Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

THÔNG ĐIỆP TỪ NHỮNG NGÔI CHÙA Ở TRƯỜNG SA

 

Dọc bờ biển đất nước, hay trên những hòn đảo giữa biển khơi xa, nơi đâu có cư dân sinh sống, nơi đó có ngôi chùa, mái đền. Trên quần đảo Trường Sa của Tổ quốc, từ đảo Đá Tây đến xã đảo Sinh Tồn, Song Tử Tây, thị trấn Trường Sa Lớn, những ngôi chùa của cư dân hiện hữu, thể hiện tâm nguyện và khát vọng cuộc sống yên lành, hòa bình, hữu nghị giữa biển Đông.

Đối mặt với biển cả đại dương đầy hào phóng nhưng cũng lắm hiểm họa, những ngôi chùa nơi cư dân vùng biển đảo sinh sống thể hiện tâm nguyện về cuộc sống hướng thiện, bình yên, cầu mong sóng yên, biển lặng... Dù quay về hướng nào, những ngôi chùa trên các hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa cũng đều hướng ra biển Đông. Bên dáng cây đa, cây bồ đề mang cốt cách chùa quê Việt Nam, những ngôi chùa ở Trường Sa có thêm bóng mát cây phong ba, cây bàng quả vuông cổ thụ xòe tán che chở. Mỗi sớm mai, chiều tối, người dân trên đảo vào chùa, thỉnh hồi chuông, thắp nén hương, tịnh tâm khấn vái. Những ngư dân hành nghề trên những ngư trường quanh đảo ngày rằm, mùng một cũng ghé thuyền vào đảo thể hiện lòng thành, cầu mong có sức khỏe dẻo dai, mỗi chuyến đi khơi đều may mắn, có nhiều lộc biển.

Biển Đông rộng lớn, tôm cá dồi dào, tài nguyên phong phú nhưng cũng bão gió bất kỳ. Và cũng chính nơi đây, mấy chục năm qua đã có phen sóng không yên biển không lặng. Mỗi ngôi chùa, tự thân mang thông điệp hướng thiện và hài hòa. Ngôi chùa giữa biển Đông không chỉ đáp ứng đời sống tâm linh của người dân nơi biển đảo, mà còn thể hiện khát vọng cuộc sống bình yên, hòa bình, hữu nghị.

Trên hòn đảo Đá Tây, nơi có nhiều ngư dân đang đánh bắt và tổ chức nuôi trồng hải sản, từ bao giờ có ngôi miếu thờ, ở nơi trang trọng nhất có tấm bia khắc bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt. Tự mỗi câu thơ trong bài thơ Thần là một thông điệp bất hủ. Người dân đến hòn đảo này làm ăn sinh sống không thể không khắc sâu trong tâm khảm lời tiền nhân Nam quốc sơn hà Nam đế cư...

Trong ngôi chùa trên đảo Trường Sa Lớn có pho tượng Phật bằng đá quý, màu trắng, gọi là Phật ngọc. Phật ngọc ngự chùa Trường Sa Lớn là một cơ duyên. Trong một lần thăm chính thức đất nước Myanma, khi đến Chùa Vàng ở Thủ đô Yangon, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được Liên đoàn Phật giáo thế giới tặng Phật ngọc. Và tượng Phật ngọc Thích Ca Mâu Ni quý giá này đã được Thủ tướng kính tặng lại chùa Trường Sa Lớn thuộc huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa...

Trong thư gửi kèm theo tượng Phật ngọc, Thủ tướng Chính phủ phát tâm nguyện:

Mong Đức Phật phù hộ độ trì cho quân dân huyện đảo Trường Sa bình yên, mạnh khỏe, hạnh phúc, thắng lợi. Cho nước Việt Nam hòa bình, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cho vùng biển Đông, cho các quốc gia trong khu vực và trên thế giới sống trong hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng phát triển, cùng thịnh vượng.

Dù quay hướng nào, những ngôi chùa trên quần đảo Trường Sa cũng đều hướng ra biển Đông, cùng cầu nguyện những điều tốt lành như tâm nguyện của Thủ tướng Chính phủ. Và trên hết là cầu nguyện Cho vùng biển Đông, cho các quốc gia trong khu vực và trên thế giới sống trong hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng phát triển, cùng thịnh vượng./.

ANH HÙNG PHAN ĐÌNH GIÓT

 

“Lỗ châu mai là một khe hở không quá nhỏ, đủ có thể nhìn qua được, thường được xây ở phía trên hay phần dưới của công trình quân sự như pháo đài, lô cốt,... mà qua đó xạ thủ có thể đặt súng, cung tên lọt vào lỗ và bắn trả đối phương.

Các bức tường bên trong, phía sau lỗ châu mai thường được cắt bỏ ở một góc xiên (>30 độ) để các xạ thủ có một tầm nhìn và góc bắn rộng. Lỗ châu mai có rất nhiều dạng. Một dạng phổ biến và dễ nhận biết là hình chữ thập (như hình). Góc độ thẳng đứng và lỗ nhỏ cho phép cung thủ tự do thay đổi độ cao và hướng của tầm bắn nhưng lại làm cho phía quân của đối phương tấn công khó khăn hơn vì chỉ có một mục tiêu ngắm bắn khá nhỏ.”

Từ lợi ích của nó mà lỗ châu mai được quân Pháp sử dụng rất nhiều trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 gây ra vô vàn khó khăn và thương vong cho quân ta. Súng đạn từ lỗ châu mai xả ra liên tiếp khiến nhiều bộ đội hy sinh, không thể tiếp tục tiến lên.

Trên chiến trường lúc ấy, anh Phan Đình Giót, giống như hàng ngàn chiến sĩ khác hừng hực ý chí chiến đấu. Dù đã bị thương 2 lần, 1 ở đùi, 1 ở vai. Cả 2 vết thương đều khiến anh mất máu khá nhiều. Đồng đội đưa anh lùi về sau nghỉ ngơi, tình trạng sức khoẻ của anh đã yếu đi trông thấy.

Chứng kiến đồng đội hy sinh quá nhiều từ họng súng của địch lấp sau lỗ châu mai, anh vùng dậy, ôm bộc phá lao lên bịt kín lỗ châu mai, cách nơi anh băng bó 200m. Tiếng súng đạn im bặt, cơ thể anh bị bom đạn kẻ thù bắn nát.

Khi lỗ châu mai bị che lấp, hỏa điểm của quân Pháp bị dập tắt, bộ đội ta đã nhanh chóng xông lên tiêu diệt cứ điểm Him Lam trong ngày 13 tháng 3. Đây là trận đánh mở màn thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: “Nghệ thuật quân sự của chúng tôi, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng tôi đánh bại quân đội đế quốc bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa anh hùng Cách mạng.”

Chúng ta đang chứng kiến thế hệ cũ dần lùi về quá khứ, những con người đã hết mình vì độc lập dân tộc, người đã về cõi vĩnh hằng, người cũng đã già theo năm tháng. Lịch sử dân tộc được viết nên từ máu, nước mắt và nỗi đau của hàng triệu người dân. Tất cả cùng chung mục đích giữ toàn vẹn lãnh thổ, một tấc không được thiếu.

Bản chất phía sau luận điệu đòi xoá bỏ một số điều luật trong Bộ luật Hình sự

 

Thời đại ngày nay, mọi quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng pháp luật và các quốc gia hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tình hình, đặc điểm, điều kiện cụ thể. Điều đó thể hiện sự tiến bộ, văn minh của loài người.

