Thứ Hai, 7 tháng 11, 2022

Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 Trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay, bảo vệ, đấu tranh phản bác, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” hướng lái, xóa bỏ CNXH và con đường đi lên CNXH là nội dung cơ bản, qua đó khẳng tính khoa học, cách mạng, củng cố niềm tin, sự kiên định tư tưởng, hành động vào con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị, không chỉ xoay quanh những vấn đề lý luận cốt lõi nhất mà còn gắn với thực tiễn, nhất là những biến động của đời sống xã hội. Vậy nên, ngay từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lênin đã phải đấu tranh liên tục, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch núp dưới mọi hình thức của các thế lực đối lập. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăngghen đã nói đến sự lo sợ của giai cấp tư sản về chủ nghĩa cộng sản như “bóng ma ám ảnh châu Âu” và sự liên kết chống phá quyết liệt của chúng. Trong khói lửa của cuộc nội chiến có sự tham gia can thiệp của 14 nước đế quốc hòng bóp chết nhà nước vô sản Nga non trẻ đầu tiên trên thế giới, V.I.Lênin đã khẳng định một vấn đề có tính quy luật là: Một cuộc cách mạng không biết tự vệ mình là cuộc cách mạng tự sát. Theo tư tưởng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong tất các các giai đoạn phát triển, các thế hệ cách mạng trên toàn thế giới đều phải kiên quyết, kiên trì, không ngừng đấu tranh bảo vệ sự nghiệp cách mạng chân chính của giai cấp, của dân tộc, trong đó có cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận bảo vệ mục tiêu, con đường đi lên CNXH.

 Đảng ta, ngay từ khi ra đời đã xác định đúng đắn và đấu tranh kiên quyết bảo vệ đường lối, chống lại các tư tưởng tả khuynh, hữu khuynh trong các lĩnh vực lý luận, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật…. Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong lịch sử của Đảng đã góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng trong mỗi thời kỳ. Đồng thời, đấu tranh về tư tưởng, lý luận cũng đã góp phần phát triển các quan điểm lý luận đúng đắn, tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội, góp phần nâng cao trình độ, nhận thức lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

 Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hơn 35 năm qua, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận về CNXH, con đường đi lên CNXH của Đảng ta diễn ra trong bối cảnh và yêu cầu mới, mang tính phức tạp và quyết liệt hơn. Sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của CNXH ở một loạt các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu là cái cớ để các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tung ra các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận sự đúng đắn, khách quan của CNXH trên toàn thế giới với tư cách là một học thuyết, một chế độ xã hội, đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá CNXH. Sự kiên định nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trên con đường dân tộc, nhân dân ta đi tới là đề tài để các thế lực thù địch bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận bằng đủ các luận điệu sai trái, thù địch khác nhau. Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của truyền thông xã hội, internet toàn cầu, những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường, những vấn đề nóng bỏng trước những tác động của an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống, tác động tiêu cực của tình hình thế giới đến đời sống xã hội như: Xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc, dân túy, tự do mới, dịch bệnh…, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động tăng cường hoạt động với những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch chống phá này, thể hiện ở số vấn đề sau đây:

 Thứ nhất, xuyên tạc giá trị, tính khoa học, cách mạng của học thuyết Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng về CNXH. Những chiêu bài mà chúng đang sử dụng không mới, nhưng hết sức tinh vi và thâm độc, tập trung vào việc đưa ra những lập luận, tuyên truyền, cổ vũ từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, làm lung lay, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của ĐảngĐể phủ định học thuyết Mác - Lênin, các thế lực thù địch cho rằng, học thuyết Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX và phù hợp trong một chừng mực nào đó với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phương Tây thời đó. Lý luận này không còn phù hợp với thế kỷ XX và đặc biệt trong điều kiện ngày nay càng không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Từ đó, họ tuyên truyền xuyên tạc, rêu rao: chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không phù hợp ở Việt Nam và cần loại bỏ. Gần đây, trước những khó khăn về kinh tế, xã hội của đất nước, họ tuyên truyền luận điệu: Việt Nam đang không chỉ bế tắc về kinh tế mà còn bế tắc cả về tinh thần; và rằng, không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa. Họ cho rằng, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác chỉ là một mớ lý thuyết suông về một chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được. Do vậy, sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô, Đông Âu và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự cáo chung đã được báo trước.

 Thứ haixuyên tạc CHXH, mục tiêu, lý tưởng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Với cách diễn đạt trực diện tấn công: “Vì sao đến giờ này mà Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn kiên định CNXH, mục tiêu, con đường đi lên CNXH”. Họ cho rằng: ai cũng thấy là CNXH đã ở vào giờ thứ 25 trên phạm vi toàn cầu, việc thực hiện CNXH tại Việt Nam đã hoàn toàn thất bại sau 10 năm (1975 - 1985) thực hiện triệt để dù cố gắng “đổi mới” 10 năm sau đó (1985 - 1995) theo gương “cải tổ” của Liên Xô vẫn không cứu vãn được. Chúng xuyên tạc: Để được cứu nguy, tránh sự sụp đổ như Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, đạt được nhiều thành tựu như hiện nay, thực tế Việt Nam đã thực hiện “kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa”, nhờ đó, Việt Nam mới phát triển nhiều mặt để có bộ mặt phồn vinh như hôm nay về kinh tế, đời sống người dân ngày một được cải thiện và nâng cao, chứ không phải kinh tế thị trường định hướng XHCN…

 Thứ ba, đưa ra các kiến nghị nhiều hình thức, như “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý” kiến nghị vào những dịp Đại hội Đảng, sửa đổi Hiến pháp…, cho rằng đó là thời cơ để đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng dân chủ, “xã hội dân sự”. Thực chất, ẩn khuất đằng sau những góp ý này là ý đồ xóa bỏ, lật đổ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng, chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường đi lên CNXH.

 Thứ tưquan điểm, luận điệu lợi dụng vào những khó khăn tồn tại, hạn chế, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất của CNXH, là kết quả mang lại do đi theo con đường CNXH. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, còn có những hạn chế, yếu kém, thiếu sót, sơ hở trong đời sống về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tình trạng tham nhũng, lãng phí, ô nhiễm môi trường… Các thế lực thù địch lợi dụng để suy diễn, diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau, xuyên tạc, quy chụp rằng đó là bản chất của CNXH, kết quả do con đường đi lên CNXH mang lại…; làm cho những người không có nền tảng tư tưởng chính trị vững vàng dễ bị lầm tưởng, hồ nghi, hoang mang, dao động, thậm chí xét lại, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị.

ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN TƯ TƯƠNG LÝ LUẬN LÀ MỘT TRONG NHỮNG NỘI DUNG QUAN TRỌNG TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG Đấu tranh tư tưởng, lý luận là một nội dung cơ bản của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc; là đấu tranh giữa tư tưởng, lý luận vô sản và tư tưởng, lý luận phi vô sản. Cuộc đấu tranh này luôn diễn ra quyết liệt, phức tạp và liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Những tác động của tình hình thế giới, khu vực, của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tiêu cực bởi mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; những hạn chế trong “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”, dẫn đến sự xuất hiện các quan điểm, nhận thức khác nhau về con đường đi lên CNXH ở nước ta, thậm chí là sai trái, lệch lạc với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc. Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận, vì thế không chỉ là tất yếu, mà đã trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, Đảng yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. ...Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đưòng đi lên CNXH ở Việt Nam”. Theo đó, trên mặt trận tư tưởng, lý luận phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, khắc phục những nhận thức lệch lạc; đồng thời, tích cực bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, chủ động định hướng giá trị đúng đắn đối với sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam. Công tác tư tưởng phải tạo được sự nhận thức đúng đắn, thống nhất về vị trí, vai trò của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận; trên cơ sở đó, thấy rõ trách nhiệm của từng địa phương, cơ quan, đơn vị trong cuộc đấu tranh trên mặt trận nóng bỏng này. Cụ thể là: Thứ nhất, cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng, lý luận; nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng loại hình tổ chức đảng để xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong đấu tranh tư tưởng, lý luận; phải thường xuyên chăm lo lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, làm cho cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, quan điểm của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của dân tộc. Thứ hai, tăng cường, nâng cao hơn nữa tính hiệu quả của các Ban chỉ đạo 35; tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 14 của Ban Bí thư về thực hiện Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 105 của Ban Tuyên giáo Trung ương về công tác lý luận chính trị. Ban chỉ đạo 35 các cấp cần thường xuyên được củng cố, kiện toàn về tổ chức, nâng cao trách nhiệm của các thành viên; tăng cường công tác kiểm tra của Ban chỉ đạo, cấp ủy cấp trên đối với Ban chỉ đạo, cấp ủy cấp dưới về tổ chức thực hiện nhiệm vụ đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Ban chỉ đạo 35 của Trung ương cần chỉ đạo thường xuyên, tạo sự thống nhất giữa các bộ, ban, ngành và lực lượng tham gia đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận; định hướng kịp thời trước những vấn đề nảy sinh tác động đến dư luận, tâm trạng xã hội... Thứ ba, cấp ủy và chính quyền các cấp cần ban hành các quy định, quy chế phối hợp giữa các bộ, ban, ngành của Đảng, Nhà nước có liên quan, trực tiếp là các lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình, văn hoá, văn nghệ, xuất bản, đối ngoại, an ninh... ở cả Trung ương và địa phương trong nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch; trao đổi thông tin, dự báo đánh giá tình hình, đào tạo bồi dưỡng cán bộ và tổ chức phối hợp đấu tranh. Việc phối hợp đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận cần được cụ thể hóa thành các quy chế, chương trình, kế hoạch phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan làm công tác tư tưởng, lý luận với tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở. Thứ tư, coi trọng việc giáo dục, động viên, phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, tạo nên lực lượng đông đảo, rộng khắp. Thực hiện tốt quan điểm: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân”. Thực tiễn luôn vận động, phát triển, theo đó lý luận cũng luôn phát triển với những nội dung mới. Mặt khác, các thế lực thù địch luôn tìm cách đưa ra những chiêu thức mới, những luận điệu và cách thức chống phá mới. Vì thế mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên được giáo dục, cập nhật tình hình. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và các tổ chức quần chúng thường xuyên quan tâm định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội, góp phần đấu tranh vạch trần các quan điểm sai trái, thù địch. Đây không chỉ là sự quán triệt và cụ thể hóa quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chính trị - tư tưởng, mà còn là một yêu cầu cơ bản của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ AN NINH TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh tư tưởng trong giai đoạn hiện nay, các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và các cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau: Thứ nhất, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về công tác bảo vệ an ninh tư tưởng Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, đặc biệt là trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận thức đúng về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; nhiệm vụ, nội dung của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng, nhận diện chính xác những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Trọng tâm của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng hiện nay là phải đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; làm rõ những cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò quản lý, điều hành của chính quyền, vai trò tham mưu của cơ quan các cấp đối với công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch. Các cấp ủy cần tập trung xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xác định mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh tư tưởng đúng đắn, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ, công tác tổ chức, cán bộ; phòng, chống nội gián, bảo vệ an ninh quốc gia. Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy các cấp trong phát hiện, xử lý những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cơ hội chính trị; giải quyết triệt để các vấn đề nảy sinh; phòng ngừa, ngăn chặn sự can thiệp, móc nối của các thế lực thù địch. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội theo đúng quy định. Thứ ba, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng cường “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị trong hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo, phát triển của Đảng. Tiếp tục nghiên cứu, khẳng định và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; làm rõ các vấn đề cần bổ sung, phát triển; nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và sự bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với những trào lưu tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, cần nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ; đồng thời, chủ động nghiên cứu, phê phán bản chất phản khoa học, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, thù địch bằng các luận cứ khoa học và minh chứng bằng thực tiễn một cách thuyết phục. Quan tâm nghiên cứu để dự báo sớm tình hình thế giới, khu vực và trong nước, những điều chỉnh chiến lược của các nước lớn; dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, những biểu hiện mới của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… , để xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đấu tranh cho phù hợp, hiệu quả. Thứ tư, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành của Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương để phát hiện kịp thời, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh; không để các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để tạo cớ xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THỀ LỰC THÙ ĐỊCH Để đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, trước hết chúng ta cần nhận diện thấu đáo những âm mưu, thủ đoạn chống phá. Thứ nhất, nội dung, phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt. Nhằm kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong và tạo dựng “ngọn cờ” xây dựng, quy tụ lực lượng, các thế lực phản động, thù địch luôn tìm mọi “mưu ma chước quỷ” móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, lôi kéo, mua chuộc các phần tử thoái hóa biến chất, bất mãn, cơ hội chính trị. Trong tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, để tăng thêm hiệu ứng của các thông tin sai trái, chúng chú trọng tập hợp, trích dẫn các ý kiến trái chiều, đi ngược chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Đây là chiêu bài chống phá từ bên trong kết hợp với bên ngoài nhằm từng bước làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Chúng triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội, nhất là vào những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước để phát tán thông tin xuyên tạc, chống phá, bằng nhiều chiêu thức mới với phương châm “hư hư, thực thực”, “mưa dầm thấm lâu”, “nói nhiều rồi sẽ tin”..., núp dưới những chiêu bài “góp ý”, “kiến nghị, đề nghị”, “thư ngỏ”... Bằng những hình thức tinh vi, chúng triệt để lồng ghép những quan điểm sai chống phá thông qua tổ chức các “hội thảo khoa học”, diễn đàn, sinh hoạt hội, nhóm; cài cắm lực lượng - núp bóng các tổ chức phi chính phủ và dưới danh nghĩa “hỗ trợ nhân đạo” đi đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền mị dân, kích động, lôi kéo người dân vào những mưu đồ đen tối; truyền đạo, lập đạo trái phép, tuyên truyền mê tín dị đoan. Thứ hai, chúng tập trung, quyết liệt chống phá trên mặt trận chính trị, tư tưởng; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng tìm mọi cách phủ nhận bản chất cách mạng khoa học, nội dung cơ bản và giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác- Lênin, coi tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt nam, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Bịa đặt, vu cáo Đảng, Nhà nước ta “du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam gây ra chiến tranh, nội chiến tương tàn”, “trung thành quá lâu với chủ nghĩa Mác - Lênin”, “tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho đất nước chậm phát triển, nhân dân nghèo đói”. Chúng xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rêu rao rằng “Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải nhà tư tưởng mà chỉ là nhà hoạt động thực tiễn nên không có tư tưởng Hồ Chí Minh”... Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá trong tình hình mới, chúng ta cần tiếp tục chú trọng thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau: Một là, không ngừng giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Ba là, tăng cường nghiên cứu, dự báo, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý những phần tử cơ hội, phản động chống Đảng, Nhà nước. Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo, quản lý trong chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết - quy định về trách nhiệm nêu gương, về những điều đảng viên không được làm, về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngăn chặn, đẩy lùi và kiên quyết xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh của cấp trên đối với cấp dưới. Thực hiện tốt công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá - rút kinh nghiệm, đề ra các giải pháp hiệu quả, sát thực tiễn; kịp thời khen thưởng, động viên, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình, gương người tốt, việc tốt. Phát huy tốt vai trò của Ban Chỉ đạo 35, cơ quan giúp việc của cấp ủy các cấp, lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác tư tưởng, lý luận và đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Đa dạng hóa nội dung, hình thức đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có kế hoạch, kịch bản chặt chẽ, bài bản để đấu tranh trực diện, công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội - internet; tổ chức “chiến dịch truyền thông” thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa./.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Thời gian qua, các thế lực thù địch với nhiều thủ đoạn mới tiếp tục đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, giảm sút lòng tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Những kẻ cơ hội chính trị đã phụ họa với các thế lực thù địch ra sức chống phá Đảng và Nhà nước ta. Họ xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận vai trò và đường lối lãnh đạo của Đảng, định hướng xã hội chủ nghĩa, xuyên tạc lịch sử…Chúng càng ráo riết hoạt động, viết và phát tán các tài liệu có nội dung xấu để kích động, bịa đặt nhằm bôi đen chế độ, nói xấu Đảng và một số đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta. Trước tình hình đó, đặt ra cho chúng ta luôn phải tích cực, chủ động tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, thông tin, văn hóa, các hoạt động khoa học… theo những định hướng giá trị của chủ nghĩa xã hội; nhạy bén bám sát thực tiễn và giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh. Để góp phần vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây: Một là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Làm cho những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thâm nhập sâu sắc vào cuộc sống, chuyển hóa thành thế giới quan, phương pháp tư duy khoa học trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trở thành những yếu tố chỉ đạo mục tiêu, lý tưởng chính trị, hệ thống giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội. Định hướng, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, thái độ chính trị của mỗi người. Trên cơ sở đó, hình thành và phát triển ở mỗi người cũng như toàn xã hội trạng thái chính trị- tinh thần vững mạnh, có sức “đề kháng” cao để vô hiệu hóa mọi thủ đoạn công kích, phá hoại của kẻ thù trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Hai là, chủ động, kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch Kịp thời phát hiện các hoạt động và mức độ tác động của các luận điệu xuyên tạc, lừa bịp, mị dân của các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch, từ đó có phương sách đối phó và chủ trương xử lý một cách hiệu quả. Phải uốn nắn những quan điểm sai trái, lệch lạc, nhận thức mơ hồ, dao động về tư tưởng, đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội, hữu khuynh và giáo điều, bảo thủ. Bởi vì, các thế lực thù địch rất chú ý lợi dụng những quan điểm sai lầm, lệch lạc, những nhận thức mơ hồ, sự dao động về lý tưởng, niềm tin trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Để thực hiện tốt vấn đề này, chúng ta cần nhận diện chính xác, cụ thể những quan điểm sai trái, thù địch, cần “phân cấp” những quan điểm sai trái theo từng cấp độ dể chủ động phòng, chống và xử lý có hiệu quả. Từ đó xây dựng niềm tin, chống quan điểm mơ hồ, dao động trong mọi tầng lớp nhân dân. Ba là, tăng cường thông tin xuống cơ sở, nâng cao dân trí, phát huy dân chủ; đồng thời, chống âm mưu, thủ đoạn làm “nhiễu thông tin” của các thế lực thù địch. Trong tình hình hiện nay, việc định hướng thông tin, làm cho quần chúng có những hiểu biết sâu sắc, toàn diện về bản chất không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Làm cho mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác, nhạy bén phát hiện âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch. Tránh “đói” thông tin, nhất là đối với miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; khi đã “đói” thông tin thì dân trí sẽ thấp và quần chúng rất dễ bị hoang mang bởi những thông tin lệch lạc. Hoặc tình trạng “lạm phát” thông tin và thông tin “thiếu định hướng” thì rất nguy hiểm, quần chúng sẽ không biết thông tin nào đúng, thông tin nào sai và phải tin theo nguồn tin nào. Nhất là trong giai đoạn bùng nổ cuộc Cách mạng 4.0 hiện nay. Điều đó rất dễ bị địch lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo thông tin, lôi kéo, mua chuộc quần chúng. Phải ngăn chặn bằng được những “kênh” mà thông qua đó, các quan điểm sai trái thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận tác động vào như: mạng xã hội; từ các diễn đàn chính trị quốc tế và từ một số kẻ cơ hội chính trị trong và ngoài nước; từ nguồn sách, báo, tạp chí, phim ảnh không chính thống, hay lợi dụng vấn đề tôn giáo, vấn đề dân tộc để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân hoặc thúc đẩy xu hướng ly khai… Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Trong đó, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, công tác quản lý của Nhà nước đối với công tác tư tưởng, lý luận. Phối hợp hành động có hiệu quả giữa các cơ quan tiến hành công tác tư tưởng-văn hóa của Đảng và Nhà nước, lực lượng vũ trang; các đoàn thể quần chúng, các lực lượng nghiên cứu giảng dạy lý luận, các nhà khoa học và văn nghệ sĩ… Thực hiện phương châm “Toàn Đảng làm công tác tư tưởng”, và “Lấy quần chúng giáo dục quần chúng”. Đổi mới nội dung, phương pháp công tác tư tưởng, lý luận của các đoàn thể, tổ chức xã hội, sử dụng nhiều loại phương tiện và hình thức tuyên truyền, giáo dục sinh động, hiệu quả thiết thực, sát với từng đối tượng; mở rộng hình thức học tập lý luận chính trị trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là một vấn đề mang tính xã hội phức tạp, sâu sắc, rộng lớn và lâu dài. Vì vậy, trong tình hình hiện nay cần làm cho mọi lĩnh vực hoạt động, mọi tổ chức, mọi thành viên trong xã hội đều quan tâm và có trách nhiệm cao, tạo nên một loại hình “Chiến tranh nhân dân” trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Đó là sự bảo đảm cho thắng lợi của chúng ta trên mặt trận này, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
LẠI XUYÊN TẠC VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII là xem xét Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Hội nghị chưa diễn ra vậy mà trên một số diễn đàn, mạng xã hội đã có những bài viết, những ý kiến của một số người đội lốt là “nhà dân chủ”, “trí thức” xuyên tạc về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Sau khi Hội nghị thành công và kỳ họp thứ tư, Quốc hội Khóa XV họp tuần đầu tiên thì chính những người này lại tiêp tục đưa những thông tin sai lệnh, xuyên tạc bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Đây không phải là lần đầu tiên những người nói trên xuyên tạc về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thực tế thời gian qua cho thấy, cứ mỗi lần Quốc hội họp, mỗi lần bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là các luận điệu chống phá về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của các phần tử chống đối, thù địch lại đem ra chép lại. Thế nhưng dù có “tung hỏa mù”, có những “vỏ bọc kín đáo” thì luận điệu đó vẫn không che nổi bản chất, âm mưu thâm độc của họ. Thực tế, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên nền tảng Hiến pháp và pháp luật, vì dân chủ, con người, quyền con người, quyền công dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một trong những phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, được xây dựng, hoàn thiện đồng thời với xây dựng, hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dân chủ xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là ba trụ cột phát triển đất nước. Bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận và khẳng định điều đó. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tồn tại, được hiện thực hóa, vận động và phát triển thông qua các giá trị của nó. Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quá trình hiện thực hóa, làm sâu sắc, gia tăng các giá trị của nó. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Viêt Nam được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đặc trưng này thể hiện tính đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gắn với hệ thống chính trị Việt Nam, là sự thể hiện sinh động việc vận dụng sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, nhiều đối tượng xấu đã xuyên tạc, công kích, đưa ra các bài viết làm sai lệch bản chất vấn đề. Một số người còn cho rằng, “đã là nhà nước pháp quyền thì không thể đi đôi với xã hội chủ nghĩa”, đưa ra “kiến nghị” đòi bỏ nội dung xã hội chủ nghĩa trong đề án xây dựng nhà nước pháp quyền. Thậm chí, một số người nhân danh “đổi mới” để vu cáo rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam hiện “đứng trên pháp luật” nên không thể có nhà nước pháp quyền”; cho rằng, “việc đặt đề án xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhằm che đậy cho bản chất độc tài của chế độ”… Những luận điệu trên thể hiện rõ ý đồ chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Cũng phải thừa nhận, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta cũng đã bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết, trong đó có vấn đề tham nhũng, suy thoái, những hiện tượng tiêu cực trong đời sống văn hoá, xã hội còn diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề tồn tại kéo dài khiến dư luận bức xúc, ảnh hưởng tới sự uy nghiêm của luật pháp và niềm tin của người dân vào thể chế. Tuy nhiên, những tồn tại đó có nguyên nhân khách quan, chủ quan, nhất là trong điều kiện đất nước hội nhập, mở cửa, luật pháp chưa đầy đủ, còn những kẽ hở bị lợi dụng; công tác quản lý Nhà nước còn những yếu kém, còn tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái, nhũng nhiễu. Vấn đề là Đảng, Nhà nước ta đã nghiêm túc nhìn nhận hạn chế, thiếu sót, đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài để chấn chỉnh, đặc biệt là việc xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Để xây dựng Đề án trên, Ban Chỉ đạo đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc gia, lấy ý kiến các tỉnh ủy, thành ủy và nhiều cuộc tọa đàm chuyên sâu để lấy ý kiến rộng rãi. Quá trình xây dựng Đề án được đánh giá cao về cách làm bài bản, dân chủ, khoa học, tạo được sự đồng thuận cao trong các tập thể, cá nhân tham gia xây dựng Đề án. Tại Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã nhất trí thông qua. Vì thế, không có lý do gì để các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ” để giở trò “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, xuyên tạc về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa./.
Cách mạng Tháng Mười Nga, những giá trị trường tồn. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của Nhà nước Soviet do Lenin sáng lập đã làm thay đổi căn bản số phận dân tộc Nga, đưa nước Nga từ một nước phong kiến, tư bản lạc hậu, nghèo đói trở thành một cường quốc kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, giáo dục... hàng đầu thế giới; đưa quần chúng công-nông từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; vai trò, vị thế của nước Nga trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Đặc biệt, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tiếp sức cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Dưới ánh sáng soi đường và sự cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga, với sự ủng hộ nhiệt tình, to lớn của Liên Xô, một làn sóng cách mạng vô sản ở châu Âu đã bùng lên mạnh mẽ sau đó, tạo ra một cao trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, làm rung chuyển nền thống trị của giai cấp tư sản độc quyền ở nhiều nước. Một hệ thống xã hội chủ nghĩa đã ra đời, đóng vai trò to lớn trong tiến trình phát triển của thế giới hiện đại. Cách mạng Tháng Mười Nga còn tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị-xã hội của nhiều quốc gia, dân tộc khác; đã thức tỉnh, cổ vũ các dân tộc thuộc địa bị áp bức và các nước phụ thuộc vùng dậy đấu tranh vì độc lập tự do, đem lại niềm tin và niềm hy vọng về khả năng tự giải phóng. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động tại hàng loạt nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh đã nổi dậy đấu tranh giành độc lập dân tộc; hàng trăm triệu người được giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ, tạo thành một phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ trên toàn cầu. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, những thành tựu của chế độ Soviet và chiến thắng của Liên Xô trong Chiến tranh Thế giới thứ hai cũng đã thức tỉnh và cổ vũ phong trào đấu tranh vì dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội ở chính ngay các nước tư bản phát triển, buộc chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc cũng phải có những điều chỉnh để thích nghi, tồn tại. Đúng như V.I.Lenin đã khẳng định: "Cuộc Cách mạng Tháng Mười của chúng ta đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử thế giới."

