Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

Xây dựng nguồn cán bộ kế cận quan trọng của Đảng.

 Sáng 25-6, Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị gặp mặt các đồng chí Uỷ viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng khoá XIII. Đồng chí Võ Văn Thưởng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và đồng chí Trương Thị Mai, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương chủ trì Hội nghị.




Toàn cảnh Hội nghị

Đại hội XIII của Đảng đã bầu 20 đồng chí làm Uỷ viên Trung ương dự khuyết khoá XIII. Theo đó có 19 đồng chí tham gia lần đầu, 1 đồng chí tái cử (trong đó có 1 đồng chí là cán bộ nữ, 3 đồng chí là người dân tộc thiểu số; 7 đồng chí công tác tại các cơ quan Trung ương và 13 đồng chí công tác tại địa phương). Độ tuổi bình quân đầu nhiệm kỳ khoá XIII là 43,7 tuổi.

Thời gian qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp uỷ, tổ chức đảng đặc biệt quan tâm, coi trọng công tác xây dựng và chuẩn bị đội ngũ Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng nhằm tạo nguồn cán bộ trẻ kế cận lâu dài cho Đảng. Đến thời điểm hiện nay, 100% các đồng chí công tác ở địa phương đã tham gia BTV tỉnh, thành uỷ và 100% các đồng chí công tác ở Trung ương đều là cấp thứ trưởng và tương đương. Sau hơn 1 năm tham gia Trung ương, nhiều đồng chí qua hoạt động thực tiễn đã thể hiện được phẩm chất, năng lực công tác của mình, tham gia lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết có hiệu quả một số nhiệm vụ, công việc khó, mới, phức tạp; bước đầu tạo được niềm tin, uy tín đối với cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị.

Phát biểu tại Hội nghị gặp mặt, các Uỷ viên Trung ương dự khuyết chia sẻ cảm nhận của mình trong thực tiễn công tác từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đồng thời bày tỏ niềm vinh dự khi được gặp mặt các đồng chí lãnh đạo cấp cao để chia sẻ tâm tư, cảm nghĩ và được “truyền lửa”.

Tại đây, các Uỷ viên Trung ương dự khuyết cũng đề xuất việc được tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức về công tác xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, kỹ năng lãnh đạo, quản lý. Đồng thời mong muốn Trung ương, cấp uỷ, tổ chức đảng tiếp tục tạo điều kiện môi trường công tác, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và phân công, bố trí công tác nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của các địa phương, cơ quan, đơn vị.

Các đồng chí Uỷ viên Trung ương dự khuyết phát biểu

Bên cạnh đó, các đồng chí Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng khoá XIII cũng cam kết tiếp tục phấn đấu, rèn luyện bản lĩnh chính trị, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống; chủ động trong việc học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tích luỹ kinh nghiệm, kỹ năng lãnh đạo, quản lý điều hành, đóng góp có hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Võ Văn Thưởng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đánh giá đây là hoạt động có ý nghĩa và rất vinh dự đối với các Uỷ viên dự khuyết khoá XIII khi được chia sẻ tâm tư, cảm nghĩ, những việc mình đã làm và chưa làm được.

Chia sẻ trải nghiệm của chính mình khi từng là 1 trong số 25 Uỷ viên Trung ương dự khuyết khoá X, đồng chí Võ Văn Thưởng cho biết, lần đầu tiên tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ nhất tại Đại hội X, Tổng Bí thư có chia sẻ đây là Hội nghị đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương nên có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh của Đảng và đất nước. Lúc đó, bản thân đồng chí Võ Văn Thưởng tự cảm thấy trách nhiệm nặng nề, lớn lao của mình và tự nhắc nhở bản thân phải nỗ lực, cố gắng xứng đáng với trọng trách được giao.

Qua ý kiến phát biểu, các Uỷ viên dự khuyết đều thể hiện mong muốn được quan tâm, tạo điều kiện để trưởng thành, tiến bộ. Đồng chí Võ Văn Thưởng nhận định đây là nguyện vọng chính đáng. “Trung ương luôn mong muốn các Uỷ viên dự khuyết tiến bộ và đó cũng là trách nhiệm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng. Đây là công việc có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh của Đảng, của chế độ, của đất nước”, đồng chí Võ Văn Thưởng cho biết.

Đồng chí Võ Văn Thưởng đánh giá, việc bắt đầu thực hiện lại chế độ Uỷ viên dự khuyết từ khoá X đã thể hiện mong muốn đó, nhằm tạo ra được nhiều lớp cán bộ trẻ cho Đảng.

Đồng chí Thường trực Ban Bí thư mong muốn bản thân mỗi đồng chí Uỷ viên Trung ương dự khuyết hôm nay phải không ngừng nỗ lực, rèn luyện để tiến bộ về mọi mặt. Trong công việc luôn băn khoăn, trăn trở tìm cách giải quyết, tháo gỡ khó khăn, nỗ lực tự học, tự rèn luyện. Đặc biệt, người cán bộ trẻ phải thẳng thắn, rèn luyện viết lách, nói năng, nghiên cứu đọc cương lĩnh, nghị quyết, tìm hiểu lịch sử đảng, lịch sử dân tộc. Trong ứng xử đồng chí đồng đội có trước có sau, tình nghĩa, giữ mối quan hệ mật thiết với nhân dân.

Đồng chí Võ Văn Thưởng chia sẻ kinh nghiệm và gửi gắm niềm tin đối với lớp cán bộ trẻ quan trọng của Đảng

Có ý kiến bày tỏ sự băn khoăn, lo lắng khi một số cán bộ thời gian gần đây vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đặt ra câu hỏi "năng động, sáng tạo có mâu thuẫn với việc chặt chẽ không?" hay "dám nghĩ, dám làm liệu có dễ dẫn tới sai phạm không?".

Giải đáp vấn đề này, đồng chí Võ Văn Thưởng cho biết, thời gian qua, những vụ sai phạm của cán bộ bị xử lý kỷ luật nhìn dưới góc độ tích cực, đó là bài học quý giá đối với bản thân mỗi người cán bộ, để mình kỹ lưỡng, chỉn chu hơn trong công tác chứ không phải né tránh, không làm.

Đồng chí Võ Văn Thưởng đề cập đến việc người cán bộ phải “giữ mình” cho đúng. Tuy nhiên, không phải việc giữ mình tròn vo, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, mà là phải giữ mình tránh xa thói hư tật xấu, cám dỗ hằng ngày để trở thành người cán bộ chặt chẽ, chỉn chu, kỹ lưỡng hơn.

Đồng chí Thường trực Ban Bí thư mong các đồng chí cán bộ trẻ khi được Đảng giao nhiệm vụ thì hăng hái đảm nhận, đồng thời không ngừng tiến bộ. “Tiến bộ không phải đo lường bằng chức vụ mà tiến bộ về bản lĩnh, nhận thức, kiến thức, bằng sự vững vàng trong công việc”, đồng chí Võ Văn Thưởng nhấn mạnh.

Phát biểu kết luận tại Hội nghị, đồng chí Trương Thị Mai, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đánh giá đây là lớp cán bộ trẻ tiệm cận với những công việc cao của Đảng.

Đồng chí Trương Thị Mai cho biết Ban Tổ chức Trung ương có trách nhiệm trong việc theo dõi, hỗ trợ các đồng chí Uỷ viên dự khuyết trong quá trình phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành và tham mưu cho Đảng đội ngũ kế cận xứng đáng.