Thế nhưng, hiện một số người, nhất là số cơ hội chính trị có quan hệ với các tổ chức thù địch, đối tượng phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài đang tìm cách đi ngược lại sự văn minh, tiến bộ xã hội. Các đối tượng tìm kiếm sự can thiệp từ bên ngoài nhằm kêu gọi xóa bỏ một số điều luật với các mục đích chính trị xấu.

Chẳng hạn, các đối tượng kêu gọi xóa bỏ một số điều luật được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017), bao gồm một số điều luật thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia như: Điều 109 "Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân"; Điều 117 "Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Hay như Điều 331 "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" thuộc Chương XXII về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính...

Thực chất, việc kêu gọi xóa bỏ các điều luật này xuất phát từ các đối tượng có âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Vậy, mục đích của các đối tượng kêu gọi xóa bỏ các điều luật này là gì?

Thứ nhất, các đối tượng đang muốn đưa mình thoát khỏi "vùng cấm" của luật pháp, muốn đứng ngoài vòng pháp luật để dễ bề hoạt động chống phá mà không bị chế tài pháp luật xử lý. Các đối tượng đang cố gắng tạo cho mình một vành đai an toàn, nằm trong "nhóm lợi ích" vượt ra ngoài sự quản lý của pháp luật để tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước như: Tuyên truyền chống Nhà nước; thành lập các tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam… mà không bị pháp luật cấm đoán.

Thứ hai, các đối tượng muốn gây sự chú ý từ bên trong lẫn bên ngoài, thông qua các hoạt động tuyên truyền kêu gọi, tẩy chay, đòi xóa bỏ các điều luật nhằm gây sự chú ý cho dư luận trong nước cũng như cộng đồng quốc tế, nhất là các tổ chức theo dõi nhân quyền, các cơ quan truyền thông thiếu thiện chí, thường xuyên có các bài viết chống phá Việt Nam như đài RFA, RFI... Các hoạt động kêu gọi nhằm đánh lạc hướng dư luận để tạo suy nghĩ rằng môi trường chính trị của Việt Nam đang "rối ren"; tâm lý người dân bất ổn, hoang mang, qua đó hòng tạo áp lực dư luận để đòi hỏi phải thay đổi các quy định hoặc xóa bỏ các điều luật này.

Thứ ba, tất cả các hoạt động kêu gọi xóa bỏ các quy định của điều luật trên không nằm ngoài âm mưu tạo ra môi trường thuận lợi để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, mục đích hướng đến là thay đổi nhận thức của đông đảo quần chúng toàn xã hội, tiến tới xóa bỏ, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc kêu gọi xóa bỏ một số điều luật trong Bộ luật Hình sự Việt Nam nhằm xuyên tạc, vu khống, hạ bệ hình ảnh Việt Nam, cho rằng chúng ta vi phạm dân chủ, nhân quyền; vu cáo nhà nước sử dụng các điều luật này để "bóp nghẹt" quyền tự do dân chủ, các quyền căn bản của công dân được Hiến định.

Các đối tượng chống phá muốn xóa bỏ các điều luật nói trên đều nằm trong âm mưu, ý đồ hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia và đây không phải là thủ đoạn mới. Các Bộ luật Hình sự trước đây khi ban hành và thực thi thì các tổ chức, cá nhân thù địch, phản động cũng tìm cách đả phá, đòi huỷ bỏ những điều luật mà họ cho rằng "lạc hậu", "trói cột", "bịt miệng"…

Thực tế, không phải vì nhận thức thiếu hiểu biết dẫn tới phạm pháp mà hầu hết các đối tượng đều hiểu rõ những hành động của mình là trái với quy định của pháp luật, là phạm tội, nhưng với các động cơ khác nhau, họ vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Thậm chí không ít đối tượng dù bị cơ quan chức năng nhiều lần cảnh cáo, nhắc nhở hay xử phạt hành chính, xử lý hình sự nhưng sau đó vẫn bất chấp, cố tình thực hiện hành vi, thách thức pháp luật. Do đó, việc xử phạt với các điều khoản tương ứng hành vi, tính chất phạm tội là việc làm đương nhiên của cơ quan bảo vệ pháp luật. Điều đó càng cho thấy sự nghiêm minh của pháp luật và việc xử lý đó được cộng đồng xã hội đồng tình ủng hộ (ngoại trừ các phần tử tham gia các tổ chức phản động, chống phá Nhà nước).

Một nguyên tắc trong xây dựng nhà nước pháp quyền là phải thượng tôn pháp luật, không ai có thể đứng ngoài pháp luật. Dù là ai, vị trí nào, gia thế ra sao thì khi vi phạm đều xử lý bình đẳng và pháp luật hình sự cũng quy định rõ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo đó, những ai chủ mưu, cầm đầu, cố tình thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, phạm tội nhiều lần, tái phạm nguy hiểm… thì sẽ bị tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngược lại, những ai vì nhận thức thấp kém, phạm tội do bị rủ rê, lôi kéo; biết ăn năn, hối lỗi, thành khẩn khai báo… thì được giảm nhẹ hình phạt. Khi xét xử, luận tội, toà án xem xét công và tội rõ ràng, công minh.

Việc điều tra, truy tố, xét xử các bị can, bị cáo tuân thủ theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình xét xử đảm bảo việc tranh tụng dân chủ trước toà. Các hoạt động tố tụng đều thực hiện theo các trình tự, thủ tục được luật pháp quy định, thể hiện sự công khai, minh bạch, trách nhiệm trong các hoạt động công tố và các bản án được xem xét khách quan, người dân ủng hộ, điều này cũng góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Ổn định chính trị - xã hội là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Bài học từ một số quốc gia vùng Trung Đông, Bắc Phi, Nam Mỹ… cho thấy, khi xã hội bất ổn, rối ren, hậu quả khủng hoảng đến với người dân là không thể lường, sự bất ổn đó tác động trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, làm đảo lộn đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Và một trong những nguyên do dẫn tới sự bất ổn đó là có bàn tay chống phá của các thế lực xấu, sự bào mòn các giá trị căn bản của luật pháp và xã hội.

Do đó, bảo vệ sự ổn định chính trị - xã hội, tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật là yếu tố căn bản, góp phần tạo nên một xã hội công bằng, bền vững, loại trừ các nguy cơ can thiệp, chống phá, lật đổ chính quyền nhân dân, đó là mục tiêu tối thượng trong công cuộc bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Việc đòi bỏ điều luật này, điều luật kia dưới vỏ bọc dân chủ, nhân quyền chỉ là chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực chống phá nhằm gây rối ren, bất ổn xã hội./.

ĐẢNG LÃNH ĐẠO LÀ SỰ LỰA CHỌN KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ

 

Như chúng ta đã biết, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam khai sinh, ở nước ta đã từng có mô hình “đa nguyên đa đảng”. Ngay cả khi Đảng ta ra đời thì “đa đảng” vẫn tồn tại. Nhưng từ chính những đòi hỏi khách quan của lịch sử mà cách mạng đã lựa chọn từ “đa đảng” đến một đảng. Đó là xu hướng chính trị gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể Việt Nam. Để khắc phục tình trạng “độc quyền mất dân chủ”, trong suốt tiến trình cách mạng, mọi đường lối, phương thức lãnh đạo của Đảng đều được bàn thảo, xây dựng trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Vì thế, chúng ta khẳng định, ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan phải thực hiện cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, nếu “thỏa hiệp” để thực hiện đa đảng đối lập cũng đồng nghĩa với việc đánh mất sự ổn định chính trị, rối loạn xã hội; tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các tư tưởng chính trị xa lạ - đi ngược lại lợi ích của quảng đại quần chúng và mục tiêu xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh: “tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”. 

Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. 

Để đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thường xuyên củng cố nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường tuyên truyền “phổ cập” tới mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Qua đó tạo lập một mặt bằng chung trong toàn xã hội về ý thức tư tưởng chính trị; nâng cao khả năng “tự miễn dịch” trước những âm mưu xâm nhập, lây lan của những tư tưởng đi ngược lợi ích nhân dân, trái với lý tưởng và mục tiêu XHCN. 

Nghiêm túc quán triệt và thực hiện việc “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính giáo dục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập Nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng. 

Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung, chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng chỉ phát huy hiệu quả thực chất khi việc chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng thực sự có chất lượng. Theo đó, sự gương mẫu “nói đúng làm đúng” từ mỗi cán bộ đảng viên là cách tốt nhất để lan tỏa những quan điểm, chủ trương của Đảng tới mọi “ngõ ngách cuộc sống”, để mọi tầng lớp nhân dân luôn “tâm phục khẩu phục”, một lòng theo Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./.

Đừng cố tình hiểu sai giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

 

Theo thông lệ, cứ đến thời điểm này, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị lại đưa ra một số luận điệu chính trị phản động cố tình hiểu sai giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Chúng rêu rao "Cách mạng Tháng Tám là thứ quả ngọt trời cho", hoặc "Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là sự ăn may của lịch sử", chúng ra sức phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Cách mạng Tháng Tám…

Đảng ta đã khẳng định: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi trong điều kiện khách quan có những yếu tố thuận lợi (điều đó chúng ta không phủ nhận). Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai tạo cho dân tộc ta một cơ hội thuận lợi, kẻ thù của chúng ta lúc đó là thực dân Pháp và phát xít Nhật đã tự loại nhau. Từ sau ngày 9/3/1945, đối tượng chủ yếu của cách mạng Việt Nam là phát xít Nhật. Khi đội quân Quan Đông mạnh nhất của Nhật bị Hồng quân Liên Xô đánh bại ở Mãn Châu (Trung Quốc) dẫn đến Nhật đầu hàng Đồng minh, thì ở Việt Nam lúc đó quân Nhật hoảng loạn, quân Pháp chưa đủ sức quay lại, chính quyền tay sai cũng hoang mang, tạo điều kiện khách quan chín muồi cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi.

Tuy nhiên, dù điều kiện khách quan có thuận lợi đến đâu mà điều kiện chủ quan chưa chín muồi thì cách mạng cũng chưa thể thành công. Thực tế cho thấy cũng trong hoàn cảnh thắng lợi của Đồng minh và thất bại của phát xít Nhật, nhưng không phải nước nào cũng tiến hành được một cuộc khởi nghĩa để giành độc lập cho dân tộc. Tại thời điểm đó, chỉ ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta", toàn dân đã tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng lật đổ sự thống trị của phát xít Nhật và bọn tay sai, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Thắng lợi của Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của một quá trình chuẩn bị đầy đủ lực lượng cách mạng của Đảng ta. Đồng thời, đó cũng là kết quả của việc chúng ta chủ động, tích cực theo dõi tình hình, dự đoán chính xác thời cơ và đề ra chủ trương đúng đắn, lãnh đạo toàn dân tộc đứng lên, chớp thời cơ để tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Trong 2 yếu tố chủ quan và khách quan thì yếu tố chủ quan là nguyên nhân chính, động lực chính quyết định đến sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Thực tế đã khẳng định dù thời cơ có thuận lợi đến mấy, nhưng nếu chúng ta không có đường lối đúng đắn, không có sự tập duyệt của 3 cao trào cách mạng, không có sự chuẩn bị đầy đủ các điều kiện thì Cách mạng Tháng Tám cũng không xảy ra. Chính vì vậy, đó không phải là sự ăn may và Đảng ta không hề "cướp công" như những gì các thế lực phản động bịa đặt, xuyên tạc.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu: Đó là bài học gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc; bài học thực hiện triệt để phương châm "thêm bạn bớt thù"; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một Đảng cách mạng có bản lĩnh chính trị vững vàng, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Có thể nói, tháng năm đã trôi qua, nhưng những giá trị lịch sử to lớn, tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục tỏa sáng trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám vẫn sống mãi trong bước đường phát triển của đất nước ta, nhất là trong giai đoạn thực hiện "mục tiêu kép" hiện nay. Mỗi một người dân Việt Nam, dù ở trong nước hay nước ngoài, dù ở cương vị nào, chúng ta hãy phát huy cao độ tinh thần Cách mạng Tháng Tám để xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Chúng ta cũng không bao giờ đồng tình với những ai cố tình hiểu sai giá trị lịch sử vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945./.

Vận dụng, phát huy tinh thần, bài học từ Cách mạng Tháng Tám

 

Cách đây tròn 77 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Từ ngày 14 đến ngày 18-8-1945, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam... Ngày 19-8-1945, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23-8-1945, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và ở Bắc Kạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu... Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8-1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mau lẹ do nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, khéo léo của Đảng; là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta một cách đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đảng có phương pháp, chiến lược, chiến thuật cách mạng phù hợp, linh hoạt; nhận thức được thời cơ, chủ động đón thời cơ và kiên quyết chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Thành công đó còn đến từ tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân ta. Đó còn là khả năng nhận định, đón nhận những yếu tố thuận lợi cho phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức của cộng đồng tiến bộ quốc tế...

Quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa suốt 76 năm qua đã khẳng định tinh thần và những bài học kinh nghiệm quý báu của Cách mạng Tháng Tám đã luôn được phát huy hiệu quả. Đảng đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, với phương pháp và hình thức đấu tranh phù hợp. Đó là khả năng nắm bắt thời cơ, xây dựng lực lượng và tổ chức, sử dụng lực lượng; phát huy được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đó là khả năng tập hợp, tổ chức, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tận dụng sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế tạo nguồn lực vô cùng to lớn để đất nước giành những thắng lợi quan trọng, quyết định. Tất cả đã được minh chứng rõ nét trong Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Đại thắng mùa Xuân 1975; hay những thành tựu nổi bật thời kỳ đổi mới được cộng đồng quốc tế đánh giá cao...

Khi đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày hôm nay” thì đại dịch Covid-19 ập đến, diễn biến vô cùng phức tạp, khiến cả thế giới chao đảo. Trong bối cảnh đó, một lần nữa, với khả năng đánh giá đúng tình hình, “biết người, biết ta” và tổ chức lực lượng phối hợp đồng bộ, kiên quyết, Việt Nam nổi lên là quốc gia vừa chống dịch hiệu quả, việc duy trì phát triển kinh tế ổn định. Những biện pháp Việt Nam áp dụng chống dịch hiệu quả được cả thế giới học hỏi như bắt buộc sử dụng khẩu trang, giãn cách xã hội...

Thế nhưng, với biến chủng Delta, dịch Covid-19 đã, đang khiến cả thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam, gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm nguồn lực y tế chống dịch. Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh Nam Bộ bùng phát dịch, đời sống kinh tế - xã hội bị đảo lộn. Trong bối cảnh khó khăn đó, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc đồng bộ, quyết liệt với tinh thần, ý chí rất cao. Không chỉ các chiến sĩ “áo xanh”, các chiến sĩ “áo trắng”, lực lượng dân phòng đã quên mình sẵn sàng, tình nguyện ra tuyến đầu. Chính phủ đã dành ưu tiên tối đa, huy động mọi nguồn lực để đáp ứng nhu cầu phòng, chống dịch. Cả thế giới đang khan hiếm vắc xin, nhưng Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ, viện trợ vắc xin của nhiều đối tác. Hàng loạt tập đoàn, doanh nghiệp, người dân đã tích cực ủng hộ vật chất, tinh thần cho lực lượng tuyến đầu chống dịch. Tại nhiều khu, tổ dân phố, người dân tự nguyện ứng trực tại “chốt xanh” để bảo vệ cộng đồng trước đại dịch.