CẢ THẾ GIỚI ỦNG HỘ CU BA NHƯNG HOA KỲ VẪN TIẾP TỤC CẤM VẬN - AI MỚI LÀ ĐỘC TÀI?


Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 3.11 phần lớn đã bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết lên án lệnh cấm vận của Mỹ đối với Cuba trong năm thứ 30 liên tiếp. Có 185/189 nước ủng hộ và chỉ có Mỹ và Israel đã bỏ phiếu chống lại nghị quyết nói trên, trong khi Ukraine và Brazil bỏ phiếu trắng. Lệnh cấm vận thương mại kéo dài hàng thập kỷ của Mỹ đã gây ra thiệt hại tài chính kỷ lục và khiến người dân của Cu Ba chịu khổ trong những tháng gần đây, khi nước này phải chống chọi với ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và bão Ian.


Người Mỹ luôn rêu rao cái gọi là dân chủ, nhân quyền và ghét độc tài. Thế nhưng chính họ mới là kẻ độc đoán số một thế giới. Chỉ có hai nước bỏ phiếu chống là Mỹ và đồng minh chiến lược Israel nhưng như thế là đủ để lệnh cấm vận Cu Ba vẫn tiếp tục duy trì. Tất cả các đồng minh của Mỹ (trừ Isarel) đều ủng hộ bỏ cấm vận Cu Ba, thế nhưng chừng đó là chưa đủ để Hoa Kỳ thay đổi thái độ. 


Chân lý thuộc về kẻ mạnh và chính Mỹ chứ không phải ai khác mới là kẻ độc tài, vi phạm dân chủ, nhân quyền và quyền tự quyết dân tộc của người Cu Ba. Công lý, bình đẳng, bác ái mà họ rêu rao có chăng chỉ là trò hề nước lớn, vì mục đích bá quyền. Cu Ba và Hoa Kỳ khác tư tưởng, ý thức hệ và người Mỹ vẫn chưa nuốt trôi nỗi nhục thất bại tại Cu Ba và Fidel Castro trước đây. Độc tài, sen đầm quốc tế lại đi rao giảng dân chủ, nhân quyền. Đúng là kẻ thiếu thứ gì thì hay nói về thứ đó./.

LCB

KHÔNG ĐÁNH BÙN SANG AO HÒNG RỬA TỘI CHO NGUYỄN ÁNH.


Những năm gần đây, nước Việt đang xuất hiện một trào lưu mới, trào lưu xét lại lịch sử. Họ cố tình bóp méo sự thật lịch sử theo hướng hạ bệ hoặc tôn vinh những nhân vật lịch sử vốn đã ăn sâu trong tiềm thức trong mỗi người dân Việt Nam. Khi nói đến Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long của triều Nguyễn) thì người ta nghĩ ngay đến một tên cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ. Ấy vậy mà không hiểu tại sao lại có những kẻ nhân danh là nhà sử học, học hàm, học vị cũng đến mức “tột đỉnh của vinh quang” lại cố tình phá hoại lịch sử, cố tình “rửa mặt” cho Nguyễn Ánh và cả vương triều Nguyễn - Một vương triều đồi bại nhất lịch sử nước Việt ta. 