Trưởng Ban Tổ chức Trung ương cho biết, vấn đề của Uỷ viên Trung ương dự khuyết luôn được Đảng hết sức quan tâm, ngay từ Đại hội II. Nhiều đồng chí Uỷ viên dự khuyết qua quá trình phấn đấu đã giữ những chức vụ lãnh đạo chủ chốt của Đảng như các đồng chí: Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn An, Nguyễn Tấn Dũng… Đây là những tấm gương để các đồng chí trẻ nỗ lực, phấn đấu.

Đồng chí Trương Thị Mai cho biết, tất cả kinh nghiệm của lớp cán bộ đi trước là bài học quý giá với lớp cán bộ trẻ. Bản thân mỗi người cán bộ lớp sau phải cố gắng nỗ lực không vấp phải những gì lớp cán bộ đi trước đã vấp và phải làm tốt hơn những gì lớp cán bộ đi trước đã làm.

Đồng chí Trương Thị Mai mong muốn lớp cán bộ trẻ không ngừng nỗ lực cố gắng

“Điều quan trọng vẫn nằm ở nhân cách, phẩm chất, đạo đức. Càng trẻ càng phải nghiêm khắc với bản thân mình. Đảng luôn mong muốn có lớp trẻ kế cận đủ năng lực, phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, đồng chí Trương Thị Mai nhấn mạnh.

Đồng chí Trương Thị Mai mong muốn những cán bộ dự khuyết hôm nay, trong tương lai sẽ vững vàng trở thành những uỷ viên chính thức và giữ vị trí quan trọng trong Đảng, xứng đáng với niềm tin, sự tin tưởng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Trung ương giao phó. “Làm sao để đi hết trọn vẹn cuộc đời với Đảng, không thể đi giữa chừng rồi "bật" ra ngoài. Điều đó là phụ công rèn luyện, chăm lo của Đảng. Nhân dân sẽ vui khi Đảng có những người cán bộ tốt. Làm sao để Nhân dân sẽ tin tưởng, ủng hộ đội ngũ cán bộ trẻ mà Đảng sắp xếp, đào tạo, bồi dưỡng”, đồng chí Trương Thị Mai nhắc nhở lớp cán bộ trẻ kế cận của Đảng.

Đoàn đại biểu tham dự Hội nghị chụp ảnh lưu niệm

Cảnh giác với những luận điệu lòe bịp, xuyên tạc sự thật của thế lực phản động, thù địch về công tác cán bộ của Đảng nhằm chống phá, làm giảm uy tín vai trò lãnh đạo của Đảng ta

 Lâu nay, mỗi khi Đảng ta quyết định xử lý những cán bộ cấp cao do vi phạm pháp luật, điều lệ Đảng, lập tức xuất hiện những suy luận hàm hồ, vô căn cứ của các phần tử phản động, thù địch nhằm chống phá, cố tình gây hiểu sai về công tác cán bộ của Đảng.

Mới đây, Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét, xử lý kỷ luật một số tập thể và cá nhân vi phạm, thì những luận điệu xuyên tạc lại trơ trẽn xuất hiện. Chúng suy diễn công tác cán bộ của Đảng là sai lầm nên mới nhiều cán bộ hư hỏng, bị kỷ luật như vậy, bịa đặt đây là việc giải quyết phe phái nên khi xử lý sai phạm thiếu công tâm, thiên vị, “bên nặng, bên nhẹ”…

Trước tiên phải nhắc lại, lịch sử hơn 90 năm rèn luyện phấn đấu, xây dựng và trưởng thành cho thấy, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây Đảng, coi đây là “nhiệm vụ then chốt”, trong đó công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Bởi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

Công tác xây dựng Đảng được triển khai thực hiện thường xuyên, liên tục và lần lượt trên cả hai mặt “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, lâu dài, “chống” là quan trọng, cấp bách. Hai nhiệm vụ này luôn song hành, kết hợp nhuần nhuyễn nhằm làm trong sạch đội ngũ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Còn nguyên tắc, tư tưởng nhất quán và việc làm thường xuyên của Đảng ta đối với cán bộ, đảng viên là: Làm tốt thì biểu dương, khen thưởng; làm chưa tốt thì nhắc nhở, phê bình; vi phạm sẽ phải xử lý nghiêm minh, kết luận rõ đến đâu xử lý đến đó, không có “vùng cấm”, hoặc ngoại lệ.

Cũng thẳng thắn nhìn nhận, dù Đảng rất coi trọng công tác cán bộ và Nhà nước pháp quyền luôn nghiêm túc nêu cao tính thượng tôn pháp luật, song, buồn và nhức nhối là trước tác động mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thời gian qua đã sa ngã, thoái hóa, biến chất.

Điều này có thể thấy từ nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thời gian qua, nhất là gần đây như vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; Đưa hối lộ; Nhận hối lộ; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, xảy ra tại Công ty Việt Á; vụ án “Tham ô tài sản; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ và Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Học viện Quân y, Bộ Quốc phòng. Hay như vụ án buôn bán thuốc giả với việc nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế Trương Quốc Cường vi phạm đã bị xử lý nghiêm minh…

Không chỉ vậy, Ủy ban Kiểm tra Trung ương thời gian gần đây đã liên tiếp “điểm tên” các tập thể và cá nhân ở các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang có dấu hiệu vi phạm pháp luật, điều lệ Đảng. Điển hình là mới đây, tại Kỳ họp thứ 15, nhiều quyết định kỷ luật quan trọng được Ủy ban Kiểm tra Trung ương đưa ra.

Quyết định này căn cứ vào kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ và Ban cán sự đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 – 2021 liên quan đến vụ tiêu cực tại Công ty cổ phần công nghệ Việt Á. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã nêu rõ tại Kỳ họp thứ 15, những vi phạm đó đã gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại tiền và tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng, của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Y tế, đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật.

Thế nên, một số lãnh đạo, cán bộ ở hai bộ này cùng chịu trách nhiệm về những vi phạm, khuyết điểm nêu trên; chịu trách nhiệm cá nhân về những vi phạm, khuyết điểm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Từ những sự việc nêu trên nhìn rộng ra, chưa bao giờ tính nghiêm túc thượng tôn pháp luật của Nhà nước pháp quyền được nêu cao như hiện nay. Đảng đang quyết tâm không ngừng nghỉ trong đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta đang mở ra trên nhiều lĩnh vực mới, khó, tồn tại lâu dài như: đất đai, tài chính, thị trường chứng khoán… Việc này thể hiện rất rõ ở Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị với việc, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng có thêm nhiệm vụ mới là phòng, chống tiêu cực và được đổi tên thành Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Chính phủ cũng thể hiện rõ quan điểm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi sai phạm. Như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.

Trước những quyết định mạnh tay từ các cơ quan Đảng, Nhà nước trong xử lý cán bộ sai phạm, dư luận xã hội đã rất tin tưởng, ủng hộ. Phản hồi từ nhân dân và chính nội bộ đảng viên đã cho thấy sự đồng tình trước chế tài xử lý, hình thức xử phạt đối với những cán bộ thoái hóa, biến chất. Bởi lẽ mức phạt đó rất nghiêm khắc, vừa cân xứng giữa hành vi phạm tội và hình phạt, lại đủ sức giáo dục, răn đe và cảnh tỉnh.

Ấy vậy mà trong bối cảnh đó, lại xuất hiện những giọng điệu lạc lõng, hàm hồ, cố tình gây hiểu sai trong nhân dân về công tác cán bộ của Đảng. Mục đích của chúng là gì?

Không khó để nhìn ra âm mưu từ những suy diễn vô căn cứ nhưng rất nguy hiểm của chúng!

Chúng bóp méo sự thật nhằm phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xuyên tạc chủ trương, đường lối, thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng. Chúng cố tình gây hiểu sai trong dư luận nhân dân về công tác cán bộ của Đảng nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết của chúng ta. Chúng gây tâm lý mơ hồ, hoài nghi trong suy nghĩ của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Từ đó, chúng kích động sự chống đối của nhân dân với Đảng, đòi thay đổi chế độ chính trị, yêu cầu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thế nhưng “cây ngay bóng thẳng”. Những luận điệu lòe bịp không thể xuyên tạc sự thật!

