Thứ Tư, 22 tháng 6, 2022

Cần quy định môn lịch sử là môn học bắt buộc ở cấp trung học phổ thông

 Sáng 22/5/2022, Ủy ban Văn hóa, giáo dục của Quốc hội đã tổ chức phiên

họp toàn thể lần thứ 3. Tại phiên họp, phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục

Nguyễn Thị Mai Hoa đã báo cáo về việc triển khai chương trình giáo dục phổ

thông đối với môn lịch sử cấp trung học phổ thông. Theo báo cáo, đa số các ý kiến

không đồng tình đối với việc đưa môn lịch sử cấp trung học phổ thông thành môn

lựa chọn với một số lý do. Trong đó, lịch sử là môn học đặc biệt quan trọng, giữ

vai trò chủ đạo trong việc giáo dục chính trị, tư tưởng đối với thế hệ trẻ; giáo dục

lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, truyền thống văn hóa, lịch sử; bồi dưỡng

năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội; từ đó

hình thành những phẩm chất của công dân .... Bên cạnh đó, xét về tâm sinh lý lứa

tuổi, học sinh trung học phổ thông (15-17 tuổi) có sự trưởng thành về nhận thức,

khả năng tiếp nhận tốt hơn về lịch sử đất nước và lịch sử cách mạng Việt Nam.

Đây cũng là lứa tuổi quyết định sự hình thành thế giới quan, hệ thống quan điểm

về tự nhiên, về xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, định hướng giá trị của

con người. Xét về khoa học giáo dục, việc bồi dưỡng kiến thức lịch sử cho học

sinh trung học phổ thông là cần thiết nhằm phát triển con người toàn diện, khơi dậy

truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất

nước phồn vinh, hạnh phúc của con người Việt Nam. Tuy nhiên, nếu học sinh

không lựa chọn môn lịch sử ở cấp trung học phổ thông (số lượng có thể lên tới

50% học sinh), các em sẽ không được tiếp cận với những kiến thức rất quan trọng,

có ý nghĩa giáo dục đối với lứa tuổi này. Cùng với đó, ở nhiều nước trên thế giới,

môn lịch sử trong chương trình trung học phổ thông luôn là môn học bắt buộc. Từ

đó Ủy ban Văn hoá, giáo dục cho rằng môn lịch sử có vị trí đặc biệt, có ý nghĩa rất

quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, học sinh cần được trang bị khối

lượng kiến thức này, vì vậy cần tiếp thu ý kiến đông đảo của cử tri, nhân dân theo

hướng quy định môn lịch sử là môn học bắt buộc đối với cấp trung học phổ thông

trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 với khối lượng kiến thức phù hợp.

Đồng thời thiết kế bao gồm khối lượng kiến thức lịch sử (phần bắt buộc) và khối

lượng kiến thức định hướng nghề nghiệp (phần lựa chọn).

Ủy ban Văn hóa, giáo dục đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp thu và quy

định môn học lịch sử cấp trung học phổ thông trong Chương trình giáo dục phổ

thông 2018 là môn học bắt buộc. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng cường công

tác tuyên truyền về chương trình giáo dục phổ thông 2018 nói chung, chương trình

môn lịch sử nói riêng; để tăng thêm sự đồng thuận, ủng hộ của xã hội trong việc


triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018; đồng thời truyền cảm

hứng cho học sinh yêu thích môn lịch sử.

Nêu ý kiến thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Dương) bày tỏ

nhất trí kiến nghị trong báo cáo về việc quy định môn học lịch sử là môn học bắt

buộc trong chương trình trung học phổ thông. Theo bà Nga, qua tiếp xúc cử tri, lấy

ý kiến của giáo viên đều đồng tình nên để môn lịch sử là bắt buộc trong chương

trình trung học phổ thông. Bà Nga cũng nêu một kiến nghị về việc qua nghiên cứu

thấy hiện nay học sinh phổ thông không mặn mà với môn lịch sử, qua nhiều kỳ thi

điểm rất kém và phỏng vấn một số em nói không thích môn lịch sử. Bà Nga cho

hay nguyên nhân của việc này không hẳn do bộ môn này không hấp dẫn mà do

chương trình nặng về kiến thức hàn lâm, ôm đồm và cách trình bày khá tẻ nhạt.

Bên cạnh đó hiện nay dạy học và thi môn lịch sử vẫn theo phương pháp cũ là cứ

ghi nhớ sự kiện, con số khiến học sinh không hứng thú. Do đó bà Nga đề nghị cần

thay đổi cách đánh giá và cần có tư duy tiếp cận mới mẻ, khuyến khích các em có

sự nhìn nhận, đánh giá chứ không phải chỉ thụ động tiếp thu, nhồi sọ ….

Trong khi dư luận xã hội ở nước ta đang nổi lên vấn đề tranh luận “Môn lịch

sử nên tự chọn hay bắt buộc ở cấp trung học phổ thông” thì ở một số nước như

Hàn Quốc, Nhật Bản, …, môn lịch sử đã chuyển từ tự chọn sang bắt buộc ở cấp

trung học phổ thong. Trong đó, đáng chú ý là từ tháng 01/4/2022, Nhật Bản chính

thức đưa vào giảng dạy bắt buộc môn lịch sử hiện đại và đương đại ở cấp trung học

phổ thông và cho thấy sự chuyển đổi đáng kể từ phương pháp giáo dục dựa trên

nội dung vốn còn nặng nề tính "học vẹt" sang phương pháp giáo dục dựa trên năng

lực, tập trung đào luyện các kỹ năng và năng lực riêng của mỗi học trò. Cách dạy

lịch sử theo phương pháp cũ của Nhật Bản (giống như nhiều nước đã và đang áp

dụng), tức là thiên về liệt kê sự kiện theo biên niên, có những điểm tích cực và tiêu

cực. Ở mặt tích cực, nó cung cấp một góc nhìn chi tiết và có hệ thống về các sự

kiện trong quá khứ. Nhưng ở mặt tiêu cực, các cuốn sách giáo khoa lịch sử bậc

trung học phổ thông tràn ngập các tên tuổi, ngày tháng, các thuật ngữ... và bất cứ

thông tin nào trong đó đều có thể xuất hiện trong các kỳ thi tuyển sinh đại học có

môn lịch sử. Với môn lịch sử hiện đại và đương đại mới, các trường sẽ dạy mỗi

tuần hai buổi, mỗi buổi 50 phút, thời lượng dạy không nhiều nhưng kỳ vọng đặt ra

thì khá lớn. Những người cải cách chương trình kỳ vọng đề xuất một giải pháp

"thoát ly" cách dạy lịch sử đã định hình lâu nay, khi giáo viên chỉ phát các tài liệu

photo của môn học và giảng giải, còn học sinh sẽ cố gắng chép lại những thuật ngữ

sẽ phải nằm lòng cho tới kỳ thi tiếp theo và sau đó "chữ thầy giả thầy" rất nhanh.