Tai hại hơn, họ ca ngợi Nguyễn Ánh là người có công thống nhất đất nước, mở mang bờ cõi, khai phá miền Nam; thậm chí đặt ngang hàng với người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ. Hiện nay người ta còn đòi vinh danh Nguyễn Ánh. Mới đây tỉnh Thừa Thiên - Huế còn đòi đặt tên đường ông ta và các vị vua triều Nguyễn. Xin có đôi lời như sau:


PHÂN BIỆT CHÚA NGUYỄN VÀ VUA NGUYỄN:


Những người được coi là nhà sử học, nhà nghiên cứu lịch sử há lại không phân biệt được giữa các Chúa Nguyễn và nhà Nguyễn? Có chăng là họ đã cố tình đánh tráo khái niệm, đánh bùn sang ao hòng che đậy cho những mục đích không trong sáng của họ. Đời các Chúa Nguyễn khởi đầu là Chúa Tiên - Nguyễn Hoàng (con trai của tướng nhà Hậu Lê là Nguyễn Kim), vào cai quản đất Thuận Hóa từ năm 1558. Nguyễn Hoàng vì sợ Trịnh Kiểm (anh rể) sát hại nên sau khi nghe lời khuyên của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, nghĩa là: Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời. Các Chúa Nguyễn trị vì được 9 đời kể từ lúc Nguyễn Hoàng vào Thuận Quảng cho đến năm 1777, khi Nguyễn Phúc Thuần thua quân Trịnh, phải chạy vào Gia Định và bị quân Tây Sơn tiêu diệt. Lịch sử là trung thực, là khách quan. Vậy nên không ai phủ nhận công lao mở mang bờ cõi vào phía Nam của các Chúa Nguyễn. Đó là sự thật lịch sử! 


Nhà Nguyễn bắt đầu từ năm 1802, khi Nguyễn Ánh thắng nhà Tây Sơn và lập nên nhà Nguyễn, khi đó thì cương vực, lãnh thổ của nước ta đã có như ngày hôm nay. Vậy nên, nói nhà Nguyễn đã có công khai phá và mở rộng lãnh thổ đất phương Nam, là lý luận của kẻ bất trí, phản trắc.  Nhà Nguyễn tồn tại 143 năm (1802 - 1945), có 13 vua thì có đến 8 tên bán nước, hoặc là thần phục ngoại bang. Chỉ có vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân là 3 người yêu nước. Minh Mạng, Thiệu Trị là 2 vua có thực quyền). Kể từ năm 1862, Vua tôi Tự Đức hèn hạ ký Hiệp ước Nhâm Tuất, dâng Nam Kỳ lục tỉnh cho Pháp và đến 1884 thì chính thức vong quốc, làm bù nhìn cho Pháp để tàn hại dân lành. 


Lịch sử là phải công tâm, trung thực, khách quan, không thể ngụy biện. Bản thân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam khi nói về vai trò, vị trí, về công và tội của các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn cũng rất công tâm. Quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với lịch sử là rất sòng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Cùng với việc kịch liệt phê phán các vua: Gia Long đã nhường cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và đảo Côn Lôn, cầu viện quân Xiêm đánh nước ta, tiếp tế cho quân Thanh; đến các vua: Minh Mạng tiếp tục sự nghiệp do Gia Long để lại. Thiệu Trị chưa làm gì nhiều ở ngôi được 7 năm thì mất; đến các vua: Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định và Bảo Đại đã hoàn toàn bán nước ta cho Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã từng viết bài trên báo chí nước ngoài để đề cao tinh thần yêu nước của 3 ông vua của vương triều nhà Nguyễn là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. 


Vậy nên, không vì bất kỳ lý do nào để vinh danh Nguyễn Ánh. Không thể đánh bùn sang ao. Khách quan với lịch sử, vậy nên nếu có xem xét thì nên xem xét các Chúa Nguyễn, chọn người thật sự có công lao với đất nước để đặt tên đường./.

LCB

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI VẪN MỞ ĐƯỜNG ĐI TỚI TƯƠNG LAI


Đảng Cộng sản Liên Xô đã trải qua rất nhiều khó khăn thử thách và đã vượt qua tất cả: Năm 1917, 35 vạn đảng viên đã lãnh đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách thống trị của Sa hoàng, cùng nhân dân chống lại sự can thiệp vũ trang của 14 nước để bảo vệ thành công cách mạng. Cách mạng tháng Mười Nga thành công là do đường lối đấu tranh và sách lược đúng đắn của Đảng Bolshevik mà lãnh đạo là Lenin, biết phát huy sức mạnh quần chúng đang chịu nhiều khổ cực do chiến tranh đế quốc. Ngoài ra, cuộc cách mạng nổ ra trong hoàn cảnh quốc tế hết sức thuận lợi, khi các nước đế quốc đang tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ nhất, không đủ sức can thiệp vào nước Nga. Dưới sự dẫn dắt của Lênin, Liên Xô ra đời năm 1922, trở thành hòn đá tảng của Chủ nghĩa Xã hội.


Cách mạng tháng Mười Nga còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế và nhân dân các nước thuộc địa, mở ra con đường giải phóng giai cấp, giải phóng các dân tộc bị áp bức trên phạm vi toàn thế giới. Năm 1941, 5.540.000 đảng viên đã cùng nhân dân chiến thắng phát xít Đức trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, lãnh đạo công cuộc xây dựng Liên Xô trở thành siêu cường...


Liên Xô vĩ đại mà Lênin và nhiều vị cách mạng tiền bối đã có công gầy dựng. Vậy nhưng, năm 1991, Đảng Cộng sản Liên Xô với 20 triệu đảng viên lại sụp đổ, không phải do kẻ thù bên ngoài, mà chính là do những mầm mống diễn biến, tự diễn biến tư tưởng bên trong nội bộ Đảng. Phi chính trị hóa quân đội, truyền thông, báo chí và cả xét lại lịch sử, sai lầm trong cải tổ kinh tế mà người đứng đầu là Mikhail Gorbachev - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Yakovlev, Trưởng Ban Tuyên Giáo Đảng Cộng sản Liên Xô.  


Từ năm 1986 đến 1988, một loạt cán bộ chủ chốt của các tờ báo có ảnh hưởng lớn tại Liên Xô được thay thế bởi những người ủng hộ chủ trương “Tây hóa” của Gorbachev, từ đó các tờ báo này đã khuynh đảo dư luận, làm cho nhiều người dân ảo tưởng vào phương Tây và như thế “cả đàn sói đã chồm lên cắn vào lịch sử/ cào chiến công, xé xác những anh hùng”. Hàng loạt tướng lĩnh và đảng viên lão thành đều bị cho nghỉ hưu để nhường cho “lớp trẻ cấp tiến”, kinh tế chậm đổi mới, các vấn đề nội tại phát sinh cấp số nhân và ngày càng gay gắt…


Điều gì đến đã phải đến, công lao mà Lê Nin và các thế hệ đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô trong phút chóc đã chìm xuống biển sâu! Đó là nỗi đau đoạn trường của những người Cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta. Lãnh tụ vĩ đại của chủ nghĩa Cộng Sản, Lê Nin đã từng cảnh báo “không có kẻ thù nào, dù chúng hùng mạnh và hung hãn nhất có thể đánh bại được chủ nghĩa Cộng sản, ngoại trừ những người Cộng sản tự tiêu diệt chính họ, bằng những lỗi lầm không kịp khắc phục”. Tiếc thay, ngay trên quê hương của Lê Nin vĩ đại, hòn đá tảng của chủ nghĩa Xã hội lại sụp đổ một cách nhanh chóng vì những nguyên nhân nội tại là chủ yếu mà trước đó Lê Nin đã cảnh báo.


Mặc dù CNXH hiện thực ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu sụp đổ, nhưng điều này không có nghĩa là Cách mạng tháng Mười Nga thất bại. Không có nghĩa là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH và con đường đi lên XHCN là sai làm, là thất bại. Không thể đồng nhất sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu với sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH. Đây là sự sụp đổ của một mô hình CNXH giáo điều,  rập khuôn, cứng nhắc, bảo thủ, không đổi mới; sự sụp đổ của nhận thức sai lầm, giáo điều về CNXH. Sự nghiệp đổi mới và phát triển ở Trung Quốc, Lào, Cu Ba, Triều Tiên hay những quốc gia có khuynh hướng cánh tả như Venezuela và một số nước Mỹ La Tinh cũng chứng tỏ CNXH với tư cách là một lý tưởng, một chế độ chính trị, một phong trào hiện thực vẫn tồn tại và phát triển. Do vậy, có thể khẳng định lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH vẫn là một giá trị bền vững. 


Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học duy nhất đáp ứng yêu cầu giải phóng triệt để con người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức. Liên Xô và các nước theo CNXH sụp đổ nhưng chúng ta vẫn vững vàng; chế độ ta vẫn chiếm trọn niềm tin yêu và cả trái tim của nhân dân Việt Nam đời đời văn hiến. Điều đó chứng minh rằng: Liên Xô sụp đổ là do tự chính tay họ đã tạo ra chứ không phải là thất bại của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin; sai lầm khuyết điểm không thể vãn hồi của Liên Xô chính là bài học xương máu để Đảng ta lấy làm gương tự đổi mới, tự chấn chỉnh mình. 105 đã trôi qua nhưng thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga luôn luôn có giá trị sâu sắc, vĩnh hằng, giá trị của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ngọn đuốc vĩnh hằng, dẫn đường đi tới. Mượn vài câu thơ trong bài Chân lý vẫn xanh tươi của nhà thơ Tố Hữu để kết thúc bài viết:


Từ đổ nát, ta lại xây dựng mới

Rũ bùn dơ, mặt đất sẽ thanh tân

Không sức nào ngăn nổi sức nhân dân

Ngày mai sẽ là ngày mai cộng sản!

-----------

LCB

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA NGÀY 08 THÁNG 11 NĂM 1945!