Ai cũng hiểu rằng, những hành động cụ thể, kiên quyết đó của Đảng, Nhà nước chính là nhằm góp phần nâng cao uy tín và củng cố niềm tin trong nhân dân. Tất cả đều hướng tới mục đích xây dựng Đảng và làm trong sạch bộ máy Nhà nước. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Thật đau xót, nhưng không thể không làm, không có cách nào khác! Tất cả là vì sự nghiệp chung của Đảng, của đất nước, của nhân dân”. Thế nên dù các thế lực thù địch muốn bôi đen, xuyên tạc thế nào thì cuối cùng, chân lý vẫn là sự thật, lòng dân tin Đảng không thể thay đổi./.

Không chọn bên để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc việt nam

 Vừa qua, trên “Voatiengviet”, có bài viết: “Không chọn bên: Chính phủ Việt Nam đi ngược Hồ Chí Minh” và cho rằng trong quan hệ đối ngoại Hồ Chí Minh luôn chọn bên. Hiện nay, với chủ trương Việt Nam không chọn bên chẳng khác nào là đang đi ngược lại với đường lối đối ngoại của Hồ Chí Minh và không thể bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, tự lực, tự cường đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội song linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo và biết nhân nhượng có nguyên tắc; ngoại giao phải bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong đối ngoại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữ vững hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng, xây dựng quan hệ tốt với các nước lớn. Cách mạng Việt Nam phải tăng cường các mối liên hệ, hợp tác quốc tế là một trong những điều kiện để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công. Song, Người cũng khẳng định, sức mạnh của Việt Nam là sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc, là ở việc phát huy mọi nguồn lực của đất nước, đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ to lớn của cộng đồng quốc tế và hợp tác quốc tế.

Vì vậy, trong quan hệ quốc tế hiện nay, Việt Nam phải xử lý đúng đắn quan hệ với các nước, phấn đấu mở rộng quan hệ quốc tế theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm với tất cả các nước và không gây thù oán, chuốc oán với bất cứ quốc gia nào. Trong ngoại giao, am hiểu và vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết” của triết lý phương Đông: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết thực hiện tốt phương châm mà Hồ Chí Minh đã vận dụng “dĩ bất biến ứng vạn biến”, tức là lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi. Theo đó, cái “bất biến” là lợi ích của quốc gia, dân tộc, là độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Cái “vạn biến” là cách ứng phó tài tình, khéo léo, linh hoạt; kết hợp hài hòa giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa cương và nhu, giữa chủ động và sáng tạo trong những tình huống cụ thể, mà dù trong hoàn cảnh nào, khó khăn đến đâu cũng phải giữ vững nguyên tắc để đạt cho được cái “bất biến”. Để thực hiện được “ứng vạn biến” phải đánh giá đúng tình hình quốc tế đề ra chính sách, phương pháp, cách thức tiến hành phù hợp, hiệu quả, bảo đảm giữ vững nguyên tắc chiến lược: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Do vậy, Việt Nam đã vận dụng sáng tạo tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh là không chọn bên trong quan hệ quốc tế.

Thứ hai, Việt Nam nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Thực hiện “đường lối ngoại giao cây tre” là gốc rõ vững, thân rắn chắc, cành lá mềm dẻo; trong quan hệ phải nắm vững hai mặt đối tác –  đối tượng, vừa hợp tác, vừa đấu tranh; kiên định nguyên tắc, mục tiêu chiến lược, nhưng linh hoạt, khôn khéo, mềm dẻo về sách lược. Đảng ta khẳng định đặt lợi ích quốc gia – dân tộc là mục tiêu cao nhất của đối ngoại, tức là đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trước hết và trên hết; đồng thời, chỉ ra nguyên tắc chung là phải luôn nỗ lực đạt được lợi ích quốc gia – dân tộc tới mức cao nhất có thể. Điều này, không có nghĩa nước ta theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ mà phải trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Không ngừng tăng cường nội lực về kinh tế, quốc phòng; xây dựng tinh thần đoàn kết,  đồng thuận trong và ngoài nước; chủ động ứng phó các diễn biến địa – chính trị quốc tế để nâng cao vị thế chiến lược của Việt Nam; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích chiến lược của đất nước; chăm lo bảo vệ các quyền tự do, hạnh phúc của nhân dân. Thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế; duy trì chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ; không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài  đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; Việt Nam tiếp tục thắt chặt quan hệ chiến lược an ninh với các nước lớn và các quốc gia trong khu vực một cách linh hoạt, hiệu quả để nâng cao vị thế chiến lược của mình. Đây chính là, đường lối, quan điểm, chính sách ngoại giao mềm dẻo, sáng tạo trên cơ sở kế thừa, phát huy đường lối đối ngoại của Hồ Chí Minh.

Trong điều kiện hiện nay, đối ngoại phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, trước hết, lấy mục tiêu hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân chủ, giàu mạnh để hội nhập và phát triển. Do vậy, mọi luận điệu xuyên tạc, và những âm mưu, hành động chống phá, đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước cần phải kiên quyết đấu tranh, loại bỏ./.

Âm mưu thâm độc của thế lực phản động phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng Cộng sản đã mang lại và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 Đã từ lâu, được sự tiếp tay, tiếp sức của các thế lực thù địch, các tổ chức phản quốc lưu vong, bọn phản động từ ngộ nhận, ảo tưởng đến ngông cuồng, điên loạn chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta. Mới đây, trên trang Hung-viet.org đã đăng tải bài viết “Lenin và di sản tàn phá mà ông ta để lại” của chúng với nội dung xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã mang lại cho nhân dân Liên Xô và hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới.

Trong những ngày tháng năm lịch sử, khi tất cả những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới đang hân hoan chào mừng ngày Chiến thắng phát xít, tri ân những thành quả cách mạng mà chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô mang lại cho nhân loại thì bọn chúng lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những giá trị tốt đẹp đó. Bằng cái nhìn thiển cận, phản nhân văn của mình, chúng đã xuyên tạc, bôi đen, phủ nhận lịch sử khi cho rằng “Lenin đã gieo rắc thảm họa cho nhân loại”. Bên cạnh đó, bọn chúng còn đưa ra những luận điệu vu khống, bóp méo những chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng Cộng sản Liên Xô (Đảng Bônvêvic) và những người lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ. Mục đích của chúng là phủ nhận những thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Thế nhưng, thực tế đã chứng minh luận điệu xuyên tạc của chúng là hoàn toàn sai sự thật.

Chúng ta biết rằng, vì mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người những người Cộng sản Liên Xô đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp để hiện thực hóa khát vọng ngàn đời của người dân lao động: tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân. Trước Cách mạng Tháng Mười năm 1917, hầu như tất cả ngành công nghiệp chủ yếu của Nga nằm trong tay tư bản nước ngoài và tư liệu sản xuất nằm trong tay giai cấp tư sản; giai cấp công nhân, nông dân Nga bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất; đời sống của nhân dân hết sức khổ cực. Trước tình hình đó, V.I.Lênin đã cho rằng: Phương sách duy nhất để làm cho nhân dân lao động hết cùng khổ là thay đổi, từ dưới lên trên chế độ hiện nay trên toàn quốc và lập chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, nước Nga Xô-viết ra đời, bắt đầu thực thi “Sắc lệnh ruộng đất”: Nông dân đã nhận được miễn phí hơn 150 triệu ha ruộng đất từ giai cấp địa chủ, được xóa tiền nợ. Công nhân tự nguyện, tự giác, liên hợp với nhau, sử dụng kỹ thuật hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, sản lượng công nghiệp Liên Xô năm 1940 tăng 12 lần so năm 1913; tỷ trọng công nghiệp đã chiếm ưu thế trong nền kinh tế quốc dân; sản lượng của ngành chế tạo máy tăng 35 lần; sản lượng điện tăng 24 lần; năm 1937 sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã vượt lên đứng hàng thứ hai trên thế giới. Thế và lực của Liên Xô tăng lên nhanh chóng trên trường quốc tế.

Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Liên Xô đã giành thắng lợi trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1944), cứu loài người thoát khỏi thảm họa bị diệt vong của chủ nghĩa phát-xít. Nhờ có nền kinh tế kế hoạch mà Liên Xô đã phục hồi, phát triển nhanh chóng sau Chiến tranh, trở thành thành trì vững chắc của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Liên Xô có nền khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành khoa học đứng hàng đầu thế giới, điển hình như khoa học vũ trụ, giáo dục, y tế, quốc phòng. Liên Xô trở thành trành trì của cách mạng và là biểu tượng, cổ vũ, động viên các dân tộc trên thế giới đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc.

Từ sự xuyên tạc, vu khống những thành quả của cách mạng tháng Mười Nga và thành tựu về kinh tế – xã hội mà Liên Xô đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bọn chúng đã cố tình xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn, nhân đạo của chủ nghĩa Mác – Lênin. Dưới cái nhìn phản nhân văn của mình, chúng cho rằng là “một di sản vô cùng độc hại”, là sự “gieo rắc thảm họa cho nhân loại” và là “ý thức hệ vô cùng khủng khiếp”!. Đúng là chỉ những kẻ vô nhân đạo, phản nhân văn mới có thể đưa ra những luận điệu như thế.

Bởi lẽ, chúng ta đều biết: Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời là bước ngoặt vĩ đại của tư tưởng nhân loại, là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và những dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới. Đây là con đường duy nhất đúng để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Và đây cũng là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, thực tiễn những diễn biến phức tạp, khó lường ở một số nước trên thế giới hiện nay càng khẳng định giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó cũng là minh chứng để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vu khống của chúng.

Với niềm tin, khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Nhân dân Việt Nam luôn kiên định vào chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng ta, luôn kiên định niềm tin tất thắng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc của bọn chúng tất yếu sẽ bị sức mạnh, niềm tin của nhân dân đập tan và vô hiệu hóa./.

Quan hệ Việt Nam - Cam-pu-chia không ngừng được củng cố, phát triển.

 Ngày 24-6, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp đồng chí Men Sam An, Phó Chủ tịch Đảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP), Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội hữu nghị Cam-pu-chia - Việt Nam sang thăm chính thức Việt Nam và dự Lễ kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cam-pu-chia (24-6-1967 - 24-6-2022).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp đồng chí Men Sam An, Phó Chủ tịch Đảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP), Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội hữu nghị Cam-pu-chia - Việt Nam.


Đồng chí Men Sam An bày tỏ vui mừng sang thăm và dự Lễ kỷ niệm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cam-pu-chia, cảm ơn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp và dành cho Đoàn những tình cảm thân thiết. Đồng chí Men Sam An chúc mừng những thành tựu to lớn mà nhân dân Việt Nam đã giành được và tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhân dân Việt Nam nhất định tiếp tục giành được nhiều thành tựu mới, to lớn hơn nữa.  

Đồng chí Men Sam An trân trọng chuyển lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc sức khoẻ của Quốc vương Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni, Chủ tịch CPP, Thủ tướng Hun Sen và các nhà lãnh đạo Cam-pu-chia tới Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và thông báo về tình hình Cam-pu-chia gần đây, trong đó có cuộc bầu cử Hội đồng xã, phường khóa V, những kết quả tích cực về phát triển kinh tế-xã hội, kiểm soát dịch bệnh dưới sự trị vì anh minh của Quốc vương Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni, sự lãnh đạo của Đảng CPP, Chính phủ Cam-pu-chia do Chủ tịch CPP, Thủ tướng Hun Sen đứng đầu.

Đồng chí Men Sam An nhấn mạnh trong 55 năm qua, Đảng và nhân dân hai nước luôn kề vai, sát cánh bên nhau và cảm ơn sâu sắc về sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã dành cho Cam-pu-chia trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, cứu nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Những thực tế đó và những hoạt động kỷ niệm đầy ý nghĩa đã và đang diễn ra giữa hai nước cho thấy tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc. Đồng chí Men Sam An bày tỏ vui mừng về sự phát triển mọi mặt của mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài Cam-pu-chia - Việt Nam.  

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chào mừng đồng chí Men Sam An sang thăm và dự Lễ kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao, mang đến tình cảm đồng chí, anh em thắm thiết. Đồng chí Tổng Bí thư đánh giá cao ý nghĩa quan trọng của Năm Hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, đặc biệt là kỷ niệm 55 năm ngày hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, đánh dấu trang sử mới trong quan hệ hai nước và vừa qua hai bên đã phối hợp tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 45 năm “Con đường tiến tới đánh đổ chế độ diệt chủng” của Thủ tướng Hun Sen.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực mà Cam-pu-chia đã đạt được, chúc mừng 71 năm Ngày thành lập Đảng CPP, thành công của cuộc bầu cử Hội đồng xã, phường khóa V tại Cam-pu-chia và bày tỏ  tin tưởng Đảng CPP và nhân dân Cam-pu-chia sẽ tiếp tục giành được nhiều nhiều thắng lợi mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vui mừng về mối quan hệ Việt Nam - Cam-pu-chia không ngừng được củng cố, phát triển và cám ơn Đảng, nhân dân Cam-pu-chia đã luôn sát cánh, ủng hộ trong các giai đoạn cách mạng của Việt Nam. Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh ý nghĩa của tình đoàn kết, sự giúp đỡ lẫn nhau chí tình, chí nghĩa giữa đảng, nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia như đã được một lần nữa khẳng định mạnh mẽ tại Cuộc gặp giữa ba Đồng chí đứng đầu ba Đảng của Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị ba đảng, ba nước tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác theo các định hướng mà lãnh đạo ba đảng, ba nước đã đề ra tại Cuộc gặp.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã gửi lời thăm hỏi thân thiết tới Quốc vương Campuchia Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni, Chủ tịch Đảng CPP, Thủ tướng Hun Sen và các nhà Lãnh đạo Cam-pu-chia.

Lật tẩy mưu đồ thâm độc của thế lực phản động

 Hiện nay, việc lợi dụng một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để thổi phồng, bôi đen sự thật là một trong những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Với thủ đoạn đó, trên Doithoaionline.com của bọn phản động đã phát tán cái gọi là “Suy thoái muôn năm” nhằm mục đích phủ nhận bản chất tốt đẹp của Đảng và chế độ ta; lôi kéo, kích động, chia rẽ, làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng. Âm mưu thâm độc đó của chúng không thể đánh lừa được Nhân dân. Bởi vì, những thành quả của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng nói chung, kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước hiện nay nói riêng là sức mạnh to lớn, tiếp tục củng cố vững chắc lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Với tâm địa đen tối, bọ chúng đã cố tình “nhặt” những đánh giá của Đảng về hạn chế trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà không gắn với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Chúng đã cố tình quên, những nội dung, yêu cầu của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng luôn đặt ra ngày càng cao hơn, cụ thể hơn và quyết liệt hơn.

