Thứ Ba, 7 tháng 3, 2023

Nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong bối cảnh hiện nay

 


Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo hiện nay, nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vận mệnh của chủ nghĩa xã hội đang có nhiều thách thức. Sản xuất vật chất vẫn là yếu tố quyết định nhất với tồn tại và phát triển của xã hội hiện đại. Thực tiễn sản xuất công nghiệp hiện đại đang diễn ra theo xu thế xã hội hóa cả bề rộng và chiều sâu. Thông qua vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình sản xuất với công nghệ hiện đại, năng xuất, chất lượng cao và đảm bảo cho phát triển bền vững, sứ mệnh lịch sử của họ với xã hội hiện đại ngày càng rõ ràng hơn với thế kỷ XIX. Tuy vậy, thực tế còn xác nhận rằng, nhờ nắm giữ những ưu thế trong kinh tế thị trường như vốn, công nghệ, thị trường độc quyền, kinh nghiệm quản lý, giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản còn nhiều tiềm năng phát triển và có khả năng duy trì sự thống trị của mình. Sự đổ vỡ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu, Liên Xô (1989 - 1991) vẫn còn ảnh hưởng tiêu cực và làm suy giảm tình cảm, niềm tin với lý tưởng của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội. Sự suy giảm của phong trào công nhân và chủ nghĩa cơ hội xét lại trong phong trào công nhân cũng đang có xu hướng phát triển sau khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiện thực đến nay đang có tác động xấu đến việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở mỗi nước cũng như trên phạm vi thế giới. Cần nhận thức rõ rằng: chủ nghĩa tư bản hiện đại đang có nhiều điều chỉnh, do vậy vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển và chưa bao giờ từ bỏ việc chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào công nhân. Chủ nghĩa xã hội hiện thực tuy đã đạt nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong cải cách, đổi mới nhưng vẫn còn nhiều khó khăn phía trước. Hơn lúc nào hết, cần có một tư duy khoa học, để thấy được đúng triển vọng của chủ nghĩa xã hội, của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Tránh tư duy bồng bột “tả khuynh”, ấu trĩ, nhưng cũng cần tránh tư duy “hữu khuynh”, bi quan về hiện thực. Cái nhìn biện chứng về lịch sử là rất phù hợp khi nhận định vấn đề này. Sứ mệnh lịch sử của giai cáp công nhân vẫn đang được hiện thực hóa qua những biểu hiện cơ bản sau: Định hướng xã hội chủ nghĩa của nhiều nước trên thế giới hiện nay; lực lượng sản xuất xã hội hóa đang ứng dụng nhiều thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại; mâu thuẫn về lợi ích cơ bản giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản ngày càng sâu sắc ở từng nước tư bản chủ nghĩa và trên toàn cầu; những tiến bộ xã hội đạt được từ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân chống bất công, bất bình đẳng trong chế độ tư bản chủ nghĩa; cuộc đấu tranh vì một toàn cầu hóa khác, vì sự phát triển nhanh, nhân bản và bền vững giời đây trở thành một nội dung hữu cơ khi thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Thực hiện nội dung chính trị, văn hóa- xã hội sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay

 


Ở nhiều quốc gia, chế độ xã hội chủ nghĩa đã được giữ vững quyền lực chính trị đã thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng và thực thi thông qua nhà nước. Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đạt được nhiều thành tựu trong quá trình phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố. Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ gìn phát huy chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong bối cảnh hiện nay vẫn là những nhiệm vụ cấp bách và đứng trước nhiều thách thức phức tạp. Hệ giá trị của giai cấp công nhân bước đầu được khẳng định là hệ giá trị cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp giải phóng dân tộc, xã hội và con người đã có được những thành tựu căn bản làm cơ sở cho trình độ phát triển mới. Tuy vậy, cuộc đấu tranh về tư tưởng chính trị, sự khẳng định hệ giá trị của giai cấp công nhân đang còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp và bị cạnh tranh bởi các tàn dư của ý thức hệ tư sản, phong kiến và những biểu hiện của “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thực hiện nội dung kinh tế sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay

 


