Nhân dịp kỷ niệm 35 năm Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) ra Nghị quyết vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam", Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí, trong đó làm sáng tỏ những giá trị trong di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đất nước ta và nhân loại hiện nay.
Phóng viên: Xin Thứ trưởng cho biết ý nghĩa về việc cách đây 35 năm UNESCO ra Nghị quyết vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam"?
Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc: Trên hành trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với các dân tộc, các nền văn minh khác nhau. Sự kết tinh giữa văn hóa dân tộc và tinh hoa nhân loại đã mang đến cho Người một thế giới quan toàn diện, độc đáo. Những nơi Người đã đi qua, thậm chí những nơi Người chưa từng tới nhưng tư tưởng, giá trị nhân văn, đạo đức và nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mang sức lôi cuốn, lan tỏa mãnh liệt, tạo ảnh hưởng mạnh mẽ đến các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình, công lý, dân chủ và tiến bộ xã hội ở nhiều nơi trên thế giới.
Với những "đóng góp quan trọng về nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật", năm 1987, UNESCO đã ra Nghị quyết vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất".
Nghị quyết là minh chứng hùng hồn khẳng định sự đúng đắn, chính nghĩa của sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam, là sự công nhận của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đấu tranh của nhân loại trước áp bức, bất công, vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Nghị quyết cũng là sự cổ vũ, ủng hộ mạnh mẽ của bạn bè quốc tế đối với công cuộc đổi mới, phát triển đất nước của Việt Nam, để từ đó đất nước ta có được thành quả như ngày nay.
Phóng viên: Sự vinh danh của UNESCO cho thấy những giá trị gì trong di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đất nước ta và nhân loại hiện nay, nhất là trong điều kiện toàn Đảng đang đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thưa Thứ trưởng?
Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc: Di sản Hồ Chí Minh là một tổng thể thực tiễn và lý luận, bao gồm toàn bộ cuộc đời sinh động, sự nghiệp vĩ đại, tư tưởng tiến bộ, đạo đức sáng ngời, phong cách giản dị, cao quý của Người. Di sản mà Người để lại mang tính phổ quát, vượt thời đại và vẹn nguyên tính thời sự, đó là độc lập tự chủ, giải phóng con người, đoàn kết quốc tế, coi trọng đa dạng văn hóa; diệt giặc dốt gắn với xóa nạn mù chữ; học tập suốt đời gắn với giáo dục toàn cầu; tết trồng cây gắn với bảo vệ môi trường…
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền, giành độc lập dân tộc, đấu tranh thống nhất đất nước và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Đảng ta khẳng định kiên trì lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Do vậy, sự vinh danh của UNESCO đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta khẳng định tính đúng đắn của lý tưởng và con đường cách mạng mà Người đã lựa chọn và toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang kiên định đi theo nhằm hiện thực hóa mong ước của Người, đó là đem lại độc lập cho dân tộc, đem lại cuộc sống tự do, ấm no và thực sự hạnh phúc cho tất cả mọi người.
Sự vinh danh này là nguồn động viên cổ vũ to lớn để mỗi Đảng viên chúng ta tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây cũng là minh chứng mạnh mẽ phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi lan tỏa và nâng tầm giá trị văn hóa Việt Nam, đồng thời khẳng định chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng trong công cuộc bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước, chăm lo đời sống người dân và hội nhập quốc tế.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên có vị trí, vai trò quan trọng và luôn mang tính thời sự. Trước tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như hiện nay thì tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh, để Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(1).
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh đạo đức là cái gốc của con người trong mọi thời đại, mà còn đưa ra khái niệm đạo đức mới, với nội dung mới, phản ánh đạo đức ở tầm cao hơn, rộng hơn, sâu sắc hơn, đó là đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ, đạo đức cách mạng làm nên sức mạnh của Đảng và là một nhân tố quan trọng bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức bắt nguồn từ những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó còn là sự vận dụng và phát triển sáng tạo đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; sự tiếp thu và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại mà Người đã tiếp cận được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách, vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Đối với cách mạng Việt Nam, sự đòi hỏi về đạo đức còn cao hơn, bởi cách mạng Việt Nam phải tiến hành trong một hoàn cảnh đặc biệt: Tiến hành ở một nước nông nghiệp lạc hậu và phải đương đầu với các thế lực thù địch, phản động nhất, xảo quyệt nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Cách mạng nhất định sẽ thành công, nhưng thành công nhanh hay chậm, mức độ thành công lớn hay nhỏ... tùy thuộc vào đạo đức cách mạng của những người làm cách mạng, trình độ giác ngộ cách mạng và ý chí chiến đấu của quần chúng nhân dân. Người nhấn mạnh: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(2). “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(3).