Tinh thần cách mạng, yêu nước, thương nòi càng lúc càng lên cao trong thời gian vừa qua. Không chỉ thực hiện nghiêm các quy định phòng, chống dịch, mỗi người dân, không ai bảo ai, đồng lòng “nhường cơm, sẻ áo”, hỗ trợ nhau vượt qua giai đoạn khó khăn. Hình ảnh các đoàn từ thiện hỗ trợ người khó khăn bữa cơm mùa dịch, hay từng đoàn người về quê tránh dịch đi đâu cũng nhận được sự hỗ trợ đã nói lên tất cả. Đó cũng chính là tinh thần lời kêu gọi chống dịch của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “... Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, nhân nghĩa. Mỗi khi đất nước gặp khó khăn, truyền thống đó lại càng được nhân lên gấp bội. Thời gian qua, toàn dân ta đã đồng lòng, cùng chung sức với Đảng, Nhà nước ngăn ngừa và kiểm soát dịch bệnh bước đầu có hiệu quả... Với tinh thần coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết, tôi kêu gọi toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài hãy đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh...”.

Với sự đồng lòng, chung sức, ý chí quyết tâm rất cao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, dịch Covid-19 sẽ sớm được khống chế, kiểm soát để tập trung phát triển kinh tế - xã hội, làm cho cơ đồ đất nước ngày càng tươi sáng hơn./.

BẢO VỆ VÀ NHÂN LÊN SỨC MẠNH “Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN” TRONG THỜI KỲ MỚI

 

Cách đây 77 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã nhất tề đứng lên tiến hành cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một trong những nhân tố có tính quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là do Đảng ta đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thực hiện tốt đường lối đoàn kết toàn dân tộc, liên hiệp mọi lực lượng yêu nước, không phân biệt tôn giáo, xu hướng đảng phái chính trị, giai cấp, trong một Mặt trận Dân tộc thống nhất. 

Sự thật đã chứng minh thuyết phục, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là thắng lợi của sức mạnh “ý Đảng, lòng Dân”, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc biết chớp thời cơ, vùng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng dân tộc. Thế nhưng, đâu đó vẫn có một số tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam cố tình bóp méo, xuyên tạc tính chất và ý nghĩa của vấn đề lịch sử này. 

Do động cơ, mục đích đen tối, họ cố tình phủ nhận rằng, chẳng có sự thống nhất, tinh thần đoàn kết nào, dưới sự lãnh đạo của ai cả mà đó chỉ là hành động "bột phát, vô thức" của người dân phẫn uất do bị áp bức, bóc lột đứng lên giành chính quyền. Khi bàn về vai trò của các tầng lớp, các giai cấp trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, họ cho rằng giai cấp nông dân Việt Nam đã nhận thức được “mệnh trời” và vai trò của mình. Bằng cái nhìn chủ quan, phiến diện, thiển cận đó họ cho rằng, thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945 vai trò nổi dậy của giai cấp nông dân Việt Nam mới là quyết định.

Luận điệu trên không nằm ngoài mục tiêu phủ nhận giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phủ phận sức mạnh của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Nhưng họ đã lầm. Sự thật lịch sử quá rõ ràng và vô cùng thuyết phục. Cách nhìn nhận phi lý, phản khoa học, những luận điệu sai trái, lập lờ đánh lận con đen của họ không thể lừa bịp được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới và những người Việt Nam chân chính.

Hơn thế, tinh thần đại đoàn kết, sự thống nhất đã trở thành nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần đoàn kết, sự thống nhất đã trở thành một trong những nét đẹp trong văn hóa dân tộc. Nét đẹp ấy càng được khẳng định trong thời đại Hồ Chí Minh toàn thể dân tộc Việt Nam là một. Có thể nói cách mạng Tháng Tám năm 1945 là đỉnh cao tỏa sáng rực rỡ của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.

"Nước mất thì nhà tan", mỗi người dân Việt Nam luôn nhận thức rõ, ý thức sâu sắc điều này và tinh thần ấy luôn thường trực trong mỗi người con nước Việt. Từ thực tiễn lịch sử, nhân dân Việt Nam từng tổng kết, đúc rút, chỉ khi nào có sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc, thì khi ấy mới tập hợp phát huy được sức mạnh nội lực của đất nước, mới xây dựng và bảo vệ nước nhà được hòa bình, thịnh vượng. Cũng chính trên nền tảng ấy mà nhân dân ta đã không cam chịu thân phận, kiếp đời nô lệ, một lòng đi theo Đảng, triệu người như một quyết vùng lên giành độc lập, tự do cho dân tộc, giành địa vị làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh cho mình. 

Có thể nói, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng tuyệt vời của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Cùng với đó cần phải khẳng định, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra và thành công gắn với vai trò lãnh đạo của Việt Minh, của Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Chúng ta không phủ nhận vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, trong đó có giai cấp nông dân. Nhưng cần phải nhớ rằng, sự nhất tề vùng lên của quần chúng nhân dân nói chung, của giai cấp nông dân nói riêng không phải là "vô thức, bột phát" vì "phẫn uất" như một số tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam từng xuyên tạc, mà đó là sự vùng lên có giác ngộ, được tổ chức, theo đường hướng lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, của Đảng Cộng sản Đông Dương. 

Bảy mươi sáu năm nhìn lại, chúng ta càng hiểu hơn về sự kiện vĩ đại nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX, càng thấy rõ hơn giá trị tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, của độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất. Bài học về sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, về tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự. Bởi chỉ khi lòng dân được quy về một mối và tất cả cùng hướng niềm tin vào Đảng - đó sẽ là sức mạnh vô địch để cả dân tộc băng qua mọi khó khăn, thử thách, tiếp tục làm nên các kỳ tích mới trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Giá trị của Cách mạng Tháng Tám trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

 

Mùa thu năm 1945, với tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, đập tan xiềng xích nô lệ của chế độ phong kiến hàng thế kỷ và sự thống trị của chủ nghĩa thực dân hơn 80 năm, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. 77 năm đã trôi qua nhưng hào khí, tinh thần bất diệt của Cách mạng tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên vẹn; là động lực tinh thần to lớn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như sinh thời Bác Hồ hằng mong mỏi.

Từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám, đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm và chế độ quân chủ hàng thế kỷ.

Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, trong cuộc mít tinh của hàng chục vạn quốc dân, đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Ngày 2/9 đi vào lịch sử là Ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống yêu nước nồng nàn và ý chí quật cường dưới sự lãnh đạo tài tình của Ðảng và Bác Hồ. Thắng lợi ấy minh chứng cho bản lĩnh và trí tuệ của Ðảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là sự kế thừa và phát huy kinh nghiệm từ các cao trào cách mạng do Ðảng khởi xướng, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại để làm nên chiến thắng lịch sử của dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám thành công, sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không chỉ là mốc son chói lọi; bước ngoặt trọng đại của nhân dân, dân tộc Việt Nam; Mở ra một kỷ nguyên đất nước độc lập, tự do, đi lên chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Sống trong chiến tranh mới thấy hết giá trị của hòa bình; chịu cảnh nô dịch của ngoại bang mới thấm thía nổi nhục của kiếp nô lệ. Hơn ai hết, nhân dân, dân tộc Việt Nam đã chịu biết bao đau thương, mất mát, tủi nhục, bởi đã từng là nạn nhân của hàng trăm, hàng ngàn cuộc chiến tranh lớn nhỏ trong lịch sử; cũng đã từng chịu sự nô dịch của 1.000 năm phong kiến phương Bắc và gần 100 năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc Pháp; là chiến trường ròng rã hơn 20 năm bởi âm mưu, thủ đoạn, toan tính và dã tâm xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Pháp, thực dân Mỹ và bè lũ tay sai. Càng thấm thía nỗi đau của chiến tranh, chúng ta càng hiểu sâu sắc hơn giá trị vĩnh cửu của Cách mạng tháng Tám và nền độc lập, tự do mà cuộc cách mạng vĩ đại ấy mang lại; trân trọng hơn cuộc sống hòa bình, tự do, độc lập, dân chủ, công bằng, văn minh mà cả dân tộc ta phải đánh đổi bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt của bao thế hệ cha anh đi trước. Chúng ta càng thấu hiểu sự hy sinh, công lao to lớn của Đảng, Bác Hồ và các thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân đã dày công xây dựng, vun đắp và bảo vệ đất nước.

Tuy vậy, vì những mưu đồ đen tối, không ít kẻ bán rẻ lương tri, ngụy tạo mọi lý lẽ hòng phủ nhận giá trị vĩnh cửu của cuộc Cách mạng tháng Tám; làm cơ sở để tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Trước đây, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị rêu rao luận điệu “Cách mạng tháng Tám chỉ là một cuộc cách mạng ăn may”. Nhưng những lập luận thù địch của chúng chỉ “lóe lên” rồi “tắt ngẫm”. Không thể phủ nhận giá trị, chúng quay sang phá hoại thành quả cách mạng tháng Tám bằng cách hộ hào “Đa nguyên đa đảng”, kêu gọi “bạo loạn lật đổ”, “xuống đường”…; ngụy tạo các dẫn chứng bằng công nghệ cao để lừa bịp, mị dân, lừa gạt nhân dân trong nước và dư luận quốc tế; khoét sâu sai trái của một số cán bộ, đảng viên suy thoái để quy chụp cho cả hệ thống chính trị, phủ nhận trí tuệ, tâm huyết của hàng triệu cán bộ, đảng viên đang ngày đêm góp công, góp sức xây dựng đất nước.

Càng trơ trẽn hơn khi chúng tìm đủ mọi thủ đoạn lợi dụng lòng yêu nước vốn quý của nhân dân phục vụ cho mưu đồ chính trị đen tối; biến một bộ phận nhân dân, nhất là thế hệ trẻ chưa hiểu biết, nhận rõ dã tâm của chúng làm “lá chắn” cho các “chiến dịch phá hoại” được bọn phản động lưu vong và các tổ chức trá hình đứng đằng sau đạo diễn. Chúng lợi dụng sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ truyền thông, mạng xã hội để lan truyền, tán phát nhanh chóng luận điệu của cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền”, “yêu nước”; tạo ra sự hư ảo, lung lạc nhận thức tư tưởng đối với người nghe, xem. Điều đặc biệt nguy hại khi các hoạt động giả danh dân chủ, nhân quyền, yêu nước đã được một số cơ quan truyền thông, tổ chức nước ngoài, khuyến khích, tài trợ và được một số nhân vật chống cộng cực đoan ở các quốc gia cổ xúy, nuôi dưỡng. Đích cuối cùng mà các tổ chức phản động hướng đến là tạo cớ “hô hào” gây ra “bạo loạn chính trị” theo mô hình “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu” mà chúng đã thành công ở một số quốc gia trên thế giới.

Thực chất, đây là những việc làm phản đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, nhân dân và xu thế tiến bộ của thời đại trên mọi khía cạnh. Đây là âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch cần phải được Đảng, Nhà nước và Nhân dân vạch trần, đấu tranh, loại bỏ.

Lan tỏa hào khí và những giá trị vĩnh cửu của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng thời tự trang bị cho mình “sức đề kháng” để “miễn dịch” trước những thủ đoạn chống phá vô cùng tinh vi của các thế lực thù địch; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; giữ vững niềm tin vào Đảng, chế độ và sự nghiệp đổi mới của đất nước… Đó là cách để vô hiệu hóa mọi hành động phá hoại điên cuồng của các thế lực thù địch, để thực hiện lời thề thiêng liêng của mùa thu năm 1945 lịch sử: “… Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do, độc lập ấy” trong giai đoạn hiện nay.

Không thể xem nhẹ mối nguy hại của chủ nghĩa cá nhân

 

Chủ nghĩa cá nhân (CNCN) là căn bệnh đặc biệt nguy hại, thế nhưng hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện xem nhẹ, thiếu ý thức trách nhiệm trong phòng vệ, đấu tranh. Thậm chí, nhiều nơi vẫn còn biểu hiện xô lệch và sai lệch trong nhận thức, tổ chức thực thi nhiệm vụ “đánh giặc từ bên trong” như chỉ lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời.

CNCN có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng vậy. CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với lối nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông qua tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham muốn quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể).

CNCN hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều mặt tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết, có thể gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”-điều đó tạo ra bản sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết lý “tôi là nhất” của CNCN.

Khác nhau là vậy, nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao cá tính một cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản thân thì bấy giờ cá tính đã trở thành CNCN. Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt (đó là cá tính đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc, vi phạm dân chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ trượt chân ngã vào CNCN. Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê bình là tốt, nhưng nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh em để tự suy tôn, ngợi ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn hơn là việc phê bình không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành “câu chuyện làm quà” thì khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy...

 Ngược lại, CNCN thường được “ngụy trang” trong dáng dấp của cá tính. Nhiều người vẫn nhầm tưởng, thậm chí là bày tỏ sự tôn trọng bởi một số cán bộ, đảng viên dám sống đúng với cá tính của mình; thế nhưng, nếu không biết phân tường đúng đắn thì phía sau cá tính đáng quý ấy của một ai đó rất có thể là một bức tranh đen đặc CNCN.

Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình, hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản trung kiên, mực thước. Thế nhưng, đáng buồn là nhiều cán bộ tự phong cho mình sự hoàn hảo, rồi bỏ ngoài tai tất cả những góp ý chân tình, đúng đắn của tập thể, đồng đội và quần chúng.

Cùng với đó, hiện nay tâm lý tập thể, tâm lý cộng đồng ở nhiều nơi, kể cả trong nội bộ tổ chức đảng, vẫn còn nặng biểu hiện “dĩ hòa vi quý”. Cả trong cuộc sống, công tác, cả ở hội nghị, hay những dịp đánh giá cán bộ theo định kỳ hoặc đột xuất, mọi người vẫn thường xem nhẹ việc chỉ trích và phê bình, hầu như chỉ bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, bỏ qua cho nhau những sai lệch, yếu khuyết từ nhỏ, thậm chí không nhỏ. Thành thử, đến cuối năm, cán bộ nào cũng tốt, đảng viên nào cũng hoàn thành nhiệm vụ và những yếu kém dần bị xem nhẹ, được “bỏ qua” một cách hiển nhiên theo kiểu: “Biến to thành nhỏ, biến nhỏ thành không”. Đó là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tích tụ các khuyết điểm nhỏ thành sai lầm lớn rồi hình thành, kết nên CNCN ở cán bộ, đảng viên.