         “Nạn đói kém nguy hiểm hơn nạn chiến tranh”[*]!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Hô hào nhân dân chống nạn đói”, đăng Báo Cứu quốc, số 86, ngày 08 tháng 11 năm 1945.
     Hơn 70 năm đã qua đi, nhưng trong ký ức của người dân Việt Nam, nạn đói năm 1945 vẫn còn là một cơn ác mộng, một nỗi đau nhức nhối, khó quên. Do chính sách độc ác của bọn phát xít Nhật và thực dân Pháp đã khiến cho hơn 2 triệu người dân Việt Nam phải chết vì đói, bằng một phần mười dân số Việt Nam lúc bấy giờ. Lời của Bác vừa là lời tố cáo đanh thép về tội ác “trời không dung, đất không tha” của bè lũ thực dân đế quốc đã gây ra cho dân tộc Việt Nam, vừa là động lực thôi thúc nhân dân cả nước quyết tâm vượt qua khó khăn, gian khổ ra sức lao động, sản xuất để tạo ra nhiều lương thực nhằm giải quyết nạn đói trước mắt và chi viện cho tiền tuyến, góp phần vào thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
     Lời của Bác là bài học nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam phải luôn nêu cao ý thức tự lực, tự cường, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng và chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; đồng thời, chúng ta phải ra sức phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tích cực và chủ động hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
     Thấm nhuần lời dạy của Bác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dù ở bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, Quân đội ta luôn chủ động, tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế bằng hình thức, biện pháp phù hợp, đúng định hướng của Đảng. Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong những năm tới, nước ta tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng; nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đứng trước những thuận lợi và cơ hội to lớn, song cũng có không ít khó khăn, thách thức. Để góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ mới, đòi hỏi Quân đội cần tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế, đóng góp nhiều hơn nữa vào phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực, sức mạnh của đất nước, xứng đáng là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” trong thời kỳ mới./.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.108.
Môi trường (Yêu nước) ST.

LẮC THUYỀN TẠO SÓNG


Lắc thuyền tạo sóng là thao tác bình thường của những người làm nghề chài lưới. Theo đó, sau khi thả lưới, người ta bơi thuyền ra xa đón luồng cá, sử dụng hai chân giữ thăng bằng, nhún, lắc cho thuyền dập dềnh để tạo sóng, xua đàn cá bơi vào lưới.


Trên không gian mạng hiện nay, các thế lực thù địch ra sức bám vào các sự kiện của đất nước ta để “lắc thuyền tạo sóng”, gây hoang mang tâm lý xã hội nhằm thực hiện mưu đồ đen tối...


Hoạt động diễn tập là nội dung nằm trong chương trình, kế hoạch huấn luyện hằng năm của lực lượng công an, cơ quan quân sự các cấp. Tùy vào đặc điểm của từng đơn vị, địa phương và yêu cầu thực tế, hình thức, nội dung, phương pháp diễn tập sẽ được xác định phù hợp. Vào dịp cuối năm, bên cạnh hoạt động diễn tập của lực lượng chức năng các cấp, còn có các hoạt động phối hợp ra quân tấn công, trấn áp tội phạm. Các địa phương huy động lực lượng tuần tra, kiểm soát, duy trì trật tự an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội, ứng phó với các tình huống thiên tai, sự cố sập đổ công trình... Tất cả hoạt động ấy, dù diễn ra ở cấp độ, phạm vi nào cũng đều công khai, được tuyên truyền rộng rãi, có sự tham gia của nhiều thành phần, lực lượng... Những cuộc diễn tập thường kỳ, thường niên là hoạt động bình thường, hoàn toàn không có yếu tố bất thường, bất ngờ, đột biến... như nhiều thông tin lệch lạc, suy diễn, bịa đặt mà một số phần tử cực đoan có tư tưởng thù địch rêu rao trên không gian mạng những ngày qua.


🌿 Vì sao lại có chuyện “lắc thuyền tạo sóng”?


 “Hóng biến”, “có biến lớn”, “biến căng”... là những thuật ngữ được các đối tượng bất mãn có tư tưởng thù địch với Đảng, Nhà nước sử dụng trên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền, kích động, gây nhiễu loạn thông tin. Mục đích của họ là lèo lái dư luận hiểu sai lệch bản chất của các sự kiện đã và đang diễn ra một cách bình thường. Bám vào cuộc diễn tập như đã dẫn ở trên, họ cố tình “lắc thuyền” thật mạnh để tạo làn sóng dư luận đi ngược lại mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của các sự kiện trong đời sống xã hội. Họ cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, TP Hồ Chí Minh tổ chức diễn tập, trong đó có các nội dung như chống khủng bố, giải tán tụ tập đông người, thực binh xử lý tình huống an ninh trật tự, giải cứu con tin... là dấu hiệu cho thấy sắp có “biến lớn”. Họ lấy việc cơ quan điều tra của Bộ Công an ra quyết định khởi tố, bắt tạm giam bà Trương Mỹ Lan, Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát gán ghép vào hoạt động diễn tập của TP Hồ Chí Minh. Họ suy diễn rằng, đó là những “bằng chứng” về tình hình an ninh trật tự và đời sống kinh tế-xã hội ở thành phố này đang diễn biến phức tạp và sắp có biến động lớn?! Họ ngụy tạo các chứng cứ, luận điểm, lấy giả làm thật để suy đoán, xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng ở thành phố đông dân nhất cả nước nhằm hướng lái dư luận xã hội theo hướng tiêu cực.


Có thể thấy, chiến dịch tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch nhân các sự kiện này là từ những cơn sóng thông tin tạo thành những đợt sóng dồn dập để gây hoang mang dư luận. Chiến dịch tuyên truyền do những phần tử phản động cấu kết với các phương tiện truyền thông phát tiếng Việt có tư tưởng thù địch ở hải ngoại thực hiện, đã đánh lừa được không ít người nhẹ dạ, cả tin. Ở chừng mực nào đó, nó đã gây rối ren trong một bộ phận dư luận xã hội, ảnh hưởng đến môi trường văn hóa, an ninh trên không gian mạng và đời sống của một bộ phận cư dân đô thị. Không ít người vì lo ngại, đã đến một số ngân hàng liên quan để rút tiền tiết kiệm trước kỳ hạn, suy đoán vô căn cứ về những diễn biến đời sống kinh tế-xã hội ở TP Hồ Chí Minh...


Sự tinh vi của chiêu trò “lắc thuyền tạo sóng” trong các hình thức truyền thông, chiến dịch tuyên truyền để thực hiện mục đích chống phá của các thế lực thù địch, không phải đến bây giờ mới diễn ra. Từ trước đến nay, mỗi khi đất nước ta có các sự kiện quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... là lập tức họ lại ký sinh, tầm gửi tư tưởng cực đoan, bất mãn, chống đối... để xuyên tạc sự thật. Trong giai đoạn này, họ tiếp tục chĩa mũi dùi kích động, chống phá vào TP Hồ Chí Minh bởi những lý do sau: Thứ nhất, những thông tin liên quan đến việc khởi tố, bắt tạm giam bà Trương Mỹ Lan và các đồng phạm là một vụ án lớn, phức tạp. Trong quá trình cơ quan chức năng đang thực hiện các thủ tục tố tụng, biện pháp nghiệp vụ mở rộng điều tra, các thế lực thù địch nhân cơ hội này tung tin thất thiệt, gây rối an ninh trật tự trên không gian mạng nhằm mưu đồ phá hoại. Thứ hai, sau đại dịch Covid-19, với vị thế là đầu tàu phát triển, TP Hồ Chí Minh đã và đang trên đà phục hồi nhanh chóng, mạnh mẽ các mục tiêu, chỉ số tăng trưởng kinh tế. Hiện thực đời sống xã hội vận động theo xu hướng tích cực ấy là điều các thế lực thù địch không bao giờ mong muốn. Họ tìm mọi cách để xuyên tạc, lôi kéo, phá hoại. Thứ ba, việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển TP Hồ Chí Minh bên cạnh những thành tựu, thành tích đạt được đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế. Bám vào những “điểm nghẽn” bất cập này để xuyên tạc, phá hoại là mục đích của các thế lực thù địch...


Chỉ ra những yếu tố căn bản như vậy để thấy rõ hơn mục tiêu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Họ không vô cớ “tạo sóng”, mà các chiến dịch tuyên truyền với mưu đồ chống phá đều được tính toán, thực hiện ở những thời điểm dư luận xã hội có biểu hiện tâm lý tò mò, hiếu kỳ; một bộ phận bộc lộ tâm lý hoang mang khi nhiều quan chức, nhân vật "cộm cán" lần lượt sa lưới pháp luật...


🌿 Để không ai bị cuốn theo thông tin thất thiệt, phản động


Tin giả (bao gồm cả những thông tin lừa đảo, thông tin phản động) đang là vấn nạn của môi trường số. Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội vào ngày 4-11 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định: Hầu hết các vấn đề trong cuộc sống con người đã sang môi trường số. Tin giả không chỉ là vấn nạn ở Việt Nam mà là thách thức mang tính toàn cầu. Việc ngăn chặn thông tin xấu độc thực sự là công việc khó khăn. Giải pháp căn bản là cần có sự vào cuộc tích cực, chủ động của mọi bộ, ngành, các tổ chức, gia đình. Khi toàn xã hội vào cuộc thì mới giải quyết được căn cơ vấn đề này trên không gian mạng...