Đề cao vai trò của tư tưởng, tinh thần, đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Có người nói: Lúc này mà xem trọng tinh thần tư tưởng là không duy vật biện chứng. Các cô, các chú có biết vì sao mà cách mạng của ta thành công không? Vì tinh thần. Lúc bấy giờ thực dân, phong kiến có công an, quân đội, cảnh sát, chính quyền - tất cả, Đảng ta chỉ có hai bàn tay không. Vì sao ta thành công? - Vì ta đoàn kết! Lấy gì mà đoàn kết? Lấy tinh thần!”(4).
Với tinh thần ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người không ngừng giáo dục những phẩm chất đạo đức cách mạng cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đạo đức cách mạng, một mặt, là một yêu cầu tất yếu của sự nghiệp cách mạng trước đây cũng như hiện nay; mặt khác, là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của những người lãnh đạo. Trong lịch sử các nước phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, những vị vua nắm quyền trị nước cũng như những lãnh tụ dân tộc muốn lãnh đạo được nhân dân và được nhân dân tin theo, đều phải là những người gương mẫu về đạo đức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời mình phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Bản thân Người nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện, thực hành đạo đức cách mạng - những phẩm chất đạo đức cao đẹp, trong đó bao hàm nhiều giá trị mới, tích cực và tiến bộ. Người quan niệm đạo đức cách mạng là nền tảng tạo ra động cơ hành động đúng đắn, tạo ra ý chí, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của người cách mạng. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước, khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần chất phác, giản dị, khiêm tốn; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Người chỉ rõ: “Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng”(5).
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò, tác dụng cũng như những biểu hiện cao quý của đạo đức cách mạng và chứng thực điều đó qua tấm gương của những chiến sĩ cộng sản tiền bối đã làm nên truyền thống vẻ vang của Đảng, của cách mạng: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”(6).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao cả hai mặt đức và tài ở mỗi con người. Trong mối quan hệ giữa đạo đức và tài năng, Người khẳng định đạo đức là gốc, quyết định sức mạnh tinh thần to lớn của con người, sức mạnh của đoàn kết dân tộc; nhờ đó mà đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng, góp phần to lớn vào sự thành công của cách mạng nước ta. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức nói chung cũng như đạo đức cách mạng nói riêng cho mọi người, trước hết là cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Tựu trung lại, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng gồm những điểm cơ bản sau đây:
Một là, phẩm chất trung với nước, hiếu với dân.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ quan niệm đạo đức cũ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong xã hội phong kiến phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, cao rộng hơn là “trung với nước, hiếu với dân”. Người khẳng định: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(7). Chỉ dẫn đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị, đạo đức cho mỗi người Việt Nam, không chỉ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, mà còn lâu dài mãi mãi về sau.
Hai là, tình yêu thương con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tình yêu thương con người rất toàn diện và độc đáo. Người xác định tình yêu thương con người là một phẩm chất cao đẹp nhất trong tình cảm đạo đức của loài người. Người luôn dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình yêu thương đồng bào, đồng chí rất bao la, sâu rộng và toàn diện, không phân biệt vùng, miền, trẻ, già, trai, gái..., hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người. Tình yêu thương con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở tấm lòng bao dung cao cả của một người Cha, đặc biệt là đối với những người phạm phải sai lầm, khuyết điểm. Người căn dặn: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác”(8). Chính vì vậy, trong Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, Người căn dặn Đảng: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(9); mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến tình yêu thương con người.