Với chương trình mới, mục tiêu đặt ra là để học sinh đọc các nội dung kiến thức về


lịch sử, đặt ra những câu hỏi về các thay đổi đã diễn ra trong giai đoạn lịch sử đang

học, và tìm câu trả lời cho những vấn đề đó. Các cuốn sách giáo khoa được soạn

cho chương trình học mới này cũng đề xuất những câu hỏi mẫu và các vấn đề cần

tiếp tục tìm hiểu thêm. Bên cạnh việc giúp học sinh suy nghĩ sâu hơn về các xu thế

lớn trong lịch sử, các câu hỏi như vậy cũng sẽ tạo tư duy kết nối, liên hệ giữa Nhật

Bản với phần còn lại của thế giới. Sách giáo khoa cũng khuyến khích học sinh đọc

và hiểu các tài liệu nguồn, mài giũa kỹ năng tư duy, diễn đạt khi xem xét các vấn

đề đương đại từ nhiều góc nhìn khác nhau. Với tất cả những thay đổi đó, nhiều nhà

giáo dục ở Nhật Bản kỳ vọng môn lịch sử hiện đại và đương đại mới sẽ mang lại

sự thay đổi "lịch sử" trong cách học và dạy môn này, chuyển đổi hoàn toàn từ học

vẹt sang học để có kiến thức làm nền tảng cho tư duy phân tích và bày tỏ quan

điểm.

Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nỗ lực phấn đấu trong

việc cải cách giáo dục, song bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, vẫn còn

nhiều tồn tại, hạn chế, hiệu quả chưa tương xứng với kỳ vọng, chương trình cải

cách giáo dục còn những bất cập, sạn rất nhiều trong sách giáo khoa mới …. Điều

lạ lùng khiến người dân lo lắng là tại sao không lựa chọn những chuyên gia, nhà

giáo có uy tín, những người có chuyên môn hàng đầu về giáo dục, những người có

tư tưởng chính trị vững vàng mà lại trọng dụng những Nguyễn Minh Thuyết, Trần

Đình Sử, Đỗ Ngọc Thống, ... những kẻ lệch lạc về tư tưởng, nhận thức chính trị,

công khai phỉ báng chế độ trên mạng xã hội. Thậm chí Nguyễn Minh Thuyết còn là

một thành viên “Nhóm 72” đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt

Nam, ... những người như thế mà giao cho họ trọng trách cải cách giáo dục thì

đúng là đại hoạ đối với dân tộc này. Chắc chắn họ sẽ gửi gắm tư duy trở cờ, hại

dân, phản Đảng trong chương trình cải cách giáo dục, sách giáo khoa mới và nhân

dân có quyền nghi ngờ về động cơ biến môn lịch sử thành môn học tự chọn ở

chương trình trung học phổ thông mới khi mà Tổng Chủ biên là Nguyễn Minh

Thuyết. Việt Nam không thiếu những người đủ đức, đủ tài để phục vụ cho công

cuộc cải cách giáo dục - "quốc sách hàng đầu", Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

cần trả lời cho nhân dân được rõ về vấn đề này.

Trong báo cáo của Chính phủ tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 3, Quốc hội

khóa XV, Phó Thủ tướng Lê Văn Thành cho biết, Chính phủ sẽ nghiên cứu tiếp thu

ý kiến của nhân dân, đại biểu Quốc hội về việc quy định Lịch sử là môn bắt buộc

trong chương trình giáo dục ở cấp trung học phổ thông./.