Tận dụng triệt để tiện ích công nghệ số, lợi dụng vào những khó khăn, thách thức trong quản lý, xử lý, ngăn chặn thông tin xấu độc của các cơ quan quản lý Nhà nước, các thế lực thù địch ngày càng thực hiện nhiều hơn, sâu hơn, rộng hơn, tinh vi hơn... các chiến dịch tuyên truyền bằng thông tin thất thiệt, tư tưởng phản động. Thông tin trên môi trường số cũng giống như luồng cá giữa đồng nước mênh mông, rất khó để có thể ngăn chặn chúng. “Lắc thuyền tạo sóng” chỉ là một chiêu trò; xuyên tạc, lèo lái dư luận hiểu sai lệch về các sự kiện thường kỳ, thường niên cũng chỉ là một trong rất nhiều hình thức, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch thực hiện. Cách tốt nhất chúng ta cần làm là nâng cao khả năng miễn nhiễm, trình độ thẩm định, kỹ năng thanh lọc để không bị cuốn vào các thông tin thất thiệt, phản động do các thế lực thù địch tung ra. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên: “Không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”. Muốn phát huy được sức mạnh cộng đồng, sức mạnh toàn xã hội trong môi trường số thì cán bộ, đảng viên phải thể hiện rõ tinh thần, trách nhiệm tiên phong. Bắt đầu từ mỗi chi bộ, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị phải nhất quán quan điểm “lấy xây để chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Chúng ta có mạng lưới thông tin từ hệ thống báo chí, truyền thông dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, là diễn đàn của toàn dân, toàn quân; là môi trường cung cấp, lan tỏa thông tin chính thống, tin cậy; là cơ sở để nhận diện, đấu tranh vạch trần, đẩy lùi các luận điệu xuyên tạc, thù địch...


Theo QĐND 

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC: “CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI LÀ SAY MÊ BẠO LỰC”


Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đánh giá: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Thế nhưng, nhằm hạ thấp giá trị nhân văn, nhân đạo và ý nghĩa lịch sử, thời đại của cuộc cách mạng này, các thế lực thù địch dùng nhiều chiêu thức vừa tinh vi, vừa trơ trẽn khi cáo buộc những người cách mạng ở Nga và trên thế giới là “say mê bạo lực”. Vậy, sự thật thế nào?

 

Bạo lực cách mạng là quy luật phổ biến của mọi cuộc cách mạng và Cách mạng Tháng Mười cũng không phải là ngoại lệ. Vì vậy, từ rất sớm, trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học” (1846), C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác định lợi ích của giai cấp vô sản gắn liền với việc xóa bỏ chế độ tư hữu và xây dựng, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Để thực hiện được điều này cần phải tiến hành cách mạng dân chủ bạo lực.


Ph.Ăngghen viết: “Như vậy, tôi đã xác định những ý định của những người cộng sản như thế này: 1) bảo vệ lợi ích của những người vô sản chống lại lợi ích của các nhà tư bản. 2) thực hiện việc đó thông qua thủ tiêu sở hữu tư nhân và thay thế nó bằng tài sản chung; 3) không thừa nhận phương sách nào khác, nhằm thực hiện những mục tiêu, ngoài cuộc cách mạng dân chủ bạo lực”.

 

Cách mạng xã hội chủ nghĩa tất yếu đòi hỏi phải giải quyết vấn đề cơ bản nhất của cách mạng là vấn đề chính quyền. C.Mác từng chỉ rõ: “Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản”. C.Mác, Ph.Ăngghen khẳng định, trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp công nhân phải trở thành giai cấp thống trị, phải thiết lập chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân phải sử dụng bạo lực cách mạng dưới mọi hình thức để đập tan bộ máy cai trị của giai cấp tư sản, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân phải giành lấy quyền dân chủ: “Mục đích của Liên đoàn những người cộng sản là dùng mọi biện pháp tuyên truyền và đấu tranh chính trị để thực hiện việc đập tan chế độ xã hội cũ, lật đổ giai cấp tư sản, giải phóng giai cấp vô sản về mặt tinh thần, chính trị và kinh tế, thực hiện cuộc cách mạng cộng sản… và không thể giải tán chừng nào mà cách mạng vô sản chưa đạt được mục đích cuối cùng của nó”.

 

Các giai cấp tư sản, địa chủ không tự nguyện rời bỏ địa vị thống trị, đã điên cuồng dùng bạo lực chống lại nhân dân. Trong điều kiện đó, không có bạo lực cách mạng của quần chúng thì cách mạng không thể thành công. Để bảo vệ thành quả cách mạng, quần chúng công - nông Nga đã đáp lại một cách kiên quyết nhất đối với bạo lực phản cách mạng của bọn địa chủ, tư bản và bọn đế quốc can thiệp. Về vấn đề này, trước đó, ngay trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, trong cuộc cách mạng xã hội tấn công chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân nhất định phải giành lấy chính quyền. Hai ông viết: “Giai cấp nào muốn nắm quyền thống trị - ngay cả khi quyền thống trị của nó đòi hỏi phải thủ tiêu toàn bộ hình thức xã hội cũ và sự thống trị nói chung, như trong trường hợp của giai cấp vô sản, - thì giai cấp ấy trước hết phải chiếm lấy chính quyền…”.

 

Để cách mạng vô sản giành được thắng lợi, phải sử dụng các hình thức đấu tranh, trong đó chủ yếu sử dụng bạo lực, vì vậy, trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ xã hội hiện hành. Mặc cho giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa, trong cuộc cách mạng ấy những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới”. C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển một cách toàn diện tư tưởng về bạo lực cách mạng cả về mục đích, hình thức và phương pháp... trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của Công xã Pari.

 

Xuất phát từ mục đích, tính chất của nhà nước của giai cấp tư sản là nhà nước dùng để duy trì sự bóc lột giai cấp những người lao động, nhà nước dùng bạo lực để trấn áp quần chúng và từ mục đích, tính chất của cuộc cách mạng vô sản mà C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng phải dùng bạo lực cách mạng để đập tan nhà nước của giai cấp bóc lột. Đặc biệt quân đội là công cụ bạo lực chủ yếu của giai cấp tư sản, phục vụ cho những mục đích của giai cấp tư sản, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng phải giải tán quân đội thường trực đó. Vấn đề xây dựng một quân đội của nhà nước mới cũng được đề cập một cách cụ thể. Trong cuộc cách mạng năm 1871 ở Pháp, giai cấp công nhân xây dựng cho mình những tiểu đoàn quân tình nguyện để bảo vệ thành quả cách mạng. Tư tưởng về bạo lực của các ông còn được thể hiện ở vấn đề vũ trang toàn dân chống lại kẻ thù. Lần đầu tiên tư tưởng này được đề cập như là một nguyên tắc xây dựng bạo lực của giai cấp công nhân, của nhà nước Công xã. Từ thực tiễn của Công xã mà C.Mác và Ph.Ăngghen cũng cho rằng cần thiết phải xây dựng một quân đội thường trực mạnh, kiên quyết tấn công kẻ thù, tiêu diệt chúng ở những sào huyệt cuối cùng. Điều đó, có nghĩa là phải sử dụng bạo lực một cách triệt để, không khoan nhượng với kẻ thù.

 

Bảo vệ và phát triển quan điểm của Chủ nghĩa Mác, trong hoàn cảnh chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Ở giai đoạn này, tính chất thối nát, phản động, bị lịch sử lên án của chủ nghĩa đế quốc thể hiện ở chỗ, để chia lại thế giới đã chia xong, các nước đế quốc, các tập đoàn tư bản lũng đoạn đã đẩy nhân loại vào cuộc chiến tranh tàn khốc chưa từng thấy, cướp đi sinh mệnh hàng chục triệu người, làm cho hàng trăm triệu người khác rơi vào cảnh khốn cùng, điêu đứng. Là nơi tập trung những mâu thuẫn gay gắt của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản kết hợp với cả chế độ chuyên chế phong kiến, nước Nga Sa hoàng trở thành mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền đế quốc chủ nghĩa. Ách áp bức tàn bạo của địa chủ và tư bản, cuộc chiến tranh thế giới mà Chính phủ Sa hoàng và chính phủ tư sản là đồng lõa đã đưa đất nước đến thảm họa, đẩy trên 100 triệu quần chúng vô sản, nửa vô sản, nông dân Nga vào tình cảnh không có sự lựa chọn nào khác ngoài con đường cách mạng. Nước Nga đế quốc chuyên chế của địa chủ và tư bản, “nhà tù của các dân tộc”, phải được thay thế bằng nước Nga dân chủ và cách mạng, đem lại hòa bình và quyền tự quyết cho các dân tộc, ruộng đất cho dân cày, chính quyền về tay công nhân, nông dân và binh lính cách mạng. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể tiến hành được dưới hình thức một thời đại kết hợp cuộc nội chiến... với... một loạt phong trào dân chủ và cách mạng,.... phong trào giải phóng dân tộc trong các nước chưa phát triển, lạc hậu và bị áp bức”.

 

V.I.Lênin khẳng định cần phải sử dụng một cách linh hoạt phương pháp đấu tranh cách mạng bằng bạo lực và phương pháp hòa bình. Đấu tranh giành và giữ chính quyền bằng phương pháp hòa bình là quý và hiếm. Với việc chứng kiến sự hoành hành của bộ máy cảnh sát, của chủ nghĩa quân phiệt, của bọn đế quốc phản động trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, khả năng phát triển cách mạng một cách hòa bình là “cực kỳ quý báu” nhưng cũng “cực kỳ hiếm hoi” và “đặc biệt hiếm hoi”. V.I.Lênin đã phân tích đặc điểm của nhà nước tư sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và rút ra kết luận về tính tất yếu phổ biến của cách mạng bạo lực.

 

Vì vậy, suốt quá trình tham gia, lãnh đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân Nga từ những năm 90 của thế kỷ XIX cho đến khi tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, giành được chính quyền, sử dụng bộ máy nhà nước để xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin đã không ngừng kế thừa, bảo vệ và đã có những đóng góp to lớn vào việc phát triển những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác nói chung cũng như quan điểm mácxít về bạo lực cách mạng nói riêng. V.I.Lênin chỉ rõ: “Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được. Việc thủ tiêu nhà nước vô sản, nghĩa là việc thủ tiêu mọi nhà nước, chỉ có thể thực hiện được bằng con đường “tiêu vong” thôi”. Bạo lực cách mạng là phương thức duy nhất để một giai cấp mới, tiến bộ giành lấy quyền lực chính trị. Điều đó đúng đối với giai cấp vô sản và hơn thế, với giai cấp vô sản, bạo lực cách mạng còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng nữa, đó là bảo vệ thành quả cách mạng.