Ba là, các đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, sáng tạo, có kế hoạch, có năng suất cao, với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, vì nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to. Kiệm còn có nghĩa là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù. Liêm tức là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc nào của Nhà nước, của nhân dân; phải trong sạch, không tham lam, không tham địa vị, không ham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình, nhờ đó mà quang minh, chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chính nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn; đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình; đối với người thì không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc; đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Chí công vô tư tức là “làm việc vì sự nghiệp chung, đặt lợi ích công lên trên hết, trước hết; không tư lợi, vụ lợi, không vì lợi ích riêng”(10). Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình phải đi sau, phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi người, nhất là những người có vị trí ảnh hưởng đối với xã hội, cộng đồng, phải luôn phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và thực hành theo bốn đức tính: cần, kiệm, liêm, chính; thiếu một đức tính cũng không thể thành người. Bởi, “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông/Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc/Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính/Thiếu một mùa, thì không thành trời/Thiếu một phương, thì không thành đất/Thiếu một đức, thì không thành người”(11).
Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng.
Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng một câu thơ “Quan sơn muôn dặm một nhà/Bốn phương vô sản đều là anh em!”(12), là tinh thần đoàn kết giữa những người cộng sản với các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động trên thế giới mà Người đã dày công vun đắp bằng thực tiễn hoạt động cách mạng của mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc. Đó cũng là tinh thần đoàn kết, hợp tác và hữu nghị của nhân dân Việt Nam với tất cả nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, vì mục tiêu hòa bình, công lý, tiến bộ xã hội và độc lập dân tộc.
Đánh giá cao vai trò của đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra tiêu chí của một người cán bộ tốt, đó là người cán bộ phải vừa có tài, vừa có đức, trong đó, đức là gốc. Chính Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, là kết tinh tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam và những phẩm chất đạo đức cộng sản cao quý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Những quy tắc đạo đức mà Người nêu ra đã trở thành vũ khí tinh thần mạnh mẽ của cả dân tộc ta trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới. Trong suốt 53 năm thực hiện Di chúc của Người, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng tiếp tục là ngọn đuốc soi đường, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của đất nước ta, nhất là trong bối cảnh mới hiện nay.
Tiếp tục tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Để mỗi cán bộ, đảng viên luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức tốt đẹp của mình, giác ngộ lý tưởng cách mạng, vững vàng trong mọi điều kiện, môi trường xã hội khác nhau thì cùng với sự tự giác rèn luyện, phấn đấu, còn phải cần đến sự giúp đỡ, kiểm tra, giám sát của Đảng. Đặc biệt, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Người coi là công việc càng phải tiến hành thường xuyên, liên tục hơn. Với nhãn quan đặc biệt nhạy bén về chính trị, Người đã nhìn nhận rõ tính hai mặt vốn có của quyền lực: Một mặt, quyền lực có sức mạnh to lớn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nếu biết sử dụng đúng; mặt khác, quyền lực cũng có sức phá hoại ghê gớm nếu người nắm quyền lực bị thoái hóa, biến chất, sa vào con đường tham muốn quyền lực, chạy theo quyền lực, tranh giành quyền lực; lợi dụng quyền lực để lạm quyền, lộng quyền, biến quyền lực của nhân dân thành đặc quyền, đặc lợi của cá nhân... Vì vậy, Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi và liên tục tẩy trừ mọi tệ nạn do sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên gây ra, trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện Nhà nước và xã hội. Nhận thức rõ sự tác động qua lại giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và môi trường xã hội, cũng như những đổi thay có thể diễn ra trong nhân cách cùng ý thức và hành vi đạo đức của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến một nhận định mang tính triết lý và thực tiễn sâu sắc, có giá trị to lớn trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(13). Đây chính là lời cảnh tỉnh sâu sắc đối với các đảng cộng sản cầm quyền, đối với mỗi đảng viên cộng sản, nhất là những đảng viên cộng sản có chức, có quyền, giữ các vị trí then chốt trong bộ máy nhà nước.