Các nước này đều đang trong tiến trình cải cách, đổi mới, công nghiệp hóa theo mô hình mới và đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế - xã hội theo hướng kinh tế thị trường có vai trò quản lý của nhà nước. Bước đầu đã khẳng định được vai trò cùng mối quan hệ giữa phát triển giai cấp công nhân, đẩy mạnh công nghiệp hóa và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng hiện đại là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Một trong những vấn đề lớn ở nhiều nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay là sự nghiệp công nghiệp hóa vẫn chưa hoàn thành, công nhân còn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số lao động, trình độ xã hội hóa lao động chưa cao; vì vậy sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân còn chưa đủ điều kiện vật chất để hoàn thành.

Thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay

 


Sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng. Tuy nhiên, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tiếp tục phát triển với những mục tiêu cụ thể. Trước mắt, giai cấp công nhân cần xác định những mục tiêu, con đường và biện pháp đấu tranh phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước. Ở các nước tư bản, trong khi chưa thể lật đổ được giai cấp tư sản bằng cách mạng xã hội, trên cơ sở những mục tiêu của thời đại (hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội), giai cấp công nhân cần chú trọng mục tiêu đấu tranh vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội. Trên thực tế, giai cấp công nhân ở các nước tư bản vẫn không ngừng đấu tranh và những cải thiện về điều kiện vật chất, tinh thần, vấn đề an sinh xã hội chính là kết quả đấu tranh lâu dài mới có được. Trên thế giới đã và đang xuất hiện những xu hướng, những mô hình phát triển mới, tiến bộ: Chủ nghĩa xã hội dân chủ, mô hình chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI (các phong trào cánh tả ở Nam Mỹ). Họ đang kế thừa những mặt tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu trước đây; đẩy mạnh phát triển kinh tế, coi trọng các giá trị đạo đức, tinh thần; đoàn kết dân tộc; chú trọng kinh nghiệm quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa như Cuba, Việt Nam, Trung Quốc....

Những nhân tố tác động đến cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân hiện nay

 


Một là, theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, để một cuộc cách mạng có thể nổ ra và giành thắng lợi cần phải có những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định, mà Lênin gọi là tình thế cách mạng. Lênin viết: "Muốn cách mạng thì riêng việc quần chúng bị áp bức và bóc lột nhận thức được rằng không thể sống như trước nữa và đòi phải có sự thay đổi, cũng chưa đủ; muốn có cách mạng, còn phải có tình hình là những kẻ bóc lột cũng không thể sống và thống trị như trước được nữa. Chỉ khi nào những người bên dưới không muốn tiếp tục sống như trước nữa và những kẻ bên trên cũng không thể tiếp tục sống như trước nữa thì cách mạng mới có thể thắng lợi. Không thể có cách mạng nếu không có một cuộc khủng hoảng toàn quốc (rung động cả những người bị bóc lột lẫn những kẻ bóc lột)"[1]. Tình thế cách mạng là kết quả của một quá trình vận động của xã hội, trong đó trình độ phát triển xản xuất chỉ là yếu tố xét đến cùng. Nói cách khác, khi quan hệ sản xuất không còn phù hợp với lực lượng sản xuất thì nó nhất định bị phá vỡ. Nhưng quan hệ sản xuất bị phá vỡ lúc nào thì điều đó còn phụ thuộc hàng loạt nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, trong đó hoạt động của giai cấp công nhân đại biểu cho lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định. Đó là lý do tại sao cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga lại nổ ra và giành thắng lợi mà không nổ ra ở các nước tư bản phát triển như Anh, Pháp.