Thực tế cho thấy, trong hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật buộc phải xử lý, trong số rất nhiều vụ đại án tham nhũng, tiêu cực, thì nguyên nhân sơ khai ban đầu đều xuất phát từ căn bệnh CNCN ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thậm chí, hiện nay căn bệnh này đang diễn tiến phức tạp, quy mô ngày càng lớn, mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng. Ấy thế nhưng, công bằng mà nói, ở nhiều nơi, việc chống CNCN chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hô hào, nặng hình thức, kết quả thiếu thực chất và chưa đạt như mong muốn.

Nên nhớ, CNCN chỉ hình thành, tồn tại và “ký sinh” như ung nhọt trong cơ thể, nhân phẩm mỗi con người cụ thể. Do đó, chống CNCN trước hết thuộc trách nhiệm của mỗi cá nhân, giống như mỗi người phải có trách nhiệm chăm lo sức khỏe bản thân, làm cho đời sống tinh thần trở nên sạch sẽ, lành mạnh.

Để làm được điều đó, đòi hỏi qua từng ngày, từng tuần, từng việc làm, hoạt động cụ thể, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ trách nhiệm “tự soi” lại mình để nghiêm khắc, kiên trì “tự sửa” như đánh răng, rửa mặt hằng ngày. Đừng một ai tự cho mình là hoàn hảo; đừng bất chấp thực hành những việc chỉ có lợi cho mình, lại có hại cho người khác hoặc tổ chức. Mỗi cán bộ, đảng viên cần biết cách "định vị lại", "cấu trúc lại" và thường xuyên điều chỉnh cách sống, cách làm theo hệ giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng. Bất cứ khi nào có chuyện khác biệt, rơi vào tình huống có vấn đề, từng người không nên cố gắng tìm những lý do bên ngoài. Thay vào đó, hãy cố gắng tìm trong bản thân xem mình làm điều đó đúng hay sai; có gây tổn hại gì đến người khác không? Có làm điều gì đó trái với luân thường, đạo lý hay không? Có tuân theo các nguyên tắc phổ quát về chân, thiện, mỹ? Một khi, mỗi cán bộ, đảng viên đều nhất quán quyết tâm tự làm mới, tự hoàn thiện bản thân bằng thực tiễn cách mạng thì chắc chắn CNCN sẽ được ngăn chặn, đẩy lùi.

Đối với tổ chức, ở mọi cấp, mọi ngành cần nhất quán quyết tâm chính trị rất cao để nhận diện, đẩy lùi CNCN trong nội bộ. Tất nhiên, nhận diện CNCN không phải chuyện giản đơn, do đó, các cấp cần có chủ trương phát huy tinh thần tự giác, đề cao trách nhiệm của từng thành viên trong tập thể; đồng thời phải có cơ chế để giám sát, có chế tài để xử phạt, xử lý một cách nghiêm khắc, triệt để.

Với tinh thần đó, từng cán bộ, đảng viên phải có thái độ tích cực, quyết liệt, không khoan nhượng trong nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn các dấu hiệu, biểu hiện CNCN của đồng chí, đồng nghiệp, nhất là người đứng đầu. Việc nhận diện CNCN cần được vận hành trên cả 5 thành tố: Tư tưởng, chính trị, tổ chức, đạo đức, cán bộ; nhận diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trước hết là các khu vực liên quan đến lợi ích kinh tế, tài chính, cán bộ và chính sách; trên cả phẩm chất, năng lực cán bộ, mà trước hết là khí chất, tính cách, tư cách, lối sống, cách sống của cán bộ, đảng viên./.

LUẬN ĐIỆU “QUÂN ĐỘI KHÔNG CẦN THỰC HIỆN MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” - ĐÒN ĐÁNH NHAM HIỂM NHẰM LÀM SUY YẾU QUÂN ĐỘI TỪ GỐC

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: "Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”.

Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị.

Thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ.

Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội"(!).

Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay. 

Nhận diện âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc thông qua việc kích động kỳ thị dân tộc

Kỳ thị thường gắn liền với phân biệt đối xử. Kỳ thị, phân biệt đối xử là một khái niệm giao thoa giữa chính trị - văn hóa và xã hội. Kỳ thị dân tộc, chủng tộc là sự nhìn nhận, đánh giá làm giảm giá trị đối với một một dân tộc, một chủng tộc từ một quan niệm chính trị, văn hóa hoặc xã hội nào đó.

Ở Việt Nam, kể từ khi bắt đầu xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách chia để trị và chia cắt nước ta thành ba miền (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những chính sách khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và kinh tế nhằm tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa ba miền với âm mưu chia cắt vĩnh viễn. Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai cũng từng thực hiện chiến lược chia cắt lâu dài hai miền Nam, Bắc hòng tiến đến xóa bỏ chế độ xã hội XHCN và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Khi chủ nghĩa thực dân cũ và mới bị đánh đổ tại Việt Nam, tàn dư của tư tưởng kỳ thị, phân biệt đối xử dân tộc, chủng tộc đã không còn hiện hữu nữa. Nhưng nhen nhóm sự kỳ thị dân tộc vẫn được các thế lực thù địch tuyên truyền, kích động hướng đến tư tưởng dân tộc cực đoan trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hòng làm rạn nứt, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và bạo loạn, lật đổ, đưa dân tộc ta sang con đường lệ thuộc nước ngoài.

Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cho thấy, các thế lực thù địch triệt để sử dụng con bài kỳ thị chủng tộc đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan để đòi quyền dân tộc tự quyết. Các thế lực thù địch không chỉ áp dụng thủ đoạn này đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc trong vấn đề Tây Tạng, Nam Tư trong vấn đề Kosovo...

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc điểm riêng mà nhiều quốc gia khác không có. Với 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc rất khác nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái... nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như Pu Péo, Rơ-măm, Brâu... Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư. Các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Khác với nhiều quốc gia đa dân tộc, các dân tộc thiểu số Việt Nam không có khu vực lãnh thổ riêng mà sống xen kẽ với nhau.

Trọng tâm hoạt động kích động kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc của các thế lực thù địch hướng đến các địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, vùng có đông đồng bào theo đạo. Để kích động, chia rẽ người Kinh với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch đã sử dụng tổ chức FULRO tuyên truyền, xuyên tạc rằng “Tây Nguyên là của người Thượng”, “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”...

Ở Tây Bắc, chúng dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông” để làm cái cớ chia rẽ đồng bào các dân tộc anh em. Chúng vận động đồng bào người Mông về “một miền đất hứa” mọi người sẽ được “ban sức khỏe, hạnh phúc, không làm cũng có ăn, sự giàu sang và phú quý”; “những người Mông đến đây sẽ được chúa trời giáng trần cứu thế”… Từ đó, chúng lôi kéo người dân tụ tập, kích động phá rối gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Ở Tây Nam Bộ, chúng tập trung tuyên truyền tư tưởng “ly khai tự trị”, đòi thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm độc lập”. Lợi dụng tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề dân sinh, dân chủ để kích động, tập hợp lực lượng, móc nối lôi kéo, tạo dựng ngọn cờ, thực hiện ý đồ biểu tình, bạo loạn lật đổ; lừa bịp, xúi giục người vượt biên, gây sức ép xin tổ chức UNHCR lập trại tỵ nạn; vu cáo, xuyên tạc Việt Nam có kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, vi phạm dân chủ, nhân quyền. Âm mưu trước mắt và lâu dài của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị để “quốc tế hóa” vấn đề “Khơme Krôm”, thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm tự trị”...