Qua hơn 35 năm đổi mới, với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Việc thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội có bước chuyển biến tích cực, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Đa số cán bộ, đảng viên tích cực trau dồi, rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, đóng vai trò nòng cốt trong công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, trước những tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó có mặt trái, mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học và công nghệ... một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Nhận định những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, ngay từ Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng đã chỉ ra những biểu hiện của tình trạng này và coi đó là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam(14). Tại các kỳ Đại hội Đảng và nhiều hội nghị Trung ương tiếp theo, Đảng có những đánh giá thẳng thắn về các nguy cơ này; trong đó, nổi lên các biểu hiện đáng lo ngại là: Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phai nhạt lý tưởng, niềm tin đối với Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt nguy hiểm là sự “trỗi dậy” của chủ nghĩa cá nhân, lối sống vị kỷ, vụ lợi, chạy theo các giá trị vật chất, xem thường các giá trị tinh thần; chỉ lo vun vén cho cá nhân mà thờ ơ, lảng tránh trách nhiệm với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng. Nói không đi đôi với làm. Kèn cựa địa vị, tranh chức tranh quyền, bằng mọi thủ đoạn để tìm kiếm các mối quan hệ, liên kết “lợi ích nhóm” bất chính “lợi mình hại người”, dùng tiền bạc do tham nhũng để mua chức, mua danh, bất chấp cả liêm sỉ, đạo lý. Nạn tham nhũng tồn tại kéo dài, ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ.
Như vậy, thực trạng suy giảm đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gây hậu quả rất nặng nề, làm tổn thương đến uy tín, thanh danh của Đảng, mà nếu không được ngăn chặn và đẩy lùi triệt để thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Tâm trạng xã hội và ý nguyện của nhân dân lúc này là thiết tha mong muốn, đồng thời nghiêm khắc đòi hỏi Đảng phải trong sạch, vững mạnh bắt đầu từ đạo đức. Cán bộ, đảng viên phải chứng tỏ trên thực tế, bằng những việc làm, ứng xử và hành xử, là những người có đạo đức.
Nhìn nhận rõ thực trạng đó, tại Đại hội XII, Đảng đã nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức và đây là một trong những điểm mới, rất căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng nội dung xây dựng Đảng: “Tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức””(15). Lần đầu tiên, Đảng đưa nội dung xây dựng Đảng về đạo đức - một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng - vào trong văn kiện. Đại hội XIII của Đảng bổ sung một thành tố nữa vào công tác xây dựng Đảng là cán bộ: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(16).Đó vừa là định hướng thực tiễn, vừa là chỉ báo đánh giá kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Thực hiện tốt nội dung xây dựng Đảng về đạo đức sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩ#m chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đây chính là khâu đột phá về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền đang thực thi trọng trách lịch sử mà dân tộc và nhân dân ủy thác: Lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, vì Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trong thời gian tới, để tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đặc biệt quan tâm đến một số nội dung sau:
Một là, mọi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây phải được xác định là biện pháp quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Trước hết, việc học tập, tự học tập để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục. Các nội dung học tập phải được đưa vào sinh hoạt chi bộ và trở thành nền nếp. Thường xuyên trao đổi, thảo luận, tự phê bình và phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị, địa phương. Biểu dương những việc làm tốt, kịp thời phát hiện, uốn nắn những việc làm chưa tốt, nhất là trong việc vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác phấn đấu và tu dưỡng, rèn luyện theo những chuẩn mực đạo đức được xây dựng ở địa phương, cơ quan, đơn vị, trong từng tổ chức đảng.
Hai là, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; theo đó, tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, đặc biệt là quán triệt và thực hiện nghiêm túc Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Đây được xác định là khâu mấu chốt để thực hiện việc nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.
Để thực hiện tốt nội dung này, cần giữ vững các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm các nghị quyết, quy định của Đảng về thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu(17).
Ba là, coi trọng xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cá nhân, tổ chức. Một mặt, để nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, yêu cầu đặt ra trước hết là phải xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của mỗi người, mỗi tổ chức thì tổ chức, đơn vị đó mới hoạt động có hiệu quả. Thực tế cho thấy, phải có trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng thì mỗi cá nhân mới có đóng góp cụ thể cho tổ chức, mới “nói đi đôi với làm”, tham gia cùng tập thể chống chủ nghĩa cá nhân. Mặt khác, để động viên, khuyến khích tinh thần trách nhiệm và hạn chế thói lười biếng, vô trách nhiệm, ỷ lại, tư lợi cá nhân của cán bộ, đảng viên, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy các cấp cần thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát về những nội dung này; thông qua kiểm tra, giám sát để quản lý chặt chẽ từng cán bộ, đảng viên ở nơi công tác, nơi cư trú và khi công tác xa cơ quan, đơn vị, nhất là những cán bộ có chức, có quyền, trong các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra sai phạm, như quản lý kinh tế, công tác cán bộ... Đồng thời, phát hiện và xử lý kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ trong Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng.