LUẬN ĐIỆU SUY DIỄN QUY ĐỊNH MỚI VỀ NHỮNG ĐIỀU ĐẢNG VIÊN KHÔNG ĐƯỢC LÀM Lợi dụng vấn đề ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định “Về những điều đảng viên không được làm” thay thế Quy định số 47-QĐ/TW trước đây, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động suy diễn, xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37. Từ đó, tự cho mình vai trò “người phát xét” để quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vai trò của Đảng. Trên nhiều trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới chứng tỏ sự mục nát, là “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo gốc rễ của tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị”, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện, từ đó quy kết việc Đảng đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống tham nhũng mà không thay đổi chế độ thì không bao giờ chống tham nhũng được. Đưa ra luận điệu “Đảng đứng trên pháp luật”, các đối tượng suy diễn “Đảng loay hoay, mò mẫm soạn ra các văn bản giấy tờ quy định cấm cho thêm rắc rối, chồng lấn pháp luật, vì những điều ấy pháp luật cũng cấm rồi, đảng viên cũng là công dân, thêm điều cấm là Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật”. Trên đài RFA, VOA, BBC… đăng tải nhiều bài xuyên tạc Quy định 37. Họ tự cho mình vai trò “phán xét”, viện dẫn ý kiến của đối tượng vốn có tư tưởng chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thực chất, đây là những luận điệu hòng hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Trước hết cần khẳng định, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, không thể lợi dụng vào một số quy định mới để xuyên tạc, suy diễn. Không phải bây giờ mà ngay từ khi Đảng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu từng tổ chức Đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện tốt kỷ luật Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu, hoàn thành trọng trách của mình. Trong những năm qua, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng. Qua đó, kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm minh; đồng thời cảnh tỉnh, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Giữ nghiêm kỷ cương phép nước để cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”. Việc bổ sung, ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm thể hiện quyết tâm cao, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc Đảng ta sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm không chỉ thể hiện sự quyết tâm của Đảng mà còn tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Đấu tranh, ngăn chặn thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch Trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ mang tính đột phá, như: trí tuệ nhân tạo, internet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu cực lớn và nhanh,... đã làm không gian mạng thay đổi sâu sắc cả về chất và lượng. Dựa trên thế mạnh của không gian mạng, hoạt động truyền thông được các thế lực thù địch tận dụng triệt để, tạo nên sự hỗn loạn, nhiễu loạn thông tin trong xã hội với mưu toan làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta dao động về tư tưởng, mất phương hướng về chính trị để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ kỹ thuật số, các phương tiện trực tuyến, các diễn đàn, hội nghị quốc tế, các sự kiện chính trị, xã hội trong nước,... để xuyên tạc và tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Các thế lực thù địch lợi dụng hệ thống thông tin mạng toàn cầu với lượng thông tin lớn, có thể tán phát cả trong và ngoài nước, tốc độ truyền tin nhanh, truy cập dễ dàng, thỏa mãn nhu cầu nghe - nhìn,… để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, blog có nội dung lôi kéo, kích động, chống phá, phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm và vai trò lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Các trang tin này được thiết kế sử dụng tiếng Việt với nhiều hình thức thông tin hấp dẫn, nhằm thu hút, lôi kéo người truy cập, lợi dụng vào đó để cài các thông tin có tính chất phản động, chống đối để gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước các vấn đề có tính nhạy cảm, làm cho mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ dễ có cái nhìn lệch lạc về lịch sử, xã hội và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, bị lung lạc niềm tin và có những hành động đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang “ưa chuộng” là làm giả các website, blog mạo danh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lão thành cách mạng, v.v. Đáng chú ý là, để tạo lòng tin cho người đọc và thu hút nhiều người truy cập, quản trị các website này đã cung cấp nhanh và đúng những thông tin mà báo chí chính thống tại Việt Nam đã đăng, sau khi thu hút được số lượng lớn người truy cập, chúng cài dần các thông tin xấu độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật. Từ các trang mạng này, nhiều người truy cập sẽ mắc mưu và bị động, lúng túng khi tiếp nhận thông tin, dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. Chúng thường triệt để sử dụng mạng xã hội, như: Facebook, Twitter, Yahoo,... để nhanh chóng kết nối các thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, tung tin bịa đặt, gây tâm lý hoang mang, dao động trong xã hội. Trong lĩnh vực quân sự, tận dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các loại vũ khí thế hệ mới được tạo ra, như: vũ khí năng lượng, gen sinh học, rô bốt tác chiến,... với những tính năng vượt trội, có sự nhảy vọt về chất sẽ làm cho các hình thái, tính chất, quy mô, phương thức và thủ đoạn tác chiến của các cuộc chiến tranh trong tương lai trở nên tinh vi, nguy hiểm, mức độ sát thương lớn gấp nhiều lần so với các cuộc chiến tranh trước đây. Thực tế này, làm cho người dân, cũng như mỗi quân nhân có trạng thái tâm lý căng thẳng, bất an, lo lắng. Và nó trở thành một trong những “cái cớ” mà các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền cho quan điểm “vũ khí luận”, nhằm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí hiện đại, khuếch trương sức mạnh khoa học và quân sự của chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa con người và vũ khí, v.v. Thực trạng trên, đặt ra nhiều vấn đề phức tạp và những khó khăn trong đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. Để kịp thời phát hiện ngăn chặn, làm thất bại mọi ý đồ của các thế lực thù địch, mỗi cán bộ, đảng viên, quân nhân cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: Một là, tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức của mọi tổ chức, lực lượng nhằm tạo ra được nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thống nhất trong mỗi tổ chức, cá nhân về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng nước ta; tuyệt đối không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị (khóa XII) về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, xác định: tránh mọi biểu hiện bàng quan, thiếu tự tin, thụ động, nhưng không chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Vì vậy, cần khắc phục triệt để các biểu hiện giản đơn khi cho rằng, Cách mạng công nghiệp 4.0 chỉ thuần túy là vấn đề khoa học và công nghệ hiện đại, không liên quan đến vấn đề chính trị nên không tác động, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng Việt Nam. Chỉ có nhận thức đúng mới có thái độ và trách nhiệm cao trong tham gia cuộc đấu tranh với những thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta hiện nay. Từ đó, mới bảo đảm cho nhiệm vụ này được tiến hành một cách chủ động, tích cực, có hiệu quả và khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Hai là, tích cực bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực toàn diện cho lực lượng chuyên trách đấu tranh chống địch lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta. Tham gia cuộc đấu tranh này là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành, không phải là công việc, nhiệm vụ của riêng ai. Trong khi đó, điều kiện, khả năng thu thập, xử lý thông tin và kỹ năng sử dụng, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân ta còn hạn chế. Vì vậy, để giữ thế chủ động, đấu tranh kịp thời, có chất lượng và hiệu quả, đòi hỏi phải xây dựng được lực lượng chuyên trách, có năng lực chuyên môn, trình độ về mọi mặt để giữ vai trò nòng cốt, xung kích trong cuộc đấu tranh này. Thực tiễn đã chứng minh, lực lượng chuyên trách cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức, lực lượng nào cũng đều không thể đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm, tư tưởng, lý luận sai trái với một bản lĩnh chính trị hèn yếu, một nền tảng lý luận nghèo nàn, một hệ thống tri thức không đầy đủ, trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin yếu kém, ít am hiểu những vấn đề thực tiễn xã hội đang diễn ra, v.v. Vì vậy, vấn đề vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài là cần phải bồi dưỡng lực lượng chuyên trách trong đấu tranh tư tưởng, lý luận một cách toàn diện để họ trở thành những người có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, trình độ, tư duy, lý luận cao, có phương pháp luận nhạy bén, sắc sảo, am hiểu thời cuộc; mục tiêu xa hơn là trở thành những “chuyên gia” giỏi về lý luận, những cây “bút chiến” sắc bén. Trong đó, chú trọng bồi dưỡng chuyên biệt cho lực lượng này, bảo đảm cho họ thành thạo về công nghệ thông tin, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại, sử dụng tốt ngoại ngữ để thu thập, tiếp nhận và xử lý nhanh chóng các thông tin, các tình huống đặt ra. Ba là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện các chính sách và khung pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tích cực tham gia đấu tranh, cần quan tâm chính sách đãi ngộ thỏa đáng, tạo điều kiện về mọi mặt, cả về bảo vệ chính trị, bảo vệ “sinh mệnh chính trị” của những người tham gia; chú trọng cung cấp thông tin đầy đủ, nhiều chiều và có định hướng đúng để phản bác quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Đồng thời, tăng cường hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước, trách nhiệm của các tổ chức và từng cá nhân trong sử dụng mạng xã hội; thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, triệt để Luật An ninh mạng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để nhận diện, ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin, tài liệu có nội dung phản động do các thế lực thù địch tuyên truyền, tán phát trên không gian mạng. Cơ quan chức năng các cấp cần quản lý chặt chẽ, đúng quy định việc truy cập, khai thác thông tin trên mạng xã hội, internet và phòng, chống việc lộ lọt thông tin bí mật nhà nước, bí mật quân sự mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để chống phá, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước./.

