báo này ít hay nhiều có khuynh hướng thân chính phủ. Ở Bắc Kỳ, vì là chế độ bảo hộ nên báo chí bị kiểm duyệt rất chặt chẽ, “hầu hết báo chí Bắc Kỳ chỉ nói đến những vấn đề đặc biệt như văn học, kinh tế, lịch sử... Tóm lại đó là những tờ báo không chủ trương chính trị rõ rệt, nhưng trên thực tế đường lối của nó hoặc ít, hoặc nhiều thân chính phủ”(7).
Từ khi báo Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, “chúng ta mới thực sự bắt đầu có nền báo chí cách mạng Việt Nam”(😎. “Cũng giống như cuốn Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, những trang báo Thanh Niên ngay từ những số đầu đã là cuốn sách gối đầu giường của những nhà yêu nước cách mạng, chứa đựng biết bao trí tuệ và nhiệt huyết của những người đi khai sơn phá mạch cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự ra đời của nước Việt Nam mới”(9). Trong đó, người đóng vai trò khơi nguồn chính là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, nhà cách mạng chân chính, nhà báo Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Mỗi giai đoạn cách mạng, nhà báo Hồ Chí Minh lại cho ra đời những bài viết mang tính giáo dục sâu sắc. Sự nghiệp báo chí mà Người để lại cho đời chính là bài học giá trị có ý nghĩa sống còn đối với hoạt động báo chí cách mạng, là cẩm nang chỉ hướng cho mỗi cơ quan báo chí, nhà báo học tập, rèn luyện và noi theo.
HỒ CHÍ MINH - LÃNH TỤ BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Thứ nhất, Hồ Chí Minh là người sáng lập ra nền báo chí cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của tờ Thanh Niên là dấu mốc vô cùng quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành của báo chí Việt Nam, từ báo chí yêu nước trở thành báo chí cách mạng, là sự khởi đầu cho dòng báo chí vô sản Việt Nam. Những bài viết trên báo Thanh Niên có nội dung xoay quanh các mâu thuẫn trong xã hội khó có thể hoá giải được. Đó là mâu thuẫn giữa kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, giữa người lao động với chủ nghĩa đế quốc, tư bản, giữa kẻ giàu và người nghèo, tất cả đều lột tả được bản chất vấn đề, tạo nên những tác động to lớn trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, điều mà trước đây chưa một tờ báo nào làm được.
Thứ hai, không chỉ là người khơi nguồn, Hồ Chí Minh còn là người lãnh đạo, tổ chức, định hướng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động và phát triển theo tinh thần thấm nhuần tính Đảng, tính nhân dân sâu sắc. Đây không chỉ là giai đoạn chuyển tiếp trong công tác lãnh đạo hoạt động cách mạng của người Chiến sĩ Cộng sản Nguyễn Ái Quốc đến lãnh đạo tối cao của Đảng, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam mà đối với hoạt động báo chí của Người là bước chuyển từ lập trường làm báo để hoạt động cách mạng sang viết báo để đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ xuất phát điểm: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho đất nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(10), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tôn chỉ, mục đích của báo chí cách mạng Việt Nam: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới”(11). Người còn chỉ rõ vai trò, nhiệm vụ của báo chí cách mạng Việt Nam: Hoạt động báo chí là hoạt động cách mạng, trong đó, những người làm báo là những chiến sĩ cách mạng. “Đối với những người viết báo chúng ta, cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ và hoà bình thế giới”(12). Người cũng chỉ rõ, tính chiến đấu của báo chí không chỉ nhằm ở tiến công vào kẻ thù cách mạng mà còn biểu dương những tấm gương tiêu biểu trong chiến đấu và lao động sản xuất. Bên cạnh đó, Người còn nói, trong