Ngày nay, việc cấm phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, sắc tộc đã được quy định trong nhiều điều ước quốc tế và tạo thành yếu tố quan trọng trong pháp luật của nhiều quốc gia. Trong đó, quan trọng nhất là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, có hiệu lực từ năm 1969 và đến nay đã được 170 nước trên thế giới phê chuẩn. Tại Việt Nam, với chính sách và pháp luật thể hiện tinh thần tiến bộ, bình đẳng, công bằng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở cả trên bình diện quốc tế và quốc gia.

Ngày 9/6/1981, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), với bốn lần đệ trình báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 và 2012. Đặc biệt, Ủy ban Dân tộc đảm nhận là cơ quan đầu mối phụ trách Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc và chuẩn bị Báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số như: Xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội… Trong đó, nhấn mạnh đến những thành tựu trong việc đảm bảo quyền cho người dân tộc thiểu số như: Hệ thống pháp luật, các quy định đảm bảo quyền con người, các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội...

Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã luôn chứng tỏ với cộng đồng quốc tế là một dân tộc có truyền thống lịch sử lâu đời về tinh thần đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, các nguyên tắc và quy định về bình đẳng và không phân biệt chủng tộc liên quan đến thành phần dân tộc không những được ghi trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật, văn bản dưới luật khác có liên quan và được triển khai thực hiện trong thực tiễn, thông qua nhiều chính sách, chương trình quốc gia, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm DTTS có điều kiện phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Cụ thể như, công dân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số sẽ được hưởng các các chính sách ưu đãi về giáo dục, y tế, đào tạo nghề, việc làm, đất đai, nhà ở, tín dụng, hỗ trợ sản xuất... Ngoài ra, còn được hưởng các dự án đầu tư trực tiếp như xây dựng điểm tái định cư tập trung do nhà nước đầu tư toàn bộ hạ tầng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã thể hiện mạnh mẽ quyết tâm cùng với cộng đồng quốc tế trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bài ngoại và các hình thức phân biệt chủng tộc khác.

Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch với chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc là rất tinh vi, thâm độc, hành động quyết liệt, trắng trợn; đối tượng đa dạng, phức tạp, mục đích không thay đổi, hậu quả khó lường. Dù những âm mưu và hành động trên đã bị phát hiện và đấu tranh ngăn chặn kịp thời nhưng các thế lực thù địch không từ bỏ, vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, các tổ chức và công dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, phát huy trách nhiệm của bản thântrong phòng tránh, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của chúng.

Các cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện các giải pháp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, góp phần xóa bỏ đi tư tưởng kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Yêu cầu, giải pháp xây dựng Đảng về văn hóa và đạo đức

 

Trong suốt chiều dài lịch sử Đảng, cùng với việc chú trọng xây dựng nền văn hóa có tính chất “dân tộc, khoa học, đại chúng”; “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, tuy chưa có nghị quyết riêng xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức hay xây dựng văn hóa, đạo đức trong Đảng nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã quan tâm tới nội dung này. Trong nhiều bài viết của Hồ Chí Minh hay nghị quyết của Đảng về xây dựng văn hóa, xây dựng Đảng, đều dành một phần để bàn về xây dựng văn hóa trong Đảng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có nhân cách văn hóa.

Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu, nhất quán vấn đề đạo đức. Bắt đầu sự nghiệp cách mạng, Người bắt đầu giáo dục lý tưởng cách mạng và đạo đức cách mạng cho thanh niên, quần chúng nhân dân, chủ yếu là cho cán bộ và đảng viên. Người coi đạo đức như nguồn của sông, gốc của cây, bốn mùa của thiên nhiên, thiếu một đức thì không thành người. Cán bộ, đảng viên lại càng cần đạo đức, vì “những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

Các nghị quyết của Đảng, đặc biệt người đứng đầu Đảng ta nhiều lần khẳng định cán bộ, đảng viên nếu không tránh xa mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài thì rất dễ rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, tệ hại. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đảng ta đặt trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách; chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đề cao sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Có thể khẳng định, trong sự nghiệp đổi mới, sự bổ sung, phát triển của Đảng ta về văn hóa, đạo đức trong xây dựng Đảng đã tạo ra một tiền đề cơ bản để chúng ta quán triệt và tổ chức triển khai trong thực tế việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về văn hóa, về đạo đức, coi đạo đức và văn hóa là những mục tiêu quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nhờ chú trọng xây dựng văn hóa, đạo đức trong Đảng mà qua hơn 35 năm đổi mới - như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, được ghi trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng - đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Yêu cầu xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức còn do thực tế văn hóa và đạo đức trong Đảng những năm qua - bên cạnh những thành tựu như đã nêu - còn nhiều hạn chế, khuyết điểm đáng quan ngại. Qua hơn 35 năm đổi mới, chưa bao giờ Đảng và nhân dân ta bị tổn thất lớn về đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược ở vị trí Ủy viên Bộ Chính trị, các tướng lĩnh trong Quân đội và Công an nhân dân như những năm qua. Sự xuống cấp về văn hóa và đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Các Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII và XIII đều chỉ ra tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào một số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.

Dưới góc độ văn hóa đạo đức, văn hóa bổn phận, văn hóa tự phê bình và phê bình và nhân cách văn hóa, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh nguy hại nhất là một bộ phận cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước những bức xúc của nhân dân... Những biểu hiện đó không còn dừng lại ở tham nhũng, không chỉ là vấn đề kinh tế mà là sự tha hóa về văn hóa, vô văn hóa, phản văn hóa như nhấn mạnh của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Có thể nói, những năm qua chúng ta chưa thật sự chú ý, hoặc có chú ý nhưng chưa được xác định đúng tầm vai trò của văn hóa, đạo đức trong xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng ta chưa có một nghị quyết riêng xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức. Những bất cập đó chậm được giải quyết mặc dù đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng. Sự xuống cấp về văn hóa, đạo đức ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, cả cán bộ cấp chiến lược, lãnh đạo, quản lý đứng đầu, gây hệ lụy tác động tiêu cực đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát triển kinh tế - xã hội, đến xây dựng con người và môi trường văn hóa, đặc biệt làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, mà “để mất niềm tin là mất tất cả”.

Để xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức, trước hết, tiếp tục giáo dục và tự giáo dục để nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa và đạo đức trong xây dựng Đảng. Thông qua nhiều cách thức, hình thức, biện pháp khác nhau, Đảng phải tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên hiểu thấu ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hóa nói chung, văn hóa, đạo đức trong xây dựng Đảng nói riêng. Đảng phải giáo dục cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện để đề ra các giải pháp phù hợp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về văn hóa, đạo đức trong Đảng.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm công bộc, phục vụ Tổ quốc và nhân dân. Nói về văn hóa, yếu tố tự giác là cực kỳ quan trọng. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu phải tự nhận thấy mình cần phải làm gì, tự mình phải tu thân, chính tâm, không chờ tổ chức, chờ Đảng thúc giục.