Bốn là, không ngừng hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật gắn với việc tăng cường hơn nữa tính nghiêm minh của kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà nước. Quá trình đổi mới và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đặt ra yêu cầu phải khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để hạn chế những “lỗ hổng” dễ bị lợi dụng; đặc biệt, cần tăng cường kỷ cương, phép nước, tính nghiêm minh của pháp luật để củng cố niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước. Đồng thời, tăng cường phát huy dân chủ trong Đảng và thực hiện kỷ luật đảng thật sự nghiêm minh; xử lý kịp thời, công khai những cán bộ, đảng viên vi phạm, dù ở cương vị, chức trách nào; kiên quyết đấu tranh với những thói hư, tật xấu trong Đảng.
Năm là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân trong giám sát cán bộ, công chức. Đây là giải pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài của công tác xây dựng Đảng, cũng như trong việc phòng, chống chủ nghĩa cá nhân và ngăn chặn tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Bên cạnh đó, cần phát huy mặt tích cực của dư luận xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần giáo dục, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên, đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống
Sáng 3-9, tại Batam (Indonesia), Hải quân nhân dân Việt Nam và Hải quân Indonesia đã tổ chức bế mạc các hoạt động trong khuôn khổ giao lưu, luyện tập chung hải quân hai nước (CODEX 22B-I).
Dự lễ bế mạc có: Đồng chí Tạ Văn Thông, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Indonesia kiêm nhiệm Timor Leste; Đại tá Đỗ Xuân Quý, Tùy viên quân sự Việt Nam tại Indonesia; Phó đô đốc Arsyad Abdullah, Tư lệnh Hạm đội 1, Hải quân Indonesia.
Đại tá Nguyễn Văn Ngân, Phó tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân, Trưởng đoàn công tác Hải quân nhân dân Việt Nam và Chuẩn đô đốc Kemas M. Ikhwan Madani, Chỉ huy trưởng Căn cứ Hải quân IV, Hải quân Indonesia đồng chủ trì lễ bế mạc.
Phát biểu tại lễ bế mạc, Đại tá Nguyễn Văn Ngân đặc biệt nhấn mạnh: Qua 6 ngày hoạt động tích cực, trách nhiệm, hải quân hai nước đã phối hợp tổ chức thực hiện thành công cuộc luyện tập chung, hoàn thành tất cả khoa mục trên cơ sở thỏa thuận về quy trình chuẩn luyện tập chung giữa hải quân hai nước đã được hai bên ký kết.
Qua các hoạt động lần này, hải quân hai nước đã cùng trao đổi, học hỏi kinh nghiệm chuyên môn; nâng cao khả năng phối hợp hiệp đồng trong xử lý các thách thức chung về an ninh hàng hải; sự thành thục khi phối hợp tổ chức luyện tập; góp phần duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác trên vùng biển giáp ranh giữa hai nước; thắt chặt hơn nữa mối quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam-Indonesia nói chung, quân đội và hải quân hai nước nói riêng.
Phát biểu bế mạc, Chuẩn đô đốc Kemas M. Ikhwan Madani chúc mừng thành công của cuộc luyện tập chung và bày tỏ tin tưởng, từ các hoạt động này sẽ giúp hải quân hai nước có thêm kinh nghiệm để tổ chức các hoạt động tiếp theo hiệu quả hơn.
Chuẩn đô đốc Kemas M. Ikhwan Madani cũng nhấn mạnh: Hai nước Việt Nam và Indonesia đều có chung lợi ích trên vùng biển an toàn và ổn định. Cuộc luyện tập chung cho kết quả tốt đẹp, trong đó có sự phối hợp hiệu quả của lực lượng hai bên với nhau trên biển là bước tiến quan trọng cho sự hợp tác hải quân hai nước trong tương lai. Chỉ huy trưởng Căn cứ Hải quân IV, Hải quân Indonesia gửi lời cảm ơn đến sự phối hợp, hiệp đồng tốt giữa hải quân hai nước và bày tỏ tin tưởng, với những bài học kinh nghiệm được hai bên trao đổi sẽ góp phần nâng cao trình độ chuyên môn trong thời gian tới.