biểu dương, phải rút được kinh nghiệm có ý nghĩa phổ biến, phê bình phải cụ thể, rõ ràng. Phê bình và tự phê bình là để sửa chữa khuyết điểm và tăng sức chiến đấu. Đặc biệt, Người khẳng định, hoạt động báo chí quan trọng nhất là tính Đảng, đây là cơ sở căn cốt để phân biệt giữa báo chí cách mạng và phản cách mạng. Theo đó, Người yêu cầu: “Báo chí ta không phải chỉ cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”. Chính tư tưởng và đường lối đó đã giúp cho báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động thống nhất về mặt tư tưởng và tổ chức.
Từ khi có Đảng, “báo chí của tổ chức cộng sản trước đây đều ngừng xuất bản, để theo một dòng chỉ đạo thống nhất của Đảng Cộng sản về tư tưởng chính trị của báo chí, theo đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam”(13). Sau khi giành chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến kiến quốc thì cũng là lúc báo chí cách mạng nước ta chuyển hướng hoạt động từ công khai sang bí mật rồi lại công khai với nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Trong nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, “là thời điểm đội ngũ phóng viên phải đi sâu vào thực tiễn khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội đến với công trường, nhà máy, hợp tác xã nông nghiệp”(14). Trong giai đoạn hiện nay, là tích cực tuyên truyền, phổ biến Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, tích cực, động viên người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến trong mọi lĩnh vực. Chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo… Mỗi một lĩnh vực Đảng ta điều có chủ trương chỉ đạo rõ ràng, cụ thể và phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước.
Thứ ba, không chỉ là người đưa đường dẫn lối cho báo chí cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh còn tham gia trực tiếp vào quá trình viết báo, tự tay ươm mầm, tự tay chăm bón cho “vườn hoa báo chí” cách mạng Việt Nam trưởng thành và phát triển.
Báo chí cách mạng Việt Nam phát triển song hành với sự phát triển và trưởng thành của Đảng. Mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử cách mạng nước nhà, hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam đều có những bước chuyển mang dáng dấp, hơi thở của thời đại và định hướng chiến lược của Đảng.
“Trong gần 50 năm cầm bút, Bác là tác giả của hơn 2.000 bài báo, 276 bài thơ, gần 500 trang truyện và ký với gần 200 bút danh được sử dụng”(15), trong đó, mỗi con chữ là những trăn trở về con đường cứu nước, giúp dân, mỗi bài viết là lời hiệu triệu, truyền bá lý tưởng cộng sản và con đường giải phóng dân tộc. Người đã để lại nhiều bài học quý giá về nghề báo và kỹ năng làm báo cách mạng chuyên nghiệp.
Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã gắn bó với nghề báo, coi báo chí là vũ khí sắc bén, là phương tiện để vận động và tập hợp lực lượng cách mạng, tổ chức và thực hiện mục tiêu cách mạng một cách nhanh chóng, sâu rộng và hiệu quả nhất. Chính vì vậy, cho dù ở hoàn cảnh, giai đoạn, tình thế khó khăn nào, Người vẫn quyết tâm sáng lập, chỉ đạo để ra đời những tờ báo, bài báo cách mạng. Ngòi bút của Người bao quát rộng lớn mọi vấn đề có ý nghĩa quan trọng. Người phân tích một cách cụ thể, sắc sảo, đánh giá rõ ràng và đưa ra những giải pháp rất thiết thực. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, những bài viết của Người như những lời hiệu triệu có tác dụng vô cùng to lớn, trở thành sức mạnh tinh thần kỳ diệu, cổ vũ toàn quân, toàn dân ta tham gia kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất nước nhà.
Hồ Chí Minh thực sự là nhà báo cách mạng và lãnh tụ báo chí vĩ đại!./.

Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới

 MISTEN - Chủ nghĩa cá nhân làm tổn hại uy tín và xói mòn phẩm chất, đạo đức “Bộ đội Cụ Hồ”    

Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù không đội trời chung của đạo đức cách mạng; sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân là thứ giặc “nội xâm”, nguy hiểm và chiến thắng nó còn khó khăn hơn cả chiến thắng kẻ thù cầm gươm, cầm súng trên chiến trường; chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân nó sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, bởi “do cá nhân chủ nghĩa mà phạm sai lầm”1. Người cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”2. Nó là một trong ba loại giặc vô cùng nguy hiểm, với những biểu hiện rất đa dạng, lúc tinh vi, kín đáo, khi lộ liễu trắng trợn, biến báo, khó lường, xuất hiện ở nhiều lúc, nhiều nơi, nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được xây đắp nên từ sự phấn đấu, hy sinh vô bờ của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; được nhân dân hết lòng thương yêu đùm bọc, giúp đỡ, nuôi dưỡng và yêu quý dành tặng, tôn vinh. Vinh dự, tự hào với danh hiệu cao quý đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân luôn trân trọng, gìn giữ, phát huy, không ngừng tô thắm, làm sáng thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Tuy vậy, trong thực tiễn, mặc dù thường xuyên được giáo dục, rèn luyện và có kỷ luật nghiêm minh, song, ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ do lười tu dưỡng, rèn luyện đã sa vào chủ nghĩa cá nhân - thứ giặc “nội xâm”, trùng độc nguy hiểm ngay trong mỗi con người và trong lòng Quân đội. Tuy không nhiều, nhưng là những “con sâu làm rầu nồi canh”, làm tổn hại uy tín và xói mòn phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Bởi lẽ, chủ nghĩa cá nhân nó làm cho người quân nhân không thực hiện đúng 10 Lời thề danh dự và 12 Điều kỷ luật của quân nhân, mà biểu hiện trước hết là phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng, không trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Nó hoàn toàn ngược lại tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân - phẩm chất cao quý, quan trọng hàng đầu của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hệ quả của việc phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng sẽ dẫn đến không phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, của tổ chức, sợ gian khổ, hy sinh, không nhận nhiệm vụ, đầu hàng, chạy theo địch, mà điển hình của những kẻ “trở cờ” phản bội là Bùi Tín, minh chứng rõ nét nhất của việc sa vào chủ nghĩa cá nhân, phản bội Tổ quốc. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường,... một số ít quân nhân không giữ được mình sa vào chủ nghĩa cá nhân, phai nhạt, mục tiêu, lý tưởng cách mạng, biểu hiện là: nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, kỷ luật của Quân đội; sa sút ý chí phấn đấu, không phục tùng mệnh lệnh, không gương mẫu trong công tác, thiếu tính kỷ luật và kỷ luật không nghiêm. Điều này không chỉ làm phai nhạt hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị ngay từ cơ sở.

Chủ nghĩa cá nhân làm cho những quân nhân sa vào chỉ biết và luôn đặt lợi ích của bản thân, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của tập thể đơn vị, Quân đội và của dân tộc. Đây là điều trái ngược với đạo đức cách mạng của người quân nhân là: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và Lời thề luôn nêu cao tinh thần bảo vệ của công, không tham ô, lãng phí - một giá trị cốt lõi của đạo đức, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Không chỉ vậy, nó còn làm băng hoại những giá trị tốt đẹp của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là: đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, nguy hiểm. Biểu hiện rõ nét nhất của những quân nhân khi sa vào chủ nghĩa cá nhân là không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình, v.v. Để đạt mục đích, họ bất chấp tất cả, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, v.v. Tác hại này càng đặc biệt nguy hiểm, khi những người cá nhân chủ nghĩa lại là những cán bộ, đảng viên, lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan, đơn vị. Đó chính là sự nguy hiểm tiềm tàng làm cho Quân đội mất dần tính cách mạng, tính Đảng, tính nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Quân đội - lực lượng chính trị trung thành chiến đấu bảo vệ Đảng và chế độ.