Từ đó, chúng đã quy chụp cho rằng, những mục tiêu, nội dung về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng trong suốt hơn 2 nhiệm kỳ qua đã không mang lại kết quả! Thâm độc hơn, chúng đã xuyên tạc và cho rằng, những hạn chế, yếu kém đó là “bản chất” của Đảng, là sự thoái trào của chủ nghĩa Cộng sản. Đồng thời, chúng đã cố tình vu khống, bịa đặt, nhào nặn, gán ghép nguyên nhân của những hạn chế đó là do những người đứng đầu Đảng, Nhà nước.

Âm mưu đen tối, thâm độc trên của chúng là nhằm mục đích phủ nhận bản chất tốt đẹp của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa và bôi nhọ, làm mất uy tín, gây chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Gây rối, chia rẽ nội bộ, phá hoại công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước; nuôi dưỡng, kích động tâm lý chống đối Đảng, Nhà nước trong xã hội để cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Với niềm tin vững chắc của Nhân dân đối với Đảng, niềm tin tất thắng vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn; với những thành tựu có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là những thành tựu qua 36 năm đổi mới, Nhân dân ta tiếp tục tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng thời, luôn tỉnh táo trước những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, vu khống của thế lực thù địch, phản động tránh mắc mưu thâm độc của chúng./.

Cảnh giác với khẩu hiệu phòng, chống tham nhũng của các thế lực phản động, thù địch nhằm công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

 Lợi dụng những bức xúc trong dư luận xã hội về tình trạng tham nhũng, tiêu cực hiện nay, một số kẻ đã đưa ra nhiều luận điệu xảo trá để công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, với những khẩu hiệu mỹ miều như: “Cộng sản không thể phòng chống tham nhũng thành công”; phải thực hiện “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” để phản biện xã hội và kiểm soát quyền lực… Thực chất, đó chỉ là những thứ hòng lòe bịp người dân và che đậy bản chất phản động của chúng.

Trước hết, cần khẳng định rằng: Tham nhũng, tiêu cực là một hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở các quốc gia. Nguyên nhân là do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra. Tham nhũng, tiêu cực không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, dù là chế độ đa đảng hay một đảng. Vì thế, chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, biến chất của những người thực thi quyền lực nhà nước. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà Tổ chức Minh bạch Quốc tế cho rằng tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra với nhiều quốc gia trên thế giới. Cũng theo đánh giá của Tổ chức này, một số nước theo thể chế đa đảng, không do đảng cộng sản cầm quyền như: Côlômbia, Braxin, Malaixia… thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng”. Rõ ràng, luận điệu “còn cộng sản là còn tham nhũng” là hết sức sai lầm, phản khoa học, ngụy biện và quy chụp.

Bàn về “tam quyền phân lập”, thực tế lịch sử cho thấy, tổ chức và cơ chế vận hành của xã hội luôn phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội. Các xã hội trước chủ nghĩa tư bản chưa có tam quyền phân lập, càng không có cái gọi là “xã hội dân sự” như các anh chị dân chủ đang kêu gào. Hiện nay, nhận thức chung đều xem “tam quyền phân lập” như là yếu tố đặc trưng của chủ nghĩa tư bản. Tuy mỗi nước tư bản có cách thức tổ chức và vận hành nhà nước khác nhau, nhưng điểm chung là: Các đảng chính trị ra đời, vận động người dân ủng hộ và bỏ phiếu cho các ứng cử viên của đảng mình trong các cuộc bầu cử. Đảng nào giành được nhiều phiếu nhất trong quốc hội được quyền thành lập chính phủ, khi đó, lãnh đạo của đảng trở thành tổng thống, thủ tướng và đảng trở thành đảng cầm quyền. Khi đảng cầm quyền chiếm đa số trong quốc hội, tổng thống, thủ tướng và nhiều thành viên của chính phủ đều là người của đảng cầm quyền, việc bổ nhiệm thẩm phán của tòa án tối cao cũng do quốc hội hoặc tổng thống quyết định… Và như vậy, sự kiểm soát quyền lực giữa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp đã không còn là sự ràng buộc, kiểm soát lẫn nhau, bởi nó chỉ còn chịu sự chi phối của đảng cầm quyền. Rõ ràng, những kẻ đang tuyệt đối hóa nguyên tắc “tam quyền phân lập”, đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, xem đây là hình mẫu, là cách mà theo họ, có thể giúp Việt Nam đẩy lùi tham nhũng… Xem ra, chính họ đã lạc hậu so với sự vận động, phát triển của xã hội hiện nay.

Ngày nay, nền chính trị hiện đại của các nước phát triển đều phải thừa nhận quyền lực nhà nước là thuộc về nhân dân. Tuy nhiên, ở các nước tư bản, khi mà bộ máy nhà nước bị thao túng bởi các tập đoàn tư nhân, quyền lực nhà nước dễ dàng bị tha hóa, trở thành công cụ bảo vệ lợi ích cho giới tài phiệt và các ông trùm tư bản. Vì thế, việc hình thành các tổ chức xã hội dân sự ở các nước tư bản này là tất yếu và thông thường các tổ chức đó luôn có xu hướng đối lập với Nhà nước. Lợi dụng vấn đề đó, các anh chị trong làng dân chủ đang lớn tiếng đòi thúc đẩy “xã hội dân sự” ở Việt Nam, cho rằng chỉ có thông qua các tổ chức xã hội dân sự mới có thể kiểm soát được quyền lực nhà nước, qua đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội… Có thể khẳng định rằng, ở đâu đó, nơi mà quyền lực nhà nước, quyền lực vốn dĩ thuộc về nhân dân, lại bị tước đoạt khỏi chính người dân, và bị thâu tóm bởi các thế lực tài phiệt, các ông trùm tư bản, thì ở đó, các tổ chức xã hội dân sự còn hữu dụng. Còn ở đây, Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân, mọi đường lối, chủ trương của nhà nước đều dựa trên cơ sở sự đồng thuận cao trong xã hội; người dân và mọi tổ chức của mình thực thi quyền làm chủ đất nước thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước do chính nhân dân cử ra. Sẽ là sai lầm và phiến diện khi cổ xúy cho việc hình thành các tổ chức xã hội dân sự đối lập với Nhà nước. Và càng phi lý hơn khi cố tình đối lập giữa các tổ chức xã hội do nhân dân lập ra với chính quyền Nhà nước cũng do nhân dân lập ra./.

Bác bỏ những luận điệu sai trái của thế lực thù địch, xuyên tạc tình hình kinh tế và dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam nhằm hạ thấp vai trò uy tín Đảng Cộng sản Việt Nam

 Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, trong đó có kinh tế và dân chủ, nhân quyền, đó là sự thật hiển nhiên mà tất cả người dân Việt Nam đều biết và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, một số đối tượng phản động cơ hội bất mãn chính trị vẫn cố tình phủ nhận sự thật hiển nhiên ấy. Mới đây, trên trang Facebook phản động “Hội những người cầm bút can đảm” đăng bài “Những thằng nói láo”, cho rằng “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là quái thai khi tồn tại song song hai thể loại tư nhân và nhà nước… làm gì có sự cạnh tranh công bằng”, “dân chủ XHCN thực chất là dân chủ toàn trị của đảng CSVN”, “nhân quyền còn tồi tệ”. Đây chính là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận trắng trợn tình hình kinh tế và dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, nhằm hạ thấp vai trò uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam bởi vì:

Thứ nhất, kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam luôn vận hành theo các quy luật khách quan của thị trường trong đó có quy luật cạnh tranh; nội dung và phương thức quản lý của Nhà nước không mâu thuẫn, đối lập, không cản trở hoạt động của các quy luật kinh tế thị trường, mà tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt tiêu cực của các quy luật, trong đó có quy luật cạnh tranh. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đốì lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế nhà nước là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao.