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022

THỦ TƯỚNG CAMPUCHIA HUN SEN: “Bữa cơm hôm đó bằng cả trăm, cả ngàn tấn gạo của hôm nay”

 

Đó là chia sẻ chân tình của Thủ tướng Campuchia Hun Sen trong ngày Ông trở lại khu vực thuộc ấp Hoa Lư, xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (nay là ấp Thạnh Tây, xã Lộc Tấn) nhân Lễ Kỷ niệm “45 năm con đường tiến tới đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” của Thủ tướng Campuchia Hun Sen (20/6/1977 - 20/6/2022) được tổ chức sáng nay 20-6, tại cụm công trình X16 thuộc huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
“Bước chân sang Lộc Ninh, Bình Phước, bữa cơm đầu tiên tôi được ăn sau hàng năm trời đói khổ có ý nghĩa hơn hàng vạn tấn gạo lúc bình thường; tính mạng của tôi được bảo toàn.
Nếu không có sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam thì có thể không có một Hun Sen cũng như Campuchia như hiện nay”, Thủ tướng Hun Sen khẳng định.
(Nguồn internet - Nguyệt Hàn St)

BÁO CHÍ VỚI SỨ MỆNH KHƠI DẬY, ĐỊNH HƯỚNG DÒNG CHẢY VĂN HOÁ TÍCH CỰC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

 

Nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2022), đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, có bài viết đề cập những vấn đề quan trọng của công tác báo chí. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Cùng với những giá trị đạo đức, nhà báo cách mạng, phải có “bút sắc”, không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn, cơ sở quan trọng để tạo nên những tác phẩm mang tính chiến đấu, tính hấp dẫn, tính thuyết phục. Mỗi tác phẩm báo chí đòi hỏi phải hội tụ đủ yếu tố nhân văn và hiện đại. Để đạt được mục tiêu đó, mỗi nhà báo phải chịu khó rèn giũa kỹ năng, “mài sắc ngọn bút” với sự đam mê nghề nghiệp, nêu cao tinh thần sáng tạo, cầu thị, học hỏi, nhất là thường xuyên nghiên cứu học tập phong cách viết báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Người làm báo phải bám sát thực tiễn cuộc sống, “phải đi tận nơi, xem tận chỗ”, thấu cảm tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, “phải học cách nói của quần chúng”, “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”; viết cho dân phải giản dị, cụ thể, biến lý luận thành những điều dễ nhớ, dễ thuộc, “Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?”. Và “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết”.
(Báo Nhân dân)

NỪ TÙ NHÂN NHỎ TUỔI NHẤT CHUỒNG CỌP

 

Thiều Thị Tân sinh ra trong một gia đình khá giả ở quận 5, Sài Gòn. Say mê võ thuật từ nhỏ, năm 11 tuổi bà bắt đầu tập Judo và ngồi thiền mỗi ngày với Thượng tọa Thích Tâm Giác. Rồi một lần đến võ đường Vovinam (Việt võ đạo) tại quận 10, chứng kiến những đòn thế đẹp mắt, lại đọc được 10 điều tâm niệm của môn võ này, bà lập tức xin học ngay. Bà được các võ sư CM Lê Sáng, Trần Huy Phong trực tiếp truyền dạy. Năm 13 tuổi, Thiều Thị Tân giác ngộ cách mạng. Sau đó bà làm việc tại Ban Binh vận Trung Ương Cục miền nam. Năm 1968 bà là đội phó Đội Võ trang tuyên truyền F105, nhận nhiệm vụ vận chuyển chất nổ, kíp nổ từ Trảng Bàng (Tây Ninh) để chuẩn bị tấn công các vị trí trọng điểm của địch mà tổ chức đã vạch ra. Do bị đồng đội phản bội, Tân ra tòa và bị xử 1 năm án treo. Lẽ ra Tân đã về để tiếp tục theo học nhưng vào đêm 22/6/1968, một cuộc đấu tranh dữ dội do cô và các nữ tù tổ chức trong nhà giam đã dẫn tới một cái án khác: Tù nhân nguy hiểm. Năm 1969 cô bị đày ra Côn Đảo cùng người chị của mình lúc mới tròn 16 tuổi, nữ tù trẻ nhất lúc bấy giờ.

Những ngày bị thẩm vấn cũng là ngày đầu tiên dấu hiệu dậy thì đến với cô nhỏ. Tân thấy điều gì thật khác lạ đang xảy ra với mình, xin vào nhà vệ sinh kiểm tra và chết đứng hồi lâu trong đó không dám ra vì… sợ! Ở trường tuy có dạy về sự thay đổi dậy thì nhưng khi điều đó xảy ra, bất kỳ cô gái nào cũng không khỏi chấn động. Viên cảnh sát già gõ cửa phòng vệ sinh, hối thúc: “Làm gì lâu vậy? Có cần tôi giúp gì không?”. Tân ngần ngừ mở cửa, nhờ kéo giúp… dây rút quần. Vốn chỉ quen mặc đầm, áo dài, vào đây phải mặc những bộ đồ dải rút khiến cô nữ sinh tiểu thư đâm ra lúng túng. Càng lúng túng hơn vì cô vừa phải lót một xấp giấy vệ sinh bùng nhùng để thấm máu đang chảy ra. Viên cảnh sát nhận ra “vấn đề” nhạy cảm mà “đối phương nhí” của mình đang phải trải qua, cười thân thiện, ánh mắt lộ vẻ cảm thông. Giúp cô bé kéo dây quần, ông thở dài: “Đang tuổi ăn tuổi lớn không lo học hành, theo đám Việt Cộng chi cho ra nông nỗi này hả cô bé. Đến cái dây quần còn không biết cột sao cho chặt…”. Về sau, viên cảnh sát ấy càng khiến chị em Tân cảm động khi trộm hai bức hình trong hồ sơ Tổng nha ra đưa cho má Chín Bình, mẹ của 2 chị em.