Hai là, mặc dù về cơ bản các Đảng Cộng sản ở các nước tư bản phát triển đều ra đời sớm có bề dày kinh nghiệm hoạt động; được hoạt động công khai (khác hẳn Đảng ta trong những năm chưa giành được chính quyền) và có mối quan hệ quốc tế rộng rãi. Tuy nhiên, trong môi trường đa đảng và không phải đảng cầm quyền nên vai trò bị lu mờ, vị thế thấp; việc tuyên truyền giác ngộ giai cấp hạn chế, chưa có đường lối chiến lược, sách lược phù hợp. Chưa đủ những điều kiện khách quan, chủ quan để tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, hiện nay, chủ nghĩa xã hội đang lâm vào thoái trào, trong khi đó chủ nghĩa tư bản biết tận dụng triệt để những thành quả của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại để tiếp tục tồn tại và phát triển, thông qua quá trình điều chỉnh quan hệ sản xuất để thích nghi với điều kiện mới. Các nước tư bản chủ nghĩa vẫn còn vai trò to lớn trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu của thời đại và chiếm ưu thế trong cuộc đấu tranh lập lại trật tự thế giới mới. Các nước chậm phát triển cơ bản nằm trong quỹ đạo và chịu sự chi phối của chủ nghĩa đế quốc. Mâu thuẫn giai cấp, dân tộc ngày càng gay gắt nhưng chưa đủ hội tụ, đủ điều kiện để cách mạng nổ ra. Điều đó làm cho cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa có chỗ dựa, chưa có lực lượng hậu thuẫn mạnh mẽ và hùng hậu.

Bốn là, về mặt chủ quan, sự giác ngộ của giai cấp công nhân chưa phát triển đến trình độ để có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Ở các nước tư bản phát triển, đời sống của giai cấp công nhân lao động ít nhiều được cải thiện. Do đó, họ vẫn ảo tưởng vào những cải thiện trong đời sống vật chất mà họ được hưởng. Vì vậy, họ tạm thời thỏa mãn về điều kiện hiện tại, chưa lâm vào tình trạng "không thể sống được” nên vùng lên đấu tranh còn ở mức độ. Các tầng lớp giai cấp trung gian như nông dân, trí thức... một số không nhỏ bị mua chuộc lung lạc nên an bài với cuộc sống hiện tại,  còn hàm ơn Nhà nước tư bản. Mặt khác, giai cấp công nhân cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức rất lớn: Tác động của mặt trái toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu; đời sống, việc làm, an sinh xã hội; các tệ nạn xã hội; những thủ đoạn mỵ dân của chủ nghĩa tư bản.



[1] V.I.Lê nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1978, tập 41, tr86

Đấu tranh phủ nhận quan điểm: Giai cấp công nhân có thể có khả năng lật đổ xã hội cũ, song không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng thành công một xã hội mới.

 


Không thể bác bỏ vai trò, sứ mệnh lịch sử hiển nhiên của giai cấp công nhân, những người chống lại chủ nghĩa Mác xuyên tạc rằng, chủ nghĩa xã hội hiện thực nảy sinh từ Cách mạng Tháng Mười là một sự lầm lạc của lịch sử. Thậm chí, khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, có luận điểm cho rằng, giai cấp công nhân có thể có khả năng lật đổ xã hội cũ, song không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng thành công một xã hội mới.  Quan điểm này hết sức sai lầm, bởi sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa vừa qua ở Liên Xô và Đông Âu do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan về thực hiện mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tế các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Việt Nam, Trung Quốc... giai cấp công nhân và chính đảng của nó đã và đang trong quá trình không ngừng trí thức hóa, nên đã giữ vững và phát triển thành quả cách mạng, thu được rất nhiều thành tựu trong xây dựng xã mới tốt đẹp.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trên thế giới hiện nay


 Giai cấp công nhân hiện nay vẫn là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Về địa vị kinh tế - xã hộ, giai cấp công nhân vẫn là lực lượng đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến. Trong nền sản xuất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, về cơ bản giai cấp công nhân vẫn không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động (chân tay và trí óc), bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư (lao động chân tay và lao động trí óc). Do đó, tính triệt để cách mạng, thuộc tính bản chất của giai cấp công nhân do địa vị kinh tế - xã hội khách quan quy định không hề mất đi mà còn được tôi luyện, củng cố và phát triển. Do yêu cầu của sản xuất với trình độ kỹ thuật ngày càng cao, quy trình sản xuất ngày càng chặt chẽ, nghiêm nghặt, những thuộc tính vốn có của giai cấp công nhân như: tính tổ chức kỷ luật và tính tiền phong cách mạng ngày càng được tôi luyện, củng cố, phát triển. Mặt khác, giai cấp công nhân ngày càng giác ngộ sâu sắc hơn về sứ mệnh lịch sử của mình. Năng lực trí tuệ của giai cấp công nhân từng bước được nâng lên đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo quần chúng lao động trong cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và trong nền kinh tế tri thức hiện nay. Do đó, xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, giai cấp công nhân vẫn là lực lượng quyết định xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa để giành lấy chính quyền và xây dựng chế độ xã hội mới cộng sản chủ nghĩa. 