Việc chỉ biết và luôn đặt lợi ích của mình lên trên hết còn biểu hiện ở sự háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân, tham vọng quyền lực, địa vị; chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích, chạy tội, mua và sử dụng bằng cấp giả, giấy tờ giả; thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, không chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm, tận lực với công việc, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Và, để đạt được mục đích tham danh trục lợi, địa vị quyền hành, họ coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh và không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Trên thực tế, đó cũng chính là những người luôn “dùng của công làm việc tư”, “ham địa vị, hay lên mặt”, chỉ ưa người khác “tâng bốc mình, khen ngợi mình”, “ưa sai khiến người khác”, “tự thấy mình cái gì cũng giỏi”, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, ích kỷ, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, v.v. Hậu quả của những hành vi trên làm cho người mắc căn bệnh này ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa tất yếu dẫn đến việc ỷ thế vào quyền hạn và trách nhiệm được trao, ỷ thế vào quyền lực tại các cơ quan, đơn vị để kéo bè, kéo cánh, chăm chút cho lợi ích của mình và nhóm mình mà bất chấp tất cả, coi thường kỷ cương phép nước, kỷ luật Quân đội để đạt mục đích tư lợi cá nhân.

Cùng với đó, còn là biểu hiện ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không bảo vệ”, “thấy sai không đấu tranh”; không có tinh thần tự phê bình và phê bình; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ và mục đích không trong sáng; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức,... mà thờ ơ, vô cảm, bàng quang trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân. Đây là cách ứng xử tiêu cực, làm thui chột sức mạnh tập thể, giảm sức chiến đấu của đảng viên, tổ chức đảng. Nó đối lập với một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là: luôn có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị; kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.

Những biểu hiện trên là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nó không chỉ đối lập với phẩm chất tốt đẹp của những người quân nhân cách mạng đầy nhiệt huyết, dũng cảm trong chiến đấu, công tác, mà còn làm tổn hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân, gây chia rẽ khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, làm mất dân chủ trong cơ quan, đơn vị.

Ngược dòng lịch sử, trong khi cả nước đang huy động sức người, sức của để kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thì Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, tham ô, đục khoét công quỹ của Nhà nước, đã bị Tòa án binh xử tử hình về tội tham nhũng đến nay vẫn là bài học đắt giá, còn nguyên tính thời sự. Nhưng một số quân nhân, trong đó có cả sĩ quan cao cấp, tướng lĩnh hiện nay không rút kinh nghiệm để tránh xa, ngược lại chỉ lo cho bản thân “vinh thân, phì gia”, sa vào chủ nghĩa cá nhân mà vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước. Nó không chỉ trực tiếp phá hoại phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn gây bức xúc trong dư luận, làm giảm sự tin yêu của nhân dân với Quân đội. Bên cạnh đó, những vụ vi phạm kỷ luật trong quan hệ quân - dân; quan hệ của cán bộ với chiến sĩ; giữa chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới,... ở một số cơ quan, đơn vị trong toàn quân cũng chính là những việc làm đối lập với đặc trưng: chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt; lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân của “Bộ đội Cụ Hồ”. Những vi phạm đó lâu dần sẽ dẫn đến sự chia rẽ cán - binh, không quy tụ được sức mạnh tổng hợp của đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là trong chiến đấu; nó còn là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, phá hoại chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân - dân, một bảo đảm quan trọng để Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng.

Hiện nay, vẫn phải khẳng định rằng: truyền thống của Quân đội, khí phách “Bộ đội Cụ Hồ” về cơ bản vẫn được phát huy tốt; cán bộ, chiến sĩ Quân đội vẫn được nhân dân tín nhiệm, yêu thương, đang ngày đêm bám sát nhiệm vụ canh giữ biển, trời, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Song, những sai phạm của một số quân nhân do sa vào chủ nghĩa cá nhân thời gian qua, tuy chỉ là đơn lẻ, cá biệt ở một vài cơ quan, đơn vị, nhưng nếu không có giải pháp quyết liệt để ngăn chặn kịp thời, sẽ gây ra hậu quả không nhỏ, làm tổn hại và xói mòn phẩm chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”; làm biến dạng, méo mó các mối quan hệ và ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây dựng môi trường văn hóa quân sự, nhất là trong xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị - cơ sở nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

_________________

1 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 547.

2 - Sđd, tr. 672.

ĐÌNH PHIẾM - PHẠM TUẤN - ĐÌNH BẰNG - MINH ĐỨC - LÊ PHONG - tapchiqptd.vn