Không lâu sau đó, cũng như những tù nhân bị liệt vào hàng nguy hiểm, cứng đầu khác, hai chị em bị đày ra Côn Đảo, trở thành những tù nhân trẻ tuổi nhất bước vào chuồng cọp - khu vực giam tù nổi tiếng về sự tàn bạo và trải qua nhiều gian khổ. Cơ hội bất ngờ xuất hiện. Một nhóm tù nhân là sinh viên khi được trả tự do đã vẽ lại sơ đồ chuồng cọp, khu vực được xem là bí mật đối với các đoàn kiểm tra quốc tế khi đến Côn Đảo. Một ngày, các tù nhân đang mơ màng trong ánh sáng nhập nhoạng, thì nghe tiếng xì xào… Tiếng người. Nhưng là tiếng nước ngoài chứ không phải tiếng Việt. Tù nhân chộn rộn hẳn lên như đang có những tia sáng quét vào. “Who are you? Where are you from?” - Tạo cố sức hỏi lớn như sợ sau bao trận đòn, giọng nói yếu ớt của cô không còn đủ để phái đoàn có thể nghe. Đoàn người giật mình dùng lại. Họ bất ngờ vì ở nơi như thế này lại có người sống. Họ càng ngạc nhiên hơn khi đó lại là một cô gái trẻ, nhưng giọng đầy tự tin khi nói chuyện bằng tiếng Anh với họ. Từ Tạo và Tân, phái đoàn hiểu rõ hơn về chốn địa ngục trần gian, nơi mà những người đang ở thế giới văn minh như họ không hề nghĩ là có thật. Thông tin về chuồng cọp Côn Đảo lan nhanh khắp thế giới. Làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam càng lan rộng hơn. Chế độ hà khắc nơi chuồng cọp được nới lỏng. Các tù nhân lớn tuổi nhìn hai cô bé bằng ánh mắt tin yêu xen lẫn nể phục: “Bé hạt tiêu mà gan lớn, giỏi giang”.

MỘT VIÊN GẠCH HỒNG, BÁC CHỐNG LẠI CẢ MÙA BĂNG GIÁ

 

“Viên gạch hồng” trong câu chuyện về Bác có tên gọi là: Chauffeuse. Đó là một loại gạch sưởi ấm thông dụng cho tầng lớp nghèo ở châu Âu những thế kỷ trước. Thậm chí có tài liệu còn cho biết cho tới những năm 60 của thế kỷ XX, gạch sưởi ấm vẫn còn được sử dụng ở những gia đình nghèo tại Pháp. Một bình luận trên facebook đã viết: “Hiện bên Pháp vẫn còn bán và hoàn toàn có thể đặt mua qua eBay”. Trước đó, trong nhiều thế kỷ, gạch sưởi ấm Chauffeuse được giới lao động nghèo ở châu Âu dùng phổ biến. Việc sử dụng lò sưởi lúc bấy giờ là xa xỉ và chỉ có giới quý tộc, sang giàu mới có lò sưởi để giữ ấm. Theo đó, gạch Chauffeuse không phải dạng gạch dùng để xây dựng bình thường, đây là loại gạch có khả năng chịu nhiệt rất cao để giữ nhiệt các lò sưởi, lúc bấy giờ được xây bằng gạch Chauffeuse. Tại các khu nhà trọ dành cho người lao động, mỗi sáng khi đi làm, người thuê nhà sẽ đưa chủ nhà trọ viên gạch sưởi, khi đốt lò sưởi, chủ nhà sẽ đặt viên gạch vào lò để nung. Khi trở về nhà, người thuê nhà sẽ bọc gói kỹ lưỡng, viên gạch sẽ giữ nhiệt được khoảng 5-7 giờ, đủ cho một đêm. Là một người cần lao, không có gì khó hiểu khi Bác Hồ sử dụng cách thức sưởi ấm bình dân này trong thời kỳ sinh sống ở châu Âu. Ngày nay, một viên gạch sưởi như vậy đang được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội như dấu ấn về một giai đoạn hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

Cảnh giác với cái gọi là “Xã hội dân sự”

 

Trong Chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với nước ta, các thế lực thù địch triệt để sử dụng các thủ đoạn phi quân sự, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... để phá hoại từ bên trong nội bộ, hòng tạo ra lực lượng chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước. Trong đó, chúng đặc biệt quan tâm, lợi dụng xã hội dân sự, thúc đấy hình thành thế chế “đa nguyên chính tr, đa đng đối lp” ở Việt Nam.

nước ta hiện nay, t chức xã hội dân sự (XHDS) được hiểu chung nhất đó là các hội (nhóm, đoàn th, hiệp hội, phong trào...) do các cá nhân lập ra, liên kết giữa các thành viên với nhau bng hệ thống các qui tc, thỏa thuận, hoạt động dựa trên nguyên tc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đ phản biện, giám sát và phi hợp với Nhà nước nhm bảo đảm quyn dân ch, quyền con người, lợi ích cộng đồng và bồi dưỡng cơ sở xã hội - văn hóa cho công cuộc đi mới đất nước, trong mối quan hệ hài hòa với các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Về bản chất, XHDS có nhiều điểm tích cực, góp phần giúp Nhà nước giảm bớt gánh nặng chi phí, tinh giản bộ máy, hoạt động hiệu quả và minh bạch; là cầu nối các cá nhân với Nhà nước; cùng với Nhà nước hoạch định và tổ chức phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách và giám sát hoạt động của đội ngũ công chức; góp phần phát huy các nguồn lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Tuy nhiên, khi XHDS phát trin mạnh, nếu trong bộ máy nhà nước có nhiều sai lầm trong hoạch định, thực hiện chính sách hoặc tham nhũng sẽ tiến hành đấu tranh, bài trừ sai phạm. Nếu cuộc đấu tranh mạnh mẽ có sự lãnh đạo thng nht ca một lực lượng chính trị, thì nguy cơ sụp đổ của chế đ sẽ tăng lên. Một trong những vn đ cần được quan tâm đó là vai trò đối kháng của các tố chức XHDS. Đ thực hiện vai trò đối kháng, trước hết các t chức XHDS t chức ra đội ngũ tuyên truyền viên đ đá phá các chính sách, phanh phui các vụ việc sai phạm, đòi cải cách, thực thi quyn lợi; đng thời, t chức hội thảo, họp mặt, viết bài... tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ hệ thống chính trị, gây hoài nghi trong dư luận xã hội, kích động đấu tranh với nhà nước. Khi có đủ điu kiện, thời cơ chín muồi sẽ phát động xuống đường đấu tranh công khai chng chính quyn hoặc làm “cách mạng” lật đ chế độ.