Giai cấp công nhân hiên nay

 


Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là giai cấp làm thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và lệ thuộc vào thị trường lao động tư bản và trở thành một thứ hàng hóa đặc biệt, chịu mọi sự may rủi của cạnh tranh và mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ khác nhau. Công nhân với tư cách là giai cấp bị trị, cũng đã học được nhiều biện pháp đấu tranh hợp pháp từ nền dân chủ tư sản, qua đó tích lũy được nhiều kinh nghiệm đấu tranh chính trị. Tính chất chuyên chế của chế độ chính trị tư sản cũng thúc đẩy giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động đấu tranh chính trị chống áp bức, bất công. Nó rèn luyện các phẩm chất, năng lực của một giai cấp cách mạng như tính tổ chức, tinh thần triệt để cách mạng, khả năng liên minh với giai cấp, tầng lớp khác vừa mang bản chất quốc tế, vừa mang đặc điểm dân tộc. Nhìn chung, thực tiễn chính trị - xã hội của chế độ tư sản tạo ra các điều kiện để hình thành một cách khách quan những phẩm chất cách mạng cho giai cấp công nhân.Từ những phân tích trên đây có thể định nghĩa: "Giai cấp công nhân ngày nay là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế - xã hội thì tùy thuộc vào chế độ xã hội đương thời: ở các nước tư bản, họ là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là những người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động cho mình"[1].



[1] HĐLLTW: Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại hiện nay, NxbCTQG, H.1996, tr97-98

Đời sống vật chất của giai cấp công nhân không ngừng được cải thiện

 


Phần lớn công nhân không còn là những người vô sản như Mác và Ăngghen mô tả. Một số công nhân có tư liệu sản xuất, có cổ phần trong các xí nghiệp, tựa hồ như họ chính là chủ trong các xí nghiệp. Ở Mỹ 1 công nhân bình thường có thu nhập trung bình 10,18USD/giờ[1]; ở Ôxtrâylia, 1 thợ hàn có thu nhập trung bình 2000 USD/ngày, thợ nề và lao động chân tay là 1.600 USD/ tuần[2]; Hiện nay, phần lớn gia đình công nhân ở Nhật có ô tô và hầu hết công nhân Mỹ đi làm bằng ô tô riêng. 10 tập đoàn tư bản trả lương bình quân năm 2015 cho nhân viên cao nhất thế giới USD/năm[3]. Điều đó, không làm thay đổi sự thật là toàn bộ tư liệu sản xuất cơ bản nhất, quyết định nhất đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn nằm trong tay giai cấp công nhân, còn giai cấp công nhân về cơ bản vẫn không có tư liệu sản xuất nên phải bán sức lao động cho giai cấp tư sản để kiếm sống và vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư.



[1] Số liệu của Viện nghiên cứu chính sách Mỹ(IPS) 2010.

[2] TheoVietnamese Social Network ngày 26- 5- 2011.

[3] Báo Pháp luật online, ngày 26-5 - 2011.

Trình độ của giai cấp công nhân hiện nay không ngừng phát triển

 