Cách mạng là hành động tự giác. Tự giáo dục phải làm thường xuyên như chuyện rửa mặt hằng ngày, vì một ngày không tự soi tự sửa rất dễ đi tới cái ác, làm bậy, hư hỏng. Đồng thời, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thứ hai, xét lại những văn kiện, nghị quyết liên quan đến xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức. Phải làm theo lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh: “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những chỉ thị và nghị quyết đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”. Đảng chưa có nghị quyết riêng về văn hóa, đạo đức trong xây dựng Đảng, nhưng các nghị quyết, chỉ thị về văn hóa, đặc biệt là các nghị quyết trung ương về xây dựng Đảng, ở các mức độ khác nhau đều đề cập đến văn hóa và đạo đức. Mỗi một lần ra nghị quyết Đảng phải có thái độ nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, kiên quyết bằng mọi cách tìm ra nguyên nhân bệnh để ngăn ngừa, chữa trị tận gốc sự tha hóa về văn hóa, đạo đức.

Thứ ba, cần có một nghị quyết chuyên đề xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức. Câu nói sâu sắc, ngắn gọn của Hồ Chí Minh “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, “văn hóa lãnh đạo quốc dân” mà Tổng Bí thư nhắc lại hàm chứa nhiều nội dung, ý nghĩa, nhưng quan trọng nhất là nói tới văn hóa chính trị, văn hóa Đảng, xây dựng Đảng về đạo đức, văn hóa.

Văn hóa chính trị, văn hóa Đảng có sứ mệnh soi đường cho quốc dân đi, lãnh đạo quốc dân không thể chỉ đề cập ngắn gọn trong nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người nói chung, trong các nghị quyết xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà cần có một nghị quyết riêng. Đây là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng mà nếu thực hiện được chắc chắn sẽ góp phần to lớn vào nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao tầm lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng./.

Cần nhận rõ “dân chủ”, “nhân quyền” là mũi tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta

Đã từ lâu, vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” luôn được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Vì vậy, nhận rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh bác bỏ các luận điệu vu cáo, xuyên tạc, làm thất bại mưu đồ nham hiểm, thâm độc của chúng là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết. Sau thành công của những xung đột chính trị nhằm lật đổ chế độ chính trị ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi bằng các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng cam”, “cách mạng đường phố”,… các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn, trong đó có chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”. Họ cho rằng, học thuyết “dân chủ”, “nhân quyền” cần áp dụng với Việt Nam là: xóa bỏ nền tảng tư tưởng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản. Đây là một trong những mũi tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch thông qua các luận điệu xuyên tạc, hòng bóp méo sự thật, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân chủ, nhân quyền. Mục đích của các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tuyên truyền, xuyên tạc làm rối loạn tình hình chính trị ở Việt Nam, v.v. Những phương thức cụ thể mà họ vẫn thường sử dụng là: lợi dụng danh nghĩa “nhà dân chủ”, “đấu tranh vì nhân quyền” để xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng vấn đề chống tham nhũng, những hạn chế trong quản lý xã hội của chính quyền cơ sở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn với chế độ đẩy mạnh các hoạt động gây rối, biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác, họ chủ động tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân thông qua những chiêu trò, như: “hỗ trợ kinh phí để thực hiện việc khiếu kiện”; hỗ trợ nhân đạo kèm theo những điều kiện bắt buộc như tham gia các hội, nhóm, diễn đàn, hội thảo; lợi dụng sai phạm của một số cán bộ, đảng viên để đánh đồng, quy chụp thành bản chất, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp, từng bước hạ thấp làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ. Cùng với đó, họ ra sức tuyên truyền, cổ xúy, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản phương Tây, tuyệt đối hóa tính toàn cầu, tính phổ cập của quyền con người với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích quốc gia, dân tộc”; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, tự do tôn giáo, v.v. Đặc biệt, chúng đẩy mạnh các “chiến dịch” phá hoại tư tưởng, hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế khi chúng ta đăng cai tổ chức những sự kiện chính trị quan trọng hay tham gia các hội nghị, diễn đàn đa phương, song phương, nhất là của Liên hợp quốc. Các thế lực thù địch còn lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Một số tổ chức, cá nhân còn tìm cách gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ với Việt Nam, đòi Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, dân chủ và pháp luật theo kiểu phương Tây. Họ gây sức ép, buộc Việt Nam phải có những tiến bộ cụ thể về dân chủ, nhân quyền, phải đưa ra các lộ trình cụ thể trong thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, v.v. Các đối tượng này còn gửi thư, bản kiến nghị tới một số quốc gia, tổ chức quốc tế để phản đối việc cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ, xét xử các phần tử lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để vi phạm pháp luật, đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”; đồng thời, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người bất đồng chính kiến, người yêu nước, từ đó kêu gọi sự can thiệp của cộng đồng quốc tế. Ngoài ra, họ còn sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để thúc đẩy, hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập, thúc đẩy sự ra đời của các khuynh hướng dân chủ cực đoan, phát triển “xã hội dân sự”,… để chống phá từ bên trong với lý lẽ cho rằng, chế độ độc đảng ở Việt Nam là trở ngại lớn nhất trong tiến trình dân chủ hóa, muốn có dân chủ thực sự thì Việt Nam phải xóa bỏ chế độ độc đảng.

CẦN NHỮNG TIẾNG SÚNG LỆNH!


Liên Xô hùng mạnh, to lớn gần như bất khả chiến bại trước súng đạn của kẻ thù. Nhưng đã đổ gục vì sự phá hoại tư tưởng ghê gớm của những kẻ trở cờ, phản bội, suy thoái. Chúng ngấm ngầm như những con vi trùng, ri rút, âm thầm gieo rắc bệnh tật và công khai phát tác như ung thư giai đoạn cuối, khi đã hoàn toàn đánh gục "hệ miễn dịch" của cơ thể.
Những kẻ cơ hội chính trị; năng lực, trình độ, phẩm chất yếu kém, đạo đức suy đồi, thậm chí suy thoái về tư tưởng chính trị, phản bội... nhờ sự gian manh, khéo luồn lách đã chui vào các vị trí quan trọng, lĩnh vực có sức ảnh hưởng xã hội lớn như: báo chí, giáo dục, văn hóa nghệ thuật... Chúng như những loài vi trùng, vi rút, ngấm ngầm phá hoại, "rút gạch", "đổ nước chân tường"; tấn công vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; sử dụng chính "năng lượng", "sức mạnh" từ cơ thể của chế độ để phát tác bệnh tật, tấn công, phá hoại, loại bỏ hệ miễn dịch của chế độ XHCN.
Hãy nhìn thẳng vào những "khối u", những vết thương lở loét, nhức nhối trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của chúng ta hiện nay, khi: bọn cơ hội, suy thoái tư tưởng chính trị, trở cờ, phản bội ngày càng lộng hành; báo bẩn, báo láo, báo lá cải tác quái; chủ nghĩa "xét lại" ngóc đầu lên mạnh mẽ... đã làm cho "trắng đen lẫn lộn", "chính tà bất minh"! Kẻ sỹ, những người kiên trung thì như lạc vào ma trận, không thấy rõ phương hướng; bọn gian tà thì ẩn hiện phá hoại, nhởn nhơ, dương dương tự đắc!...
Chúng tôi với sự tin yêu, biết ơn Đảng, chế độ XHCN, thực tâm mong muốn sẽ có một sự thay đổi quyết liệt từ Trung ương trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; cần nhìn nhận, đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng của các mối đe dọa; đưa ra các biện pháp đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt, khéo léo! Hãy nổ những phát súng lệnh quy tụ sức mạnh, sức đề kháng của toàn Đảng, toàn xã hội - Nhân dân chúng tôi luôn tin tưởng và đồng hành, ủng hộ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng!
ST
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'Tổng Bí thư NGUYỄN PHÚ TRỌNG gần đây đã đúc kết và cảnh báo nhiều lần: Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lái số‘ng dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóá" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, CƠ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dãn tộc.'