CODEX 22B-I diễn ra từ ngày 29-8 đến hết ngày 3-9 là hoạt động giao lưu, luyện tập song phương giữa Hải quân nhân dân Việt Nam và Hải quân Indonesia lần đầu tiên được tổ chức. Tham gia cuộc luyện tập chung lần này có 3 thành phần gồm: Tàu 012-Lý Thái Tổ của Hải quân nhân dân Việt Nam; Tàu KRI Bung Tomo-357 và trực thăng HS1311 của Hải quân Indonesia.
Nội dung luyện tập chung được chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn tại bến có các hoạt động: Phổ biến quy định về an toàn và tình hình thành phố Batam cho Hải quân nhân dân Việt Nam; chào xã giao; đồng bộ hóa các hoạt động luyện tập theo khoa mục; hoạt động họp nhóm sĩ quan phụ trách khoa mục và họp thông tin tham mưu trước khi tàu rời cảng; lễ khai mạc.
Giai đoạn trên biển diễn ra tại khu vực biển phía đông đảo Bintan với các khoa mục luyện tập: Vận động đội hình; tiếp tế trên biển; cờ hiệu; ánh đèn; chụp ảnh đội hình; tìm kiếm cứu nạn và xử lý sự cố máy lái. Giai đoạn sau luyện tập: Tổ chức giao hữu thể thao; tiệc chiêu đãi; họp rút kinh nghiệm sau luyện tập và lễ bế mạc.
Đó là mùa đông rét mướt năm 1944. Nạn đói bắt đầu hoành hành. Người ta gom xác nạn nhân chết đói rải rác trên các vỉa hè và ngoài cổng chợ. Tôi không có chăn đắp và cả ngày chỉ có một cái bánh nếp nhỏ bỏ bụng. Một sáng nọ, tôi thấy có cái xác trước cửa nhà mình. Cái lạnh và cơn ác mộng đói khát khiến tôi không sao ngủ được. Tôi đốt hết đống bản thảo và tranh vẽ để hơ đôi bàn tay lạnh cóng và nói lời vĩnh biệt ước mơ trở thành họa sĩ và nhà soạn nhạc.
Ở quê, cả nhà tôi phải chịu cảnh đói khát. Mẹ tôi phải đưa mấy đứa cháu về Hải Phòng cho các ông anh tôi khi đó đang thất nghiệp. Trên đường, có một em bé 3 tuổi đi lạc. Hẳn là em đã nằm xuống giữa những nạn nhân chết đói. Tôi nhớ mãi tiếng em ríu rít và đôi mắt to tròn, trong veo như mắt một chú mèo con. Tôi đã khóc nhiều đến mức không còn giọt lệ nào để rơi trước cái chết của em. Tôi cũng tê liệt khi biết rằng mẹ tôi phải đào củ chuối và rằng cả nhà phải tràn ra đồng mò cua bắt ốc kiếm ăn.
Những nỗi đau ấy khiến nước mắt tôi khô cạn và cổ họng tôi nghẹn đắng. Nỗi căm thù đối với đế quốc Nhật và Pháp, những kẻ gây ra nạn đói 1944-1945, lớn dần trong tôi. Và rồi nó bùng nổ trong những nốt nhạc của bài Tiến quân ca.
Anh Vũ Quý là công nhân một nhà máy và cũng là người bạn lâu năm của tôi. Mạng lưới bí mật của anh ở Hải Phòng bị cảnh sát phát hiện nên anh ra Hà Nội để tiếp tục hoạt động cách mạng. Thỉnh thoảng, anh đến thăm, cho tôi vài lời khuyên và động viên tôi tiếp tục sáng tác. Trước đó, tôi không có mong muốn nào khác ngoài trở thành một nghệ sĩ yêu nước, sáng tác những bài hát về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Những chuyến thăm của Vũ Quý khiến tôi ngày càng trăn trở về vai trò của mình đối với cuộc Cách mạng đang âm ỉ.
Cuối năm 1944, anh đến giao cho tôi nhiệm vụ đầu tiên và giúp tôi một khoản tiền nhỏ để xoay sở. Căn gác nhỏ của tôi trở thành lớp nhập môn chính trị và bản thân tôi cũng tham gia biên tập một tờ báo bí mật in ở một làng ngoại thành Hà Nội.