 

Trong tác phẩm Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau‐xky, viết xong ngày 10 tháng 11 năm 1918, V.I.Lênin đã đáp trả một cách đanh thép với Cau‐xky khi y nói “chuyên chính vô sản chỉ là câu nói cỏn con của Mác” và xuyên tạc lý luận về bạo lực của Chủ nghĩa Mác, đó là: “Chủ nghĩa xã hội phản đối việc dùng bạo lực đối với các dân tộc. Cái đó thì không ai chối cãi cả. Nhưng chủ nghĩa xã hội nói chung là phản đối việc dùng bạo lực đối với con người. Tuy nhiên, trừ bọn vô chính phủ thiên chúa giáo và những người theo thuyết của Tôn‐xtôi ra, thì cũng chưa có ai lại từ đó mà rút ra kết luận rằng chủ nghĩa xã hội phản đối bạo lực cách mạng cả. Cho nên nếu chỉ nói ʺbạo lựcʺ nói chung mà không phân tích những điều kiện phân biệt bạo lực phản động với bạo lực cách mạng, thì như thế tỏ ra là một kẻ tiểu thị dân từ bỏ cách mạng, hoặc chẳng qua là tự dối mình và đối người khác bằng những lời ngụy biện”.

 

Ngày 7-11-1917, lần đầu tiên, công nhân, nông dân quần chúng lao động bị áp bức bóc lột, dưới sự lãnh đạo của chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, đã đứng lên dùng bạo lực cách mạng đập tan ách thống trị của bọn địa chủ và tư bản, tự mình nắm lấy chính quyền, tự mình bắt tay xây dựng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. Khác với các cuộc cách mạng tư sản thay thế ách thống trị phong kiến bằng ách thống trị của giai cấp tư sản, Cách mạng Tháng Mười thực hiện sứ mệnh giải phóng quần chúng lao động khỏi mọi chế độ áp bức bóc lột, đưa họ từ thân phận người nô lệ làm thuê lên địa vị người chủ của xã hội.

 

Có một sự thật là, V.I.Lênin và những người cộng sản Nga không phải không muốn giành chính quyền về tay cách mạng khi V.I.Lênin và Đảng bônsêvích chủ trương hạn chế ở mức thấp nhất sự đổ máu, mà nếu tránh được thì tốt nhất. Như mọi người đều biết, khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay các xô viết!” là khẩu hiệu của sự phát triển cách mạng một cách hòa bình, sự phát triển đó có khả năng thực hiện vào tháng 4, tháng 5, tháng 6. Cho đến đầu tháng 7-1917, khi chính quyền đã chuyển sang tay bọn độc tài quân phiệt thì khẩu hiệu ấy không còn đúng nữa và Lênin thay bằng khẩu hiệu “Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang!”. Nhưng đến đầu tháng 9-1917, khi có một động thái mới từ phía Đảng Xã hội cách mạng và bọn mensêvích, lại xuất hiện khả năng trở lại với khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay các xô viết”, nghĩa là trở lại khả năng hòa bình phát triển cách mạng, cái khả năng mà Lênin nói là “cực kỳ hiếm hoi trong lịch sử và cực kỳ quý báu”, “cái khả năng đặc biệt hiếm hoi đó” “nếu còn dù chỉ là một phần trăm hy vọng thôi, thì hy vọng đó cũng rất đáng được níu lấy”.

 

Và, V.I.Lênin viết một bài báo ngắn cho tờ “Con đường công nhân” nói rõ: Tôi viết những dòng trên đây hôm thứ Sáu vừa rồi, ngày 1 tháng 9, nhưng do những hoàn cảnh ngẫu nhiên nên đã không gửi đến ban biên tập trong cùng ngày hôm đó được. Sau khi đã đọc báo thứ bảy và báo chủ nhật, hôm nay tôi tự nhủ:... một vài ngày mà trong đó sự phát triển hòa bình của các sự biến vẫn còn có thể có được, có lẽ cũng đã thuộc về quá khứ rồi. Đúng, tất cả mọi cái đều chỉ rõ là những ngày mà ngẫu nhiên người ta có khả năng đi vào con đường phát triển một cách hòa bình, đều đã trôi qua mất rồi. Tôi chỉ còn có cách là gửi những dòng này đến ban biên tập và đề nghị đăng dưới đầu đề là “Những ý nghĩ muộn màng...”. Có thể đôi khi những ý nghĩ muộn màng cũng đem lại một ích lợi nào đấy. Đến khi khởi nghĩa vũ trang đã không thể tránh khỏi, cách mạng còn ra sức bảo vệ các công trình văn hóa của nước Nga và của nhân loại. Một ví dụ rất điển hình là Chiến hạm Rạng Đông khi nã pháo vào Cung điện Mùa Đông đã cố gắng tối đa giữ gìn nguyên vẹn công trình văn hóa - lịch sử nổi tiếng thế giới này. Vậy là, từ mục tiêu cho đến hành động, Cách mạng Tháng Mười thật sự là nhân đạo, văn hóa và văn minh. Không ai có thể bôi nhọ thanh danh của Cách mạng Tháng Mười!

 

Có một sự thật nữa là, đêm ngày 26, rạng sáng 27-10, Đại hội các Xô-viết toàn Nga lần thứ II khai mạc ở Điện Xmô-nưi, tuyên bố thành lập Chính quyền Xô-viết do Lênin đứng đầu với nhiệm vụ hàng đầu là đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản và địa chủ, khẩn trương xây dựng bộ máy nhà nước mới - Nhà nước xã hội chủ nghĩa của những người lao động. Đại hội thông qua hai sắc lệnh do Lênin soạn thảo: “Sắc lệnh hòa bình”, kêu gọi các nước ngừng chiến để đàm phán; “Sắc lệnh ruộng đất”, tuyên bố thủ tiêu quyền tư hữu ruộng đất của địa chủ, chia ruộng đất cho nông dân. Đại hội tuyên bố và thừa nhận quyền phát triển tự do, quyền bình đẳng của các dân tộc Nga; bầu Chính phủ Xô-viết với tên gọi Hội đồng các Ủy viên nhân dân do Lênin đứng đầu. Trong “Diễn văn truy điệu I-a. M. Xvéc-đlốp”, đăng trên báo Sự thật, số 60, ngày 20 tháng Ba năm 1919, V.I.L.Lênin nói rõ về tính tất yếu và bản chất của bạo lực cách mạng của giai cấp công nhân: “Thưa các đồng chí! Theo quan điểm của những người xét đoán sự việc một cách nông cạn, theo quan điểm của số đông những kẻ thù của cuộc cách mạng của chúng ta hoặc theo quan điểm của những người ngày nay còn do dự giữa cách mạng và kẻ thù của cách mạng, thì nét nổi bật nhất của cách mạng là sự trấn áp thẳng tay và kiên quyết đối với bọn bóc lột và đối với những kẻ thù của nhân dân lao động. Hiển nhiên rằng nếu không làm như vậy, nếu không có bạo lực cách mạng, thì giai cấp vô sản sẽ không thể thắng được, nhưng lại cũng chắc chắn rằng bạo lực cách mạng chỉ là một thủ đoạn cần thiết và chính đáng của cách mạng trong những thời kỳ phát triển nhất định của nó, trong những điều kiện nhất định và đặc biệt, còn việc tổ chức quần chúng vô sản, việc tổ chức những người lao động thì trước kia và hiện nay vẫn là một đặc tính sâu xa hơn nhiều, thường xuyên hơn nhiều của cuộc cách mạng đó và là điều kiện của thắng lợi của nó”.

 

Trong “Đại hội VIII Đảng cộng sản (b) Nga”, viết xong chậm nhất ngày 20 tháng Ba năm 1919, đăng lần đầu trên báo Sự Thật, số 113, ngày 22 tháng Tư năm 1956, VI.Lênin đã cảnh báo việc sử dụng bạo lực cách mạng khi Đảng nắm chính quyền: “Ở đây, chúng ta sẽ không làm được gì nếu không có sự giáo dục lâu dài và sự cải tạo lâu dài. Đây là một lĩnh vực mà bạo lực cách mạng và chuyên chính đưa đến những sự lạm dụng, và tôi muốn các đồng chí đề phòng những sự lạm dụng đó. Bạo lực cách mạng và chuyên chính là một điều rất tốt, nếu chúng ta sử dụng nó đúng lúc và đúng đối tượng. Nhưng không nên sử dụng nó trong lĩnh vực tổ chức. Chúng ta hoàn toàn chưa tiến hành tốt công cuộc giáo dục, cải tạo và công tác tổ chức lâu dài; chúng ta phải bắt tay vào việc đó một cách có hệ thống”.

 

Dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, nhất là từ bài học về sử dụng bạo lực cách mạng, đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Đảng ta trong “Điện mật của Trung ương Đảng”, Số 160, ngày 28 tháng 4 năm 1960 “Gửi xứ ủy Nam Bộ” đã chỉ rõ: Con đường giải phóng miền Nam nhất định phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng của Mỹ - Diệm”. Và trong bài Tăng cường đoàn kết nhất trí, tiến tới những thắng lợi mới! (Báo cáo của đồng chí Lê Duẩn về Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân ở Mạc Tư Khoa, đọc trước Hội nghị Trung ương lần thứ ba) đã khẳng định: “Đấu tranh giai cấp, đấu tranh cách mạng bao giờ cũng phức tạp. Chính vì vậy mà V.I. Lênin đã từng dạy những người cộng sản chúng ta rằng giai cấp công nhân cách mạng và đội tiên phong của nó phải ra sức học tập các hình thức đấu tranh, hòa bình và không hòa bình, trong nghị viện và ngoài nghị viện, phải biết kịp thời sử dụng khả năng hòa bình để giành chính quyền Nhà nước khi có điều kiện, nhưng không được ôm ấp những ảo tưởng về khả năng đó, mà luôn luôn chuẩn bị đầy đủ cho khả năng không hòa bình, sẵn sàng dùng bạo lực cách mạng để đối phó với bạo lực phản cách mạng. Chỉ có nắm vững cả hai khả năng thì chúng ta mới không bỏ lỡ thời cơ thuận lợi, mới tránh được sai lầm trong những giờ phút quyết liệt của cuộc đấu tranh cách mạng”.