Thời gian gân đây, với tham vọng hình thành thể chế “đa nguyên chính trị, đa đảng đi lập” ở nước ta, các thế lực thù địch đang hô hào thúc đy hình thành các t chức XHDS chính trị làm tin đề. Vtổ chức, chúng lợi dụng không gian kỹ thuật số, dựa vào các tuyên bố, ly chữ ký ủng hộ, như là một sư cam kết v mặt tinh thần để hình thành tổ chức XHDS ảo. Chẳng hạn tuyên bố về “Phong trào con đường Việt Nam”; Tuyên bố ra đời mạng “Diễn đàn xã hội dân sự”... đồng thời, đòi Việt Nam phải xóa bỏ Điu 109, Bộ Luật Hình sự (2015). Gần đây, nhiều kẻ lớn tiếng kêu gọi thúc đẩy nhanh chóng các tố chức XHDS ở Việt Nam và kêu gọi móc nối với các NGOs quốc tế... Họ còn kêu gi “phong trào dân sự”, “bt tuân dân sự” cn “nhích thêm một bước”, không chlà diễn đàn trên mạng, mà phải hình thành các nhóm công khai trong đời sống theo phương châm ôn hòa, bt bạo động. Đáng chú ý là họ công khai công kích sự lãnh đạo của Đảng, coi Đảng lãnh đạo là chế độ “độc tài toàn trị”, tình trạng tham nhũng là do sự độc quyn lãnh đạo ca Đảng... “chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đi lập mới có thể chống được tham nhũng”... V phương thức hoạt động, trước hết chúng lợi dụng quy định của Hiến pháp, các công ước quc tế về quyền con người thu hút người tham gia, đăng tải bài viết, c vũ, thành lập nhóm sáng lập hội, đoàn như “Diễn đàn XHDS”, “Hội cựu tù nhân lương tâm”, “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”... đồng thời cổ vũ cho các hoạt động mang tính ôn hòa, bt bạo động. Hiện nay, trên các din đàn mạng, họ tập trung hô hào xuyên tạc, phản đối Luật An ninh mạng, đòi quyên tự do ngôn lun, báo chí, đặc biệt là tự do Internet, nhm phát triến tổ chức và phổ cập quan điểm dân chủ, nhân quyền phương Tây. Họ cường điệu những sai lầm, khuyết điểm của Đảng, Nhà nước; bôi nhọ, vu cáo nhiu cán bộ lãnh đạo cơ quan, tổ chức, nhất là các cơ quan bảo vệ pháp luật, hòng làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta và chế độ xã hội xã hội ch nghĩa.

Cương lĩnh, đường li của Đảng, chính sách, pháp luật ca Nhà nước ta đi với các t chức XHDS là minh bạch, rõ ràng: Tôn trọng và trân trọng mọi tổ chức xã hội tự nguyện hướng vào mục tiêu xây dựng xã hội ta trở thành một xã hội văn minh, trong đó các quyn con người và quyn công dân được bảo đảm ngày càng tt hơn. Không phủ nhận rng, Nhà nước ta, xã hội ta còn những khiếm khuyết, song thực tế cho thấy, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nhận ra và quyết tâm khắc phục những sai lầm khuyết điểm đó. Bởi vậy, chúng ta không chp nhận bất cứ ai - cá nhân hay nhóm xã hội nào, giai tng nào mưu toan lợi dụng quyền được thành lập và hoạt động ca cái gọi là XHDS để nhằm mục đích giành quyn lực hay vì quyn lực nhà nước, xóa bỏ chế độ chính trị, tước đoạt thành quả của cách mạng Việt Nam./.

Thủ đoạn của những kẻ giả danh vì dân, vì nước

 

Khi đất nước diễn ra các sự kiện quan trọng như đại hội đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, chúng ta lại thấy “một đội quân bàn phím” tán phát nhiều tài liệu với những luận điệu xuyên tạc, giả danh vì dân, vì nước để đòi: Xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013; đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; đòi “phi chính trị hóa quân đội và công an”... Hay xuyên tạc rằng: “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội nước ta là không chính danh, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”; “cuộc bầu cử chỉ do Đảng độc diễn, người dân không có vai trò gì”... Thực chất, đây là những thủ đoạn đòi xây dựng một thiết chế bầu cử theo kiểu phương Tây...

Ngoài ra, chúng lợi dụng một số sai phạm của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp cao, rồi hồ đồ lớn tiếng vu khống, dựng chuyện. Khi có những sự kiện ở khu vực, thế giới ảnh hưởng đến Việt Nam, chúng lại lên mạng xã hội, tập hợp những phần tử cơ hội, bất đồng chính kiến kêu gọi tuần hành phản đối, gây sức ép đối với hệ thống chính trị các cấp, làm rối loạn trật tự, an toàn xã hội...

Những việc làm, thủ đoạn trên của các thế lực thù địch trước hết nhằm tìm mọi cách xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng của Đảng ta để thay thế bằng tư tưởng tư sản. Chúng xác định rõ, chính trị, tư tưởng là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam trong tình hình hiện nay. Do vậy, đây là mục tiêu nhất quán của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống CNXH mà các thế lực thù địch hướng tới.

Thứ hai, chúng muốn xóa bỏ vị trí, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Về thực chất, chúng mưu đồ hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhen nhóm lực lượng phản động chống đối để giành quyền thống trị xã hội cho giai cấp tư sản.

Ba là, chúng muốn gây mất ổn định về chính trị ở nước ta. Chúng tác động vào những cán bộ, đảng viên thiếu rèn luyện, tu dưỡng, từng bước làm tha hóa họ, dùng “cộng sản diệt cộng sản”, “cộng sản con diệt cộng sản cha”. Chúng không tiếc công sức và tiền bạc để thực hiện những hành vi lén lút, lôi kéo những người có chính kiến bất đồng, chống CNXH, chống sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dùng họ như một “con rối chính trị” trong tay để thực hiện mưu đồ về chính trị.

Với quần chúng nhân dân, chúng kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, tạo tâm lý hoài nghi, giảm dần niềm tin vào Đảng và hệ thống chính trị ở nước ta, gây mâu thuẫn nội bộ, làm mất sự đồng thuận xã hội.