Thứ hai, ở Việt Nam tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Điều này đã được Hiến định và được cụ thể hóa và bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về quyền làm chủ của người dân và được thể hiện sinh động trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội như: Về kinh tế mọi người dân có quyền làm giàu hợp pháp; được tự do lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh; được thành lập doanh nghiệp không hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh. Về chính trị, trong Hiến pháp nêu rõ “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân”. Dân chủ được thể hiện rõ đó là: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Ngoài ra, dân chủ còn thể hiện ở các chính sách hỗ trợ cho nhóm nghèo, hộ nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Thực tế đó cho thấy, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đã và đang phát triển, phù hợp với xu thế chung của thời đại và thực tiễn đất nước.

Thứ ba, mục tiêu nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam là không ngừng nỗ lực để người dân được thụ hưởng đầy đủ nhất các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”;“…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành.

Từ những, luận điểm trên có thể khẳng định những nội dung mà bọn chúng đưa ra là hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn tình hình kinh tế và dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, nhằm hạ thấp vai trò uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những thành tựu về kinh tế và dân chủ nhân quyền của Việt Nam đã được Liên hợp quốc và các quốc gia trên thế giới ghi nhận, đánh giá cao, là bằng chứng thuyết phục, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối đổi mới phát triển đất nước, đồng thời là bằng chứng đanh thép bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch./.

Vạch trần âm mưu lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá nước ta

 Vừa qua nhân dịp Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn đại biểu tham dự hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN – Hoa Kỳ; thăm và làm việc tại Hoa Kỳ, Liên hợp quốc và một số cơ quan, tổ chức quốc tế, trên trang Rfavietnam đã đưa tin các cuộc biểu tình phản đối Hà Nội đàn áp nhân quyền. Họ phỏng vấn và cho rằng “nếu đất nước Việt Nam muốn vươn lên thì thật sự phải cải thiện về nhân quyền, phải tôn trọng dân chủ”, ở đây họ định diễn trò gì?

Thứ nhất,  người được phỏng vấn là Ông Hoàng Tứ Duy, người phát ngôn của Đảng Việt Tân. Trong khi đó Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng mà Bộ Công an Việt Nam đưa “Việt Tân” vào danh sách các tổ chức khủng bố, chống Nhà nước Việt Nam. Từ khi thành lập năm 1981 đến nay, tổ chức này đã có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhiều đối tượng đã bị bắt giữ, xét xử nhưng chúng vẫn không từ bỏ dã tâm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Mục đích của chúng là lợi dụng và lấy vấn đề dân chủ, nhân quyền làm điều kiện để gây sức ép, biểu tình, kích động, can thiệp một cách phi lý vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Thứ hai, Việt Nam luôn lấy nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Ở Việt Nam, các quyền cơ bản của con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng và được bảo vệ theo pháp luật; thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Xuyên suốt tiến trình cách mạng, ngay cả trong giai đoạn khó khăn nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc và nỗ lực chăm lo, bảo đảm cuộc sống mọi mặt cho người dân và đó là sự khẳng định Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Từ thực tiễn bảo đảm, bảo vệ, thực thi quyền con người đã hình thành hệ thống quan điểm nhất quán: Quyền con người là giá trị chung của nhân loại; quyền con người gắn liền với quyền dân tộc và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia; bảo đảm quyền con người là bản chất, mục tiêu, động lực của chế độ xã hội chủ nghĩa; quyền tự do, dân chủ của mỗi cá nhân kết hợp hài hòa với quyền của tập thể và không tách rời nghĩa vụ, trách nhiệm công dân; quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm bằng pháp luật; trách nhiệm của Nhà nước, các cấp, các ngành, các địa phương phải tích cực thực hiện, ngày càng hoàn thiện và nâng cao các quyền con người; chủ động, tích cực hợp tác quốc tế vì quyền con người, nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế và nhân loại tiến bộ ghi nhận những nỗ lực, sự tiến bộ và kết quả quan trọng của Việt Nam trong bảo đảm và thực thi quyền con người. Trên thực tế, Việt Nam là thành viên Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016, Việt Nam cũng được bầu và đảm nhiệm cương vị Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo An Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021. Các văn kiện của Đảng mà gần đây nhất là văn kiện Đại hội XIII, Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân” theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”, trong đó gắn quyền con người với an ninh quốc gia, an ninh con người và quyền của quốc gia – dân tộc; lấy con người làm vị trí trung tâm gắn với phát triển con người toàn diện và đề cao vai trò chủ thể của con người trong chiến lược phát triển đất nước; đây là quan điểm, chính sách, việc làm nhất quán của Việt Nam.

Minh chứng trên là sự khẳng định mạnh mẽ rằng quyền con người, quyền công dân đang được quan tâm và bảo đảm vững chắc ở Việt Nam; đồng thời, là câu trả lời cho những người cố tình xuyên tạc với cái gọi là cải thiện dân chủ, quyền ở Việt Nam./.

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc; nhận diện rõ mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch

 Một số đối tượng lưu vong, phản động cực đoan chuyên chống phá Đảng, Nhà nước ta. Nhân danh “nhà báo”, “nhà dân chủ đấu tranh cho tự do” chúng thường xuyên tán phát trên internet, các trang mạng xã hội, những bài viết với giọng điệu hằn học, bôi nhọ, bóp méo, xuyên tạc tình hình thực tiễn ở Việt Nam. Trên trang Doithoaionline chúng phát tán bài “Năm Nguy Cơ Đe Dọa CSVN”. Mở đầu bài viết, chúng cho rằng: “Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bốc đồng khi nói: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay”. Một mặt chúng thừa nhận “có một vài cái đúng”, một mặt chỉ ra “vô số việc sai”, đó là: đất nước “chưa có đoàn kết dân tộc”, còn chia rẽ giữa “kẻ thắng” miền Bắc và “người thua” miền Nam, sau 47 năm vẫn còn “xa mặt cách lòng”; chênh lệch giàu nghèo; bất công xã hội và quan liêu, tham nhũng cũng đã đẩy Việt Nam chìm vào lạc hậu và chậm tiến so với các dân tộc lân bang… Bọn chúng còn nêu 5 nguy cơ đang đe dọa sự tồn vong của chế độ được chúng lượm lặt, trích dẫn trong bài viết được đăng trên các báo, nhưng được thêm thắt, bình luận theo hướng tiêu cực rồi cho đó là “những vấn đề hiện hữu bên trong của chế độ, không do bất cứ “thế lực thù địch” nào gây ra mà do chính cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ có chức, có quyền chủ động”…

Chúng ta dễ dàng nhận ra mục đích, âm mưu, thủ đoạn gian manh của bọn chúng. Với bản chất phản động, cùng lối suy diễn chủ quan, phiến diện, thiếu căn cứ, chúng đã trắng trợn phủ nhận những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; cố tình xuyên tạc, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta; bịa đặt, vu cáo, nói xấu Đảng, Nhà nước Việt Nam; bôi nhọ hình ảnh, vị thế, uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế; kích động, lôi kéo các phần tử bất mãn, cơ hội về chính trị, những người nhẹ dạ, thiếu thông tin để chống phá đất nước; kích động hằn thù dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Rõ ràng, sau hơn 35 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta, thực sự mang lại những thay đổi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là cả quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Một vị lãnh đạo đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam nói như vậy không phải là ngẫu hứng, tự kiêu tự đại, mà nói có chứng, có lý, có thực tiễn, được sự đồng tình, nhất trí trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đòi hỏi phải xác định rõ những thời cơ, động lực thúc đẩy phát triển cũng như những nhân tố, nguy cơ cản trở, kìm hãm đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước. Ngay từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta xác định 4 nguy cơ cản trở thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đó là: Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và tệ quan liêu; “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhận định: Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Muốn đẩy lùi các nguy cơ thì Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải tiến hành nhiều giải pháp, trong đó, xây dựng hệ thống thể chế, pháp luật và chế tài đồng bộ, đặc biệt là kiểm soát quyền lực, chế tài xử lý nghiêm minh kết hợp với giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân là trọng tâm để khắc phục các nguy cơ mà Đảng chỉ ra.

Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch vẫn ráo riết thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc nhằm đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” để hòng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta. Những luận điệu lạc lõng, suy diễn theo lối cố tình xuyên tạc, bôi nhọ xuất phát từ cái tâm đen tối của bọn chúng, song chẳng thể nào lòe bịp được ai, không thể kích động được nhân tâm. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam luôn cảnh giác, nhận diện rõ mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, luôn vững niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự quản lý của Nhà nước, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, thì sẽ góp phần phòng ngừa, đẩy lùi được nguy cơ./.

Vạch trần luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, quy chụp, bóp méo tính ưu việt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 Chưa bao giờ các thế lực phản động, cơ hội chính trị từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng công kích, xuyên tạc trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong đó, chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một mũi nhọn chống phá. Trên Facebook: “Hội những người cầm bút can đảm”  đã đăng tải bài viết “Sự cản trở của cái đuôi định hướng”. Trong nội dung bài viết, chúng cho rằng: “Cái gọi là Kinh tế Thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa về bản chất là sự can thiệp quá sâu của yếu tố nhà nước”. Đây là những luận điệu xuyên tạc của chúng, bởi lẽ:

Thứ nhất, kinh tế thị trường không phải là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, cũng không có mô hình kinh tế thị trường chung cho tất cả các quốc gia, dân tộc.

Nhìn lại lịch sử kinh tế thế giới cho thấy, chủ nghĩa tư bản không sinh ra kinh tế hàng hóa và kinh tế hàng hóa đã xuất hiện ở giai đoạn đồng tiền còn chưa xuất hiện. Khi chưa có tiền tệ, trao đổi hàng hóa mang hình thức trực tiếp, gọi là hàng đổi hàng, và kinh tế thị trường đã có mầm mống từ trong xã hội chiếm hữu nô lệ, được hình thành trong xã hội phong kiến và trong chủ nghĩa tư bản nó đã đạt đến trình độ cao. Do đó, kinh tế thị trường với tư cách là kinh tế hàng hóa ở trình độ cao không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại qua nhiều thời kỳ. Chính vì vậy, không thể nhầm tưởng rằng kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản.

Thực tế cho thấy, kinh tế thị trường không phát triển theo một mô hình duy nhất mà có nhiều mô hình khác nhau như: Mô hình kinh tế thị trường tự do, đang được thực hiện ở các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu và Bắc Mỹ, với chức năng chính của nhà nước là bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân và các quyền tự do cá nhân, bảo đảm ổn định vĩ mô, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân và cơ chế thị trường tự do vận hành. Thực chất, nền kinh tế thị trường tự do như ở Hoa Kỳ vẫn mang nặng chủ nghĩa bảo hộ của nhà nước; còn mô hình kinh tế thị trường – xã hội ở các nước Tây – Bắc Âu, như Đức, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan… cũng là những biến thể của kinh tế thị trường tự do. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được thực hiện ở Việt Nam và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, được thực hiện ở Trung Quốc, đây là những mô hình kinh tế thị trường mới phát triển trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, do đó có những tính ưu việt riêng. Như vậy, mỗi quốc gia, dân tộc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường nào đều phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh phát triển cụ thể của quốc gia, dân tộc đó. Vì vậy, Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Thứ hai, thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xác định với mục tiêu: Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của thị trường, vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội và các yếu tố bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa; là nền kinh tế có tổ chức, có kế hoạch, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước thực hiện quản lý bằng chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch; sử dụng cơ chế thị trường để giải phóng sức sản xuất. Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để định hướng và tạo môi trường pháp lý quan trọng cho sự phát triển các thành phần kinh tế và các chủ thể kinh tế.

Một thực tế không thể phủ nhận, trong giai đoạn đầu đổi mới, từ năm 1986 đến năm 1990, mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm nước ta chỉ đạt 4,4%; giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1995, tăng trưởng GDP bình quân đã đạt 8,2%/năm. Các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao, riêng giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2019 đạt mức bình quân 6,8%. Trong 4 năm, từ năm 2016 đến năm 2019, Việt Nam liên tiếp đứng trong top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất. Trong năm 2020, do tác động của đại dịch Covid-19, trong khi nhiều nước có mức tăng trưởng âm, thì kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng 2,91%, góp phần làm cho GDP trong 5 năm (2016 – 2020) tăng trung bình 5,9%/năm, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới. Các cân đối lớn của nền kinh tế nước ta tiếp tục được bảo đảm, góp phần xây dựng nền tảng kinh tế vĩ mô phát triển bền vững. Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt cả về vật chất và tinh thần; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, những nội dung bài viết của chúng là hoàn toàn bịa đặt vô căn cứ, quy chụp, bóp méo tính ưu việt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, kiến quyết vạch trần và đấu tranh bác bỏ./.

Cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động

 Chống phá cách mạng Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động; trong đó, trọng tâm hàng đầu là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với sự nghiệp cách mạng. Điều này được thể hiện thông qua những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm đòi hỏi mỗi người cần đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh.

Trong hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc, gắn bó với Nhân dân, phấn đấu đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Thông qua việc đề ra đường lối đúng đắn, sáng suốt, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân Việt Nam lập nên những chiến công lẫy lừng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

Đặc biệt, với tinh thần sáng tạo, Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới và tiếp tục lãnh đạo Nhân dân giành được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt; vị thế, uy tín của của Việt Nam không ngừng được nâng lên trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, với định kiến chính trị và góc nhìn phiến diện, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đưa nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thủ đoạn mà các thế lực này thường sử dụng đó là xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ra sức tuyên truyền cho luận điệu “chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời”; “chủ nghĩa Mác – Lênin là lý thuyết suông về chủ nghĩa xã hội không tưởng, không có thực”,… Chúng đồng nhất sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, Liên Xô với bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đó cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp với thế kỷ XXI, không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và cần loại bỏ khỏi đời sống tư tưởng chính trị xã hội. Chúng cũng tầm thường hóa tư tưởng Hồ Chí Minh,… Mục đích sâu xa là phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với vai trò là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Không khó để nhận ra tính phi lý của các luận điệu nêu trên. Bởi vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc. Đảng ra đời không chỉ chấm dứt cuộc khủng hoảng thiếu về lực lượng lãnh đạo, mà còn trở thành hạt nhân đoàn kết, thống nhất. Từ đó, tập hợp các lực lượng dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, đưa toàn dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thực tiễn cũng chứng minh, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, Liên Xô chỉ là sụp đổ của một mô hình cụ thể chứ không phải sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng không phải sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực. Bằng chứng là dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã thu được những thành tựu to lớn. Tính chất ưu việt, vì Nhân dân của chế độ chủ nghĩa xã hội được thể hiện ngày càng rõ nét trong thực tiễn công tác an sinh xã hội trên phạm vi cả nước.