Trong nền sản xuất hiện đại, nhất là ở các nước tư bản phát triển, “công nhân truyền thống” như “cổ áo xanh”, “cổ cồn”... theo mô tả của Mác, ít thấy xuất hiện. Do yêu cầu của nền sản xuất hiện đại dựa trên cơ sở kinh tế tri thức, giai cấp công nhân đã và đang phát triển thành công nhân trí thức. Theo thống kê của ILO (Tổ chức lao động quốc tế) và WB (Ngân hàng thế giới), hiện đã có trên 40% công nhân ở các nước tư bản có trình độ học vấn từ trung học đến sau đại học. Riêng ở Nhật có tới 90% công nhân có trình độ đại học và sau đại học, ở Mỹ tỉ lệ này là trên 30%, Hàn Quốc trên 20%. Về đào tạo nghề: ở Đức có 75%, Ba Lan và Hungari là 33% công nhân được đào tạo nghề một cách có hệ thống[1]. Tuy nhiên, trình độ tri thức không làm thay đổi bản chất của giai cấp công nhân với tính cách là giai cấp làm thuê cho giai cấp tư sản trong hoạt động sản xuất công nghiệp. Sự khác nhau là ở chỗ, trước kia công nhân bán sức lao động chân tay là chủ yếu thì nay bán cả sức lao động chân tay và sức lao động trí óc.



1Một số vấn đề phát triên lý luận về giai cấp công nhân Việt Nam..., NXB Lao động, HN, 2010, tr.65.

Số lượng, cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân hiện nay ngày càng đa dạng

 


 Số lượng, cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân ngày càng đa dạng. Hiện nay, do tận dụng được thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản đảng chuyển dần sang nền kinh tế tri thức. Với tư cách là con đẻ của nền sản xuất hiện đại, giai cấp công nhân vì thế cũng có sự biến đổi theo. Cơ cấu giai cấp giai cấp công nhân ở các nước tư bản hiện nay đã có sự thay đổi lớn. Bên cạnh công nhân của nền công nghiệp cơ khí đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp tự động hóa với trình độ kỹ thuật cao hơn trước. Họ là những người làm thuê cho giai cấp tư sản trong những ngành nghề hết sức khác nhau: Những người trực tiếp điều khiển máy móc; những người làm công tác nghiên cứu, thiết kế, chế tạo; là những người làm việc trong các ngành dịch vụ phục vụ cho sản xuất. Theo thống kê của ILO (Tổ chức lao động quốc tế) và WB (Ngân hàng thế giới), thì năm 1900 trên thế giới có 90 triệu công nhân, năm 1990 đã lên 600 triệu, 1998 là 800 triệu, hiện nay ước tính có khoảng 1 tỉ công nhân. Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân, có thể coi những người lao động trong các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp là công nhân; còn những người làm công ăn lương phục vụ trong các ngành y tế, giáo dục, văn hóa, dịch vụ không liên quan đến sản xuất công nghiệp là người lao động nói chung, không phải là công nhân. Như vậy, dù ngành nghề của họ có đa dạng hơn, nhưng công nhân vẫn là công nhân và bản thân giai cấp công nhân cũng không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Nội dung chính trị - xã hội về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 


 Giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành cách mạng chính trị lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xác lập, bảo vệ và phát triển chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được xác lập và trở thành công cụ có hiệu lực để lãnh đạo chính trị, quản lý kinh tế và xã hội trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đây là những vấn đề cơ bản của tiến trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Ngoài ra, nội dung này còn bao gồm việc giai cấp công nhân giải quyết đúng đắn các vấn đề chính trị - xã hội đặt ra trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, như: liên minh các giai cấp - tầng lớp, đoàn kết các dân tộc, xây dựng xã hội mới, con người mới…thông qua đó, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước và tính tự giác của nhân dân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng, nếu không giải quyết tốt những vấn đề này thì thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân sẽ không thành công.

 

Một số định hướng giải quyết vấn đề di cư ở Việt Nam hiện nay

 