Bốn là, bằng nhiều thủ đoạn bao vây, cấm vận kinh tế, lợi dụng các tổ chức quốc tế, tác động từng bước, làm suy yếu tiềm lực kinh tế, xâm nhập, chi phối, lũng đoạn kinh tế-tài chính, chuyển hóa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta chệch hướng theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Năm là, xóa bỏ nền văn hóa, đạo đức, lối sống của chế độ XHCN, nhường chỗ để văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản xâm nhập vào. Từ đó làm tha hóa phẩm chất, đạo đức con người, làm băng hoại nhiều giá trị truyền thống của dân tộc ta, dẫn đến rối loạn an ninh chính trị, trận tự an toàn xã hội.

Sáu là, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, mục tiêu là loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội và công an, hòng tạo ra sự bất ổn chính trị trong nước và cao hơn là sụp đổ chế độ...

Thực chất của “diễn biến hòa bình” và chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa giai cấp vô sản và tư sản, được biểu hiện ở sự đối kháng giữa hai hệ thống chính trị thế giới: XHCN và tư bản chủ nghĩa. Chừng nào còn tồn tại hai hình thái kinh tế-xã hội đối lập nhau, còn đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và tư sản thì nhân loại tiến bộ phải phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình".

Để phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” hiệu quả thì Đảng ta phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như: Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; làm tốt công tác dự báo, nắm chắc diễn biến thông tin, chủ động định hướng tư tưởng trong mọi tầng lớp nhân dân; lấp những “khoảng trống” thông tin trên mạng xã hội, đặc biệt là ở cơ sở, vùng sâu, vùng xa theo phương châm “nơi nào nhân dân tiếp cận thông tin, nơi đó có cán bộ định hướng thông tin”.

 Trong nhiều giải pháp triển khai, theo chúng tôi, công tác phòng, chống tốt “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp mang tính then chốt. Lênin-nhà tư tưởng vĩ đại, người sáng lập nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới đã căn dặn những người cộng sản: Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta.

Do vậy, cuộc chiến chống "viên đạn bọc đường" phải bắt đầu từ công việc tự soi, tự sửa, giống như việc đánh răng, rửa mặt hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên; phải phòng ngừa, ngăn chặn ngay những cám dỗ danh vọng, quyền lực xung quanh mình, giữ cho mình thực sự trong sạch. Khi Đảng ta đã lựa chọn, xây dựng được một Ban Chấp hành Trung ương mạnh, Bộ Chính trị mạnh, cán bộ chủ chốt mạnh, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ thì chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động không đạt mục đích./.

Nhận diện chiêu trò chống phá nhân quyền trên một số lĩnh vực

 

Hiện nay, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, theo kiểu “mềm, ngầm, sâu, hiểm”, vô cùng tinh vi, xảo quyệt.

Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân. 

Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc, qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch, xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư luận.

Trên thực tế, Việt Nam không ngừng nỗ lực để bảo đảm nhân quyền. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49). Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Những thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Do đó, đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc./.

Sự thật “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong” của tổ chức Freedom House về tự do, dân chủ ở Việt Nam

 

Freedom House không còn là cái tên xa lạ. Theo tuyên bố được đưa ra, mục đích hoạt động của Freedom House là ủng hộ sự tiến bộ và thúc đẩy, mở rộng tự do, dân chủ trên toàn thế giới. Hằng năm, tổ chức này xây dựng và công bố các báo cáo như: Báo cáo tự do trên thế giới, báo cáo tự do trên mạng, báo cáo tự do và truyền thông… Tuy nhiên, nhiều năm qua, những thông tin mà tổ chức này nêu ra liên quan đến nhiều nước, trong đó có Việt Nam lại sai lệch thực tế, mang động cơ tiêu cực về chính trị.

Vẫn như thường lệ, nội dung của cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong” được Freedom House tung ra hôm 2/6 tiếp tục là những thông tin sai sự thật, vu cáo về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Tổ chức này vu cáo rằng, Việt Nam là một trong số các quốc gia “thực hiện đàn áp xuyên quốc gia nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương”; “tiến hành tấn công mạng vào các tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền”; “quấy rối, cấm xuất cảnh hoặc bị tịch thu hộ chiếu đối với các “nhà dân chủ” chỉ vì họ báo cáo vi phạm nhân quyền của Chính phủ lên các cơ chế nhân quyền Liên hiệp quốc”?!...

Ngay sau đó, một số trang báo nước ngoài có tư tưởng thù địch hoặc cái nhìn thiếu thiện cảm với Việt Nam cùng các kênh truyền thông do các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đã nhanh chóng khai thác, lan truyền những nội dung sai lệch trên để làm nhiễu loạn thông tin, bóp méo sự thật, tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Thực ra, đây là chiêu trò cũ lặp lại của Freedom House. Tổ chức này liên tục xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có quyền tự do, dân chủ. Việc đánh giá, xếp hạng của Freedom House không căn cứ vào những tài liệu chính thống, không dựa vào tình hình đời sống thực tế của người dân ở Việt Nam.

Thay vào đó, tổ chức này bắt tay với các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị người Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng các cá nhân, tổ chức nước ngoài có định kiến với Việt Nam để tiến hành phỏng vấn, thu thập thông tin, từ đó vu khống Việt Nam xâm phạm các quyền tự do, dân chủ.

Hoạt động của Freedom House thể hiện rõ sự định kiến, thù địch đối với Việt Nam. Tổ chức này luôn luôn đánh đồng, quy chụp rằng trong chế độ chính trị một đảng lãnh đạo là không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền. Không riêng Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng liên tục bị Freedom House cho vào “tầm ngắm”.

Mục đích của tổ chức này là thông qua chiêu bài dân chủ, nhân quyền để tấn công, can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Trong một bài trả lời phỏng vấn VTV, ông Yerlan Baizhanov - Đại sứ Kazakhstan tại Việt Nam đã đánh giá: “Có những tổ chức nhân quyền có tư tưởng rất cứng nhắc, phiến diện. Họ bị chi phối bởi tham vọng chính trị. Họ không chú ý đến sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa. Khi lập báo cáo, họ thường bị yếu tố chính trị và định kiến chi phối. Chúng ta sống và làm việc không phải để làm hài lòng những tổ chức như Freedom House mà Nhà nước của chúng ta hoạt động để người dân có cuộc sống tốt lên trên thực tế. Đó mới là điều quan trọng nhất”.