Không dừng lại ở việc xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng, các thế lực thù địch, phản động còn ra sức lợi dụng những tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội, nhất là tình trạng tham nhũng,… để gây “nhiễu” dư luận, xuyên tạc bản chất của chế độ; coi những tiêu cực đó có nguyên nhân là do sự lãnh đạo của Đảng. Nguy hiểm hơn, chúng đưa ra luận điệu “tham nhũng là hệ quả tất yếu của chế độ độc đảng”; “việc phòng chống tham nhũng thực chất là đấu đá trong nội bộ Đảng”. Từ đó, các thế lực này lớn tiếng hô hào đòi “thay đổi chế độ”, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

Cần nhận thấy, tham nhũng là hiện tượng xã hội tồn tại trong mọi chế độ chính trị khác nhau, gắn liền với nhà nước và quyền lực. Bản chất của tham nhũng gắn liền với quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế. Do đó, dù chế độ chính trị nào, chủ nghĩa xã hội hay tư bản chủ nghĩa, chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì vẫn có nạn tham nhũng. Trong bối cảnh hiện nay, tham nhũng đang là “vấn nạn” đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, luận điệu cho rằng tham nhũng là “hệ quả tất yếu của chế độ độc đảng” đã cho thấy động cơ chính trị đen tối của các thế lực thù địch, phản động. Các thế lực này đang cố tình bỏ qua bản chất, tính xã hội của hiện tượng tham nhũng để chống phá cách mạng Việt Nam; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thời gian qua, thực hiện sự chỉ đạo quyết liệt của Trung ương Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, công cuộc phòng, chống tham nhũng đã được thực hiện thường xuyên, liên tục, mạnh mẽ với quan điểm “không có vùng cấm” và đã đạt nhiều kết quả quan trọng, toàn diện, rõ rệt. Từ năm 2013 đến 2020, cả nước đã có hơn 1.900 vụ án tham nhũng bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; 131.000 đảng viên, trong đó có hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, 30 sĩ quan cấp tướng thuộc lực lượng vũ trang) bị xử lý kỷ luật. Chỉ tính riêng năm 2021, cơ quan có thẩm quyền đã kỷ luật 618 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý .

Từ đầu năm 2022 đến nay, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 1.264 vụ/2.038 bị can, truy tố 742 vụ/1.594 bị can, xét xử sơ thẩm 737 vụ/1.567 bị cáo về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ. Trong đó, đã khởi tố, điều tra nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; đã khởi tố 8 cán bộ diện Trung ương quản lý. Những kết quả nói trên không chỉ khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà còn cho thấy rõ tính chất quyết liệt, “không có ngoại lệ”; “không có vùng cấm” của cuộc đấu tranh này. Thành quả đó đã để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao và quốc tế ghi nhận. Đồng thời, cũng là minh chứng rõ ràng, đập tan mọi âm mưu lợi dụng vấn đề tham nhũng để chống phá cách mạng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Việt Nam.

Tổng kết 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện”; “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu trên có được trước hết là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp lợi ích và nguyện vọng của Nhân dân; tạo được niềm tin và động viên Nhân dân quyết tâm thực hiện con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Do đó, mọi âm mưu, luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đều là biểu hiện của động cơ chính trị đen tối, mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần đề cao cảnh giác; tích cực vạch trần và kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, luận điệu nói trên để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo vệ sự nghiệp cách mạng của Nhân dân./.

Thanh niên xung kích chung tay làm sạch biển và chống rác thải nhựa

 

Ngày 26-6, tại TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bộ tư lệnh Vùng 2 Hải quân, Ban Thanh niên Quân đội, Cục Chính trị Quân chủng Hải quân và Tỉnh đoàn Bà Rịa - Vũng Tàu cùng phối hợp tổ chức chương trình “Ngày hội “Nghĩa tình biên giới - hải đảo” và “Thanh niên Hải quân chung tay làm sạch biển và chống rác thải nhựa”.

Tại chương trình, Đại tá Vũ Duy Lưu, Phó chủ nhiệm Chính trị Vùng 2 Hải quân đã phát động chiến dịch “Thanh niên Hải quân chung tay làm sạch biển và chống rác thải nhựa”.

Theo đó, bằng những hành động cụ thể, thiết thực, các cơ quan, đơn vị trực thuộc Vùng 2 Hải quân sẽ phối hợp với Đoàn thanh niên các địa phương nơi đóng quân tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, chống rác thải nhựa bằng cách hạn chế và nói không với việc sử dụng túi nilon; phân loại và thu gom rác thải nhựa có thể tái chế; sử dụng các loại túi tái sử dụng khi mua sắm; không xả rác bừa bãi làm ô nhiễm môi trường biển để bảo vệ bờ biển luôn xanh, sạch, đẹp.

Thanh niên xung kích chung tay làm sạch biển và chống rác thải nhựa
 Cuân đội và thanh niên địa phương dọn rác trên địa bàn TP Vũng Tàu.

 Trong ngày, hơn 100 cán bộ, chiến sĩ của các đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn tỉnh và đoàn viên thanh niên TP Vũng Tàu đã ra quân dọn vệ sinh, thu gom rác thải tại khu vực bờ biển phía trước công viên Quang Trung và Bãi Dâu, TP Vũng Tàu.

Thanh niên xung kích chung tay làm sạch biển và chống rác thải nhựa
Thượng tá Trần Viết Năng, Trưởng Ban Thanh niên Quân đội tặng quà cho các cháu thiếu nhi. 

Dịp này, Thượng tá Trần Viết Năng, Trưởng Ban Thanh niên Quân đội đã trao tặng 10 suất quà (mỗi suất trị giá 1,5 triệu đồng) cho con em cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trực thuộc Vùng 2 Hải quân có hoàn cảnh khó khăn đạt thành tích tốt trong học tập.

Nguồn: QĐND.

Đa dạng hình thức triển khai, quán triệt học tập Nghị quyết 847 Nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Q

 

Nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” (Nghị quyết 847), thời gian qua, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ, hiệu quả.

Theo đó, Thường vụ Đảng ủy quân đoàn yêu cầu các cấp ủy trong Đảng bộ quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm Hướng dẫn số 88/HD-CT ngày 12-1-2022 của Tổng cục Chính trị; Hướng dẫn số 83/HD-CCT ngày 15-2-2022 của Cục Chính trị quân đoàn về tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương.

Đa dạng hình thức triển khai, quán triệt học tập Nghị quyết 847
Cán bộ, Đảng viên Quân đoàn 2 viết cam kết thực hiện kết luận, quy định, nghị quyết. Ảnh: qdnd.vn

Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng tổ chức quán triệt, học tập nghị quyết nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học, theo phân cấp tới 100% cán bộ, đảng viên, quần chúng. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về ý nghĩa, nội dung của nghị quyết; từ đó triển khai quyết liệt, với kế hoạch, lộ trình chi tiết, khoa học. Để đạt hiệu quả, các đơn vị chú trọng vận dụng linh hoạt, phong phú, đa dạng các hình thức tuyên truyền, giáo dục, như: Sinh hoạt chính trị, diễn đàn, tọa đàm, thi tìm hiểu, văn hóa, văn nghệ; tích cực tuyên truyền, giáo dục thông qua hệ thống pa nô, khẩu hiệu, truyền thanh nội bộ, Cổng Thông tin điện tử, fanpage quân đoàn và sinh hoạt, học tập của các tổ chức quần chúng... Qua đó, tạo sự đồng thuận, khí thế, quyết tâm, trách nhiệm cao của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng trong thực hiện nghị quyết.

Nguồn: QĐND.

Đừng nhân danh tự do để vi phạm tự do một cách trắng trợn

 

Từ lâu, một số cơ quan truyền thông phương Tây, nhất là các trang tiếng Việt của những “ông lớn” như VOA, RFA, RFI, BBC... luôn nhân danh tự do, bảo vệ tự do báo chí, tự do ngôn luận để vi phạm một cách trắng trợn hoặc tinh vi, bóp méo sự thật khiến thông tin bị sai lệch, gây phương hại đến sự phát triển của quốc gia khác, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ quốc tế...