Một hôm, Vũ Quý bảo tôi rằng căn cứ du kích ở Việt Bắc đang củng cố. Trường cán bộ chính trị và quân sự chống Nhật sắp mở cửa. Vũ Quý đề nghị tôi sáng tác một bài cho các học viên tương lai của trường.
Tôi chưa nhận lời, nhưng các nốt nhạc đã lóe lên trong đầu. Tôi lang thang hết một buổi chiều trên những vỉa hè của Hà Nội, nhìn người qua lại và những ô cửa kính của các thư viện.
Ở một góc phố, một gia đình đói khát đang đốt chút lửa để đun thứ gì đó màu nâu trong một vỏ đồ hộp cũ. Khi nào thì họ sẽ chết? Cảnh tượng những chiếc xe kéo chở đầy xác người gom từ các vỉa hè mỗi sáng không ngừng ám ảnh tôi. Khi đèn đường bắt đầu le lói, bài hát của tôi đã ra đời. Tôi viết bài hát lên một mẩu giấy, trên đường trở về căn gác nhỏ, nơi tôi nhìn qua cửa sổ và thấy bao cảnh tượng chết chóc và sự khốn khổ của kiếp người.
Bài Tiến quân ca được đăng trên báo "Độc lập"
Tôi đi công tác trước khi số báo này phát hành và một tuần sau mới về lại Hà Nội để lắng nghe những âm thanh của bài Tiến quân ca lọt qua một ô cửa sổ không quen. Tôi thấy vài nốt không hài hòa lắm, nhưng sửa chữa thì muộn rồi vì bài hát đã được truyền tay hết người này sang người khác. Dù quân Nhật cấm sao chép, bài hát vẫn tiếp tục lan truyền trong các nhóm quần chúng kích động vào đêm trước của cuộc nổi dậy lịch sử.
Khi đó tôi ốm và đã giao lại vũ khí cho một đồng chí khác. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, tôi cố gắng lê cái thân ốm đau đến dự buổi mít-tinh của các công chức. Lá cờ đỏ sao vàng vươn cao trên đám đông. Bài Tiến quân ca nổ ra như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Xung quanh tôi, hàng ngàn giọng hát cất vang lên theo những đoạn sôi nổi. Trên tay áo, những băng cờ đỏ sao vàng đã thay những băng vàng của chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.
Hôm sau, tôi vẫn ốm và phải nằm nhà. Khoảng 20 đội viên Thiếu niên Tiền phong đến nhà xin tôi bản hướng dẫn biểu diễn. Tôi không có để đưa cho họ nhưng tôi giữ họ lại chốc lát để chỉ họ cách hợp xướng bài Tiến quân ca. Liệu họ còn nhớ buổi sáng tháng 8 đầy nắng khi giọng ca của chúng tôi hòa vào nhau và cất lên thật cao để chào lá cờ Cách mạng lần đầu xuất hiện tại Hà Nội.
Ngày 19 tháng 8 năm 1945, lễ mít-tinh diễn ra tại Nhà hát lớn. Đội Thiếu niên Tiền phong hát vang bài Tiến quân ca. Hàng chục nghìn người hòa vào giọng hát. Họ lớn tiếng bày tỏ nỗi căm thù đối với thực dân đế quốc và niềm phấn khởi trước chiến thắng của Cách mạng. Các nhóm vũ trang tỏa đi khắp phố. Tôi xúc động nhận ra vũ khí của mình trong tay các đồng chí thuộc một đội xung kích.
Sau nhiều lần suýt ngã, cuối cùng tôi cũng đến được Nhà hát lớn. Tôi ngắm mình trong một tấm gương tại Phòng Gương. Mắt trũng sâu đến khó tin nhưng nụ cười rạng rỡ một lần nữa làm sáng bừng khuôn mặt hốc hác. Bệnh của tôi cũng dần khỏi như có phép màu khi những khẩu hiệu cất lên từ biển người đổ về Nhà hát vào một ngày không thể nào quên khi dân tộc một lần nữa giành lại độc lập.
* Văn Cao, Comment fut composé l'Hymne national vietnamien, Vietnam en marche, No.10, 8/1957, tr.17-19 (Bùi Hệ dịch).