Xác định di cư là tất yếu của cung cầu thị trường lao động. Hiện nay có hiện tượng mua quốc tịch trên thế giới (Bồ Đào Nha: 180.000 USD. Năm cần ở Bồ Đào Nha 1 tuần sau 5 năm); Cộng Hòa Síp 2 triệu đô la. Cần xây dựng những chính sách nhằm đảm bảo có một cấu trúc đô thị cân bằng hơn giữa các vùng để giảm sức ép đô thị hóa ở hai thành phố lớn nhất của cả nước. Chủ trương của nhà nước trong những năm tới về xóa bỏ hệ thống đắng ký hộ khẩu hiện hành sẽ góp phần quan trọng trong việc thúc đảy thực hiện bình đẳng xã hội trong tiếp cận các dịch vụ công đối với người di cư. Tập trung xây dựng nông thôn mới, tạo việc làm cho người lao động. Xây dựng mô hình phát triển sản xuất ở nông thôn: Tập trung sản xuất lớn với sự tích tụ ruộng đất, đầu tư của khoa học công nghệ, gắn liền với đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho lực lượng lao động và tìm kiếm thị trường cho đầu ra của sản phẩm của nông nghiệp, thông qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện tích cực đời sống ở khu vực nông thôn. Xây dựng tâm niệm “ly nông, không ly hương”. Quản lý và tạo điều kiện cần thiết cho người nhập cư. Những hỗ trợ đặc biệt cần được thực hiện sớm để sớm ổn định cuộc sống cho người di cư. Cần phải tăng cường đầu tư cho các hoạt động kiểm soát và phòng ngừa lây nhiễm dịch bệnh.

 

Nội dung kinh tế sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa công sản. Giai cấp công nhân dù ở chế độ chính trị nào, cũng là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất bằng phương thức sản xuất xã hội hóa cao để sản xuất ngày càng nhiều của cải, đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của con người. Qua đó họ tạo ra tiền đề vật chất - kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội mới. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân thông qua quá trình công nghiệp hóa và thực hiện “một kiểu tổ chức xã hội mới về lao động” để tăng năng xuất lao động và thực hiện các nguyên tắc sở hữu, quản lý và phân phối phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất và tiến bộ, công bằng xã hội. Nội dung kinh tế này là yếu tố sâu xa nhất khẳng định sự cần thiết của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đối với quá trình phát triển của văn minh nhân loại. Thực hiện đầy đủ và thành công nội dung kinh tế này cũng là điều kiện vật chất để chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản.

Giai cấp công nhân với đặc điểm chính trị-xã hội.

 


Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là giai cấp làm thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và lệ thuộc vào thị trường lao động tư bản và trở thành một thứ hàng hóa đặc biệt, chịu mọi sự may rủi của cạnh tranh và mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ khác nhau. Giai cấp công nhân bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư. Sở hữu tư bản tạo ra độc quyền phân chia giá trị thặng dư, về bản chất là lao động không được trả công của người công nhân. Lao động sống của công nhân là nguồn gốc cơ bản của giá trị thặng dư và sự giàu có của giai cấp tư sản cũng chủ yếu nhờ vào việc bóc lột được ngày càng nhiều giá trị thặng dư. Đây là mâu thuẫn cơ bản về lợi ích giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Mâu thuẫn này là không thể điều hòa và nó chỉ có thể được giải quyết bằng việc xóa bỏ, thay thế chế độ bóc lột giá trị thặng dư trên cơ sở xác lập một quan hệ sản xuất mới dựa trên chế độ sở hữu xã hội về những tư liệu sản xuất chủ yếu. Giai cấp công nhân và giai cấp tư sản vừa đối lập nhau về lợi ích cơ bản, vừa phụ thuộc nhau về lợi ích hàng ngày trong thị trường sức lao động. Sức lao động của giai cấp công nhân trở thành hang hóa là điều kiện cần cho quá trình sản xuất giá trị thặng dư của giai cấp tư sản. Vì mục tiêu tăng thêm lợi nhuận, giai cấp tư sản có nhu cầu ngày càng tang về sức lao động của giai cấp công nhân. Ngược lại, bán được sức lao động cũng là tiền đề cho việc bảo đảm đời sống của công nhân. Hai bên đều phụ thuộc vào quy luật cung, cầu của thị trường hang hóa sức lao động. Tác động qua lại về lợi ích giữa hai giai cấp này tạo nên tính xchaats phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp hiện đại. Chế độ chính trị, nhà nước pháp quyền tư sản cũng đã tác động hai mặt đến công nhân. Nó hình thành cho công nhân - với tư cách là công dân, thói quen tuân thủ pháp luật hiện hành, theo đó, các phản ứng ban đầu, của giai cấp này với chế độ tư sản, thường là với trình độ của chủ nghĩa công liên. Công nhân với tư cách là giai cấp bị trị, cũng đã học được nhiều biện pháp đấu tranh hợp pháp từ nề dân chủ tư sản, qua đó tích lũy được nhiều kinh nghiệm đấu tranh chính trị. Tính chất chuyên chế của chế độ chính trị tư sản cũng thúc đẩy giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động đấu tranh chính trị chống áp bức, bất công. Nó rèn luyện các phẩm chất, năng lực của một giai cấp cách mạng như tính tổ chức, tinh thần triệt để cách mạng, khả năng liên minh với giai cấp, tầng lớp khác vừa mang bản chất quốc tế, vừa mang đặc điểm dân tộc. Nhìn chung, thực tiễn chính trị - xã hội của chế độ tư sản tạo ra các điều kiện để hình thành một cách khách quan những phẩm chất cách mạng cho giai cấp công nhân.