 

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 20 tháng 12 năm 1976, khi chỉ ra một trong những nguyên nhân thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đó là: “Đó là thắng lợi của phương pháp cách mạng: Sử dụng bạo lực cách mạng tổng hợp bao gồm lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; tiến hành khởi nghĩa từng phần ở nông thôn và từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị; đánh địch bằng ba mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận; kết hợp ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ; thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ; nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài, đồng thời biết tạo thời cơ và nắm vững thời cơ mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tiến công và nổi dậy đè bẹp quân địch giành thắng lợi cuối cùng”.

 

Thêm một sự thật nữa cũng là nguyên lý đó là: Cách mạng phải luôn luôn biết tự bảo vệ. Nguyên lý này càng đặc biệt quan trọng trong những thời điểm bước ngoặt của lịch sử. Rõ ràng là không tự đổi mới thường xuyên và đúng quy luật thì chủ nghĩa xã hội không thể tự bảo vệ có hiệu quả. Ngược lại, nếu cách mạng không biết tự bảo vệ, không kiên định trên những nguyên tắc cách mạng, nhất là từ bỏ bạo lực cách mạng, buông lỏng chuyên chính vô sản, không giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân đã giành được với biết bao mồ hôi và xương máu; nếu từ đội tiên phong đến các cấp chính quyền và tổ chức quần chúng bị rã rời, mất sức chiến đấu, thúc thủ và bất lực trước sức tấn công của kẻ thù thì sẽ chẳng còn gì để đổi mới, cải cách, cải tổ!

 

Như vậy, sự thật trên đã bác bỏ mọi luận điệu khi cho rằng: Cách mạng Tháng Mười là “say mê bạo lực”. Theo đó, giá trị của Cách mạng Tháng Mười vẫn vĩnh hằng và tiếp tục soi sáng con đường chúng ta đi.


Theo QĐND

TRÁCH NHIỆM CỦA MỌI NGƯỜI TRONG BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA!

     Cách đây hơn 100 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bôn-sê-vích Nga đứng đầu là V.I.Lênin, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, mở ra một thời đại mới cho nhân loại - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Trong lịch sử loài người, chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Từ Cách mạng Tháng Mười, chỉ trong một thời gian ngắn, nước Nga lạc hậu và bị tàn phá, hầu như bị kiệt quệ đã trở thành một siêu cường; khẳng định bản chất cách mạng triệt để và khoa học sâu sắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, cung cấp những bài học lịch sử vô giá cho các cuộc cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Khi bàn về Cách mạng Tháng Mười Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái đất./.


Yêu nước ST.

Độc lập, tự chủ

 

Đảng ta coi quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là tất yếu khách quan, nảy sinh và ngày càng sâu đậm trong quá trình đổi mới, phát triển đất nước và mở cửa hội nhập với thế giới. Đó là mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau, tạo tiền đề, điều kiện cho nhau, phát huy lẫn nhau, vừa thống nhất, thúc đẩy nhau nhưng nếu không xử lý tốt có thể tác động làm hạn chế, kìm hãm lẫn nhau trong việc bảo đảm lợi ích của quốc gia - dân tộc. Bảo đảm hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh hội nhập trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh của đất nước; hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế; hội nhập là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi. Đảng xác định độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện, tiền đề để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Có độc lập, tự chủ thì  mới quyết định đúng lộ trình, bước đi, cách thức, nội dung, biện pháp, đối tác, các lĩnh vực hội nhập quốc tế. Quan điểm và chính sách liên quan tới độc lập, tự chủ của Đảng ta luôn được cụ thể hóa, bổ sung và phát triển theo sự chuyển biến của tình hình trong nước và quốc tế. Điều đó đã mở đường cho quá trình hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng, phục vụ thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hội nhập quốc tế

 

Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người. Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là một trong những động lực thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế đang trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện nay. Hội nhập quốc tế là quá trình diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau theo tiến trình từ thấp đến cao.

Dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, hội nhập quốc tế đã trở thành xu hướng phổ quát thế giới và tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động hết sức to lớn tới mọi mặt đời sống của từng quốc gia và toàn thế giới. Trên thực tế cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm “hội nhập quốc tế”. Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, tạo thành sức mạnh tập thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm. Về bản chất, hội nhập quốc tế là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu và lợi ích chung trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Trong thời đại toàn cầu hóa và sự tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, hội nhập quốc tế là tất yếu, là nhu cầu tồn tại và phát triển của các nước. Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Từ khi tham gia hội nhập quốc tế, chúng ta đã tạo lập, củng cố môi trường hòa bình, hợp tác, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; cải thiện đời sống nhân dân, củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào công cuộc đổi mới; nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Phẩm chất và năng lực của cán bộ

 

Tập trung xây dựng bản lĩnh chính trị của cán bộ thật sự kiên định vững vàng, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; có năng lực đề xuất những chủ trương, giải pháp đúng đắn, sáng tạo đối với cấp ủy và người chỉ huy; gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao để xây dựng cho từng cán bộ có động cơ cách mạng trong sáng, “có tâm, có tầm”, mẫu mực về phẩm chất, lối sống, được thể hiện ở sự khát khao cống hiến, luôn tận tâm, tận lực với công việc, nhiệm vụ.

Về trí tuệ và năng lực thực tiễn, tổ chức tốt các hoạt động học tập, nghiên cứu từng cơ quan, đơn vị về đường lối, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của Đảng, của quân đội trong tình hình mới; trang bị cho đội ngũ cán bộ nhận thức sâu sắc các vấn đề cơ bản của tư duy logic, tư duy biện chứng, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng; có khả năng phân tích sáng rõ các diễn biến chính trị trong nước, khu vực, quốc tế, nhận rõ mâu thuẫn và chiều hướng phát triển trong tương lai theo đúng quan điểm của Đảng.

 

Vấn đề cơ bản, hệ trọng trong công tác cán bộ

 

Điều động cán bộ về công tác tại đơn vị bảo đảm chặt chẽ về việc thẩm tra, xác minh lựa chọn cán bộ. Phòng Cán bộ, trực tiếp là cán bộ được phân công thẩm tra, xác minh phải thực sự tâm huyết, phát huy tinh thần trách nhiệm, thực hiện đúng quy trình, trực tiếp gặp gỡ trao đổi, thông qua cấp ủy, thủ trưởng đơn v, quan cán bộ, cơ quan bảo vệ an ninh... để c kết luận bảo đảm chặt chẽ về việc thẩm tra, xác minh lựa chọn cán bộ chính xác về phẩm chất, năng lực, nhất là năng lực chuyên môn theo hướng mà cán bộ sẽ đảm nhiệm.

Đánh giá, quy hoạch, bố trí sử dụng cán bộ là vấn đề cơ bản, hệ trọng, là điểm xuất phát và là cơ sở để làm tốt các khâu khác trong công tác cán bộ. Đảng ủy đơn vị, cấp ủy các cấp đã thực tốt trong đánh giá cán bộ, mọi ý kiến đều được lắng nghe, trên tinh thần nói thẳng, nói thật những mặt mạnh, mặt yếu, ưu điểm và khuyết điểm của cán bộ; có các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể xây dựng đội ngũ cán bộ tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Việt Nam được bầu vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc

 

Việt Nam đã tham gia sâu rộng và ngày càng hiệu quả ở các tổ chức khu vực như ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á -Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn á - Âu (ASEM) và đang tích cực đàm phán để sớm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Những đóng góp của Việt Nam vào các hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế đã góp phần từng bước nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Sự tham gia và hoạt động tích cực của Việt Nam ở Liên Hợp Quốc cũng được các nước đánh giá tích cực và đó là cơ sở để Việt Nam ứng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc.

Với nhận thức sâu sắc rằng thế giới hiện nay đang phải đối phó với những vấn đề toàn cầu mà không một nước nào có thể tự đứng ra giải quyết được, Việt Nam đã và đang hợp tác chặt chẽ với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực để cùng nhau giải quyết những thách thức chung như dịch bệnh truyền nhiễm, đói nghèo, tội phạm xuyên quốc gia, ô nhiễm môi trường, buôn lậu ma túy, ... Đặc biệt từ sau sự kiện 11/9/2001, Việt Nam đã tích cực tham gia vào nỗ lực chung của các nước tăng cường hợp tác chống khủng bố trên cơ sở song phương và đa phương nhằm loại trừ tận gốc nguy cơ của khủng bố đối với an ninh và ổn định của các quốc gia.

Những nỗ lực này của Việt Nam thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm của mình đối với bạn bè ở khu vực và quốc tế, góp phần vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, ổn định và phát triển.

Tập trung dân chủ trong công tác cán bộ

 

Quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ. Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc, là kỷ luật của mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; kết hợp đúng đắn chế độ lãnh đạo tập thể với phát huy trách nhiệm cá nhân, dân chủ với tập trung. Trước khi quyêt định nhân sự về cán bộ thực hiện đúng quy định tham khảo ý kiến của các cấp, bằng việc thăm dò ý kiến phù hợp với từng đối tượng. Để việc lựa chọn cán bộ, bảo đảm chất lượng, cấp ủy đã rà soát bổ sung, xây dựng quy chế thống nhất, quy định rõ tiêu chí cán bộ cho từng cấp, từng lĩnh vực hoạt động; quy định rõ các điều kiện phảỉ có như: Chức vụ đã qua, quân hàm, đào tạo, tuổi đời; quy định về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, kết quả nhiệm vụ, khen thưởng, kỷ luật.