Phải khẳng định rõ, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của người dân. Các chính sách phát triển con người được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện, từ xoá đói giảm nghèo đến phát triển giáo dục, y tế, lao động, việc làm.

Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để tất cả mọi người trong xã hội tiếp tục thừa hưởng, thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội một cách toàn diện, sâu sắc, có chất lượng, thực chất và hiệu quả hơn. Không chỉ riêng Việt Nam mà với tất cả các nước trên thế giới, nếu muốn đánh giá về sự tự do, dân chủ, nhân quyền thì chắc chắn phải dựa vào ý kiến của đại đa số người dân của đất nước đó.

Việc một số cá nhân, tổ chức như Freedom House không ở Việt Nam, không nhìn nhận bằng các khảo sát khách quan nhưng lại liên tục đưa ra đánh giá, phán xét về Việt Nam với gam màu xám cho thấy rõ chiêu trò quy chụp, và vì thế hiển nhiên không đủ độ tin cậy. 

Hiện nay Việt Nam là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thế giới với khoảng 70 triệu người dùng (chiếm gần 70% dân số). Vì vậy, nếu không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền thì chính người dân Việt Nam sẽ lên tiếng, đấu tranh bảo vệ các quyền của bản thân. Người dân Việt Nam không cần sự “ban phát tự do, nhân quyền” của Freedom House hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

Với những cáo buộc của Freedom House khi cho rằng Việt Nam không có tự do, chính quyền đang tiến hành “tấn công mạng”, “đàn áp xuyên biên giới”, rõ ràng đây là những luận điệu phi lý, xuyên tạc một cách trắng trợn. Những dẫn chứng được tổ chức này đưa ra là hết sức kệch cỡm. Trong danh sách “nạn nhân” của “đàn áp xuyên biên giới” được Freedom House lấy làm ví dụ như A Ga và tổ chức VOICE, đây đều là thành phần chống phá đất nước, có nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia Việt Nam. Về A Ga, đây là đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai truy nã về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”.

Rõ ràng, Freedom House và các đối tượng chống đối đã diễn một “màn kịch dân chủ” hết sức vụng về nhằm mục đích tấn công chống phá Việt Nam. Các hoạt động của Freedom House ngày càng khẳng định rõ bộ mặt gian trá, lợi dụng danh nghĩa thúc đẩy tự do, dân chủ để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là hoạt động lợi dụng dân chủ, vi phạm quy định của pháp luật quốc tế, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân Việt Nam./.

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG

 

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước thường xuyên thực hiện những âm mưu, thủ đoạn chống phá đường lối phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta. Một trong những vấn đề chúng tập trung xuyên tạc, chống phá là đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại... Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Đảng và Nhà nước ta luôn kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; ý chí tự lực tự cường và nội lực là quyết định, cơ bản, lâu dài; nguồn lực bên ngoài là quan trọng; kết hợp chặt chẽ ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân; kết hợp giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; kế thừa, phát huy bản sắc ngoại giao Việt Nam kết hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng, quản lý tập trung của Nhà nước đối với đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Nhờ đường lối đối ngoại nhất quán trên, Việt Nam ngày càng mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đối tác quan trọng và các nước láng giềng, bạn bè truyền thống trên tinh thần bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau và phù hợp luật pháp quốc tế. Cùng với đó, sau hơn 35 năm đổi mới, kinh tế - xã hội, chính trị, quốc phòng và an ninh của đất nước ta cũng đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần; chính trị, xã hội ổn định trên cơ sở khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường. Đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào mọi mặt của đời sống xã hội quốc tế. Có thể khẳng định rằng: đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Những kết quả nổi bật của đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, nhất quán của Việt Nam là minh chứng rõ ràng bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch khi chúng cho rằng nền ngoại giao Việt Nam còn lạc hậu, bị động, chưa đủ sức bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc./.

 

NHÂN QUYỀN KHÔNG ĐẾN TỪ NƯỚC MẮT..!


Đã từng có vị tổng thống khóc, đã có mấy anh, chị nghị sĩ khóc và người dân thì đã từng khóc rất nhiều.
Nhưng thực sự căn cốt của vấn đề vẫn ko phải là ở nước mắt chảy nhiều hay ít. Nước mắt dễ lấy đi của con người ta xúc cảm, lòng thương và vì thế mà thực tại dẫu phũ phàng đến mấy đôi khi cũng khiến đám đông quên đi.
Xứ Hợp Chủng quốc đã từng có nhiều cuộc biểu tình diễn ra, thậm chí có cả đốt phá vì vấn nạn súng đạn. Người tìm hiểu về lịch sử hình thành của nước Mỹ hẳn nhiên họ cũng ko quá ngạc nhiên vì suốt quá trình đó là máu, là vàng và cả nước mắt. Quyền sở hữu tư nhân đặt ở vị trí tối cao trong xã hội, cho nên nếu người dân tưởng như lợi ích của mình sẽ đc bảo đảm khi có trong nhà hẳn 1 khẩu súng trường tấn công, thêm vài khẩu Glock 17 thì thử hỏi lợi ích màu mỡ của những nhà tài phiệt lái súng hạng nặng liệu sẽ có bao giờ mất đi đc không..?
Cái ông giám đốc hãng súng nhất nhì ở Mỹ đã từng phát biểu trước nạn xả súng, rằng " để chống lại một kẻ xấu có súng phải là một người tốt nhưng cũng phải có súng".
Vậy ra trong bất luận trường hợp nào đi chăng nữa, hàng nóng của các ngài ấy sẽ đc bán cho cả hai bên, xấu và tốt. Chả trách bên đó người ta đang tính trang bị súng cho cả giáo viên và áo chống đạn cho học sinh. Và tương lai là những vũ khí hạng nặng gì nữa thì chưa thể đoán định. Nhưng nếu cứ như thế này thì biết đến bao giờ nhân quyền mới đc gọi tên thực sự hay đó chỉ la một thứ tự do theo kiểu chọn lọc của giới tự nhiên.
Có thể có vị Tổng thống đã khóc rất nhiều, có thể có anh nghị sĩ đã khóc nhiều hơn và người dân còn khóc to hơn nữa. Nhưng nhân quyền vẫn không bao giờ có thể đến từ nước mắt. Có chăng đó chỉ sự mủi lòng theo kiểu sự đã rồi mà thôi.