Giai cấp công nhân với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật.

 


Giai cấp công nhân là lực lượng sản xuất vật chất hàng đầu của xã hội hiện đại. Xã hội nào cũng tồn tại và phát triển trên cơ sở sản xuất và tiêu thụ của cải vật chất. Sản xuất hiện đại về cơ bản bằng phương thức công nghiệp và giai cấp công nhân là chủ thể tiêu biểu của quá trình sản xuất quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội hiện đại. Đây là nhân tố khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân, xét từ góc độ kinh tế- kỹ thuật, là lao động bằng phương thức công nghiệp mang tính chất xã hội hóa ngày càng cao. V.I.Lênin viết: “…đại công nghiệp cơ khí khác với các hình thức công nghiệp trước đây, có thể tóm tắt như sau: Xã hội hóa lao động…sản xuất ở trong nước ngày càng được xã hội hóa, và do đấy, làm cho người tham gia sản xuất cũng ngày càng được xã hội hóa”[1]. Chính từ quá trình xã hội này, nhiều tiền đề, nhân tố của chủ nghĩa xã hội dần được hình thành. Giai cấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến. Do gắn liền với phương thức lao động công nghiệp ngày càng hiện đại, mang trình độ xã hội hóa và có năng xuất lao động cao, giai cấp công nhân có được những phẩm chất của một giai cấp tiên tiến. Đại công nghiệp đã rèn luyện và tạo ra cho giai cấp công nhân những đặc điểm về tính tổ chức, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác, tâm lý lao động công nghiệp…Những đặc điểm ấy lại chính là những phẩm chất cần thiết cho một giai cấp có tính cách mạng và có năng lực lãnh đạo cách mạng.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2005, t3, tr.693-694.

Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về giai cấp công nhân

 


C.Mác, PhĂnghen đã dùng nhiều thuật ngữ “như những từ đồng nghĩa”[1] để chỉ giai cấp công nhân, như: “người vô sản”, “giai cấp vô sản”, “giai cấp công nhân”, “giai cấp công nhân hiện đại”,…Mỗi khái niệm mà các ông dùng nhằm nhấn mạnh một đặc trưng của giai cấp công nhân. Từ thực tế của Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (từ giữa thế kỷ XVIII) và theo quan niệm duy vật lịch sử, C.Mác, PhĂnghen nhận thấy, giai cấp công nhân “là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”[2], là chủ thể trực tiếp và quyết định nhất của quá trình sản xuất vật chất. Về mặt lịch sử, những người vô sản đầu tiên xuất hiện trong công nghiệp và trực tiếp do công nghiệp sản sinh ra. “Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra; cuộc cách mạng này sảy ra ở Anh vào nửa sau của thế kỷ trước, và sau đó tái diễn ở tất cả các nước văn minh trên thế giới. Sở dĩ có cuộc cách mạng đó, là do có sự phát minh ra máy hơi nước, các thứ máy kéo sợi, máy dệt và hang loạt những thiết bị máy móc khác”[3]. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đương đại, mà tiêu biểu là việc ứng dụng máy móc trong sản xuất và dịch vụ đã làm xuất hiện giai cấp công nhân. Đại công nghiệp hay quá trình công nghiệp hóa, đã làm biến đổi sâu sắc tồn tại xã hội nhờ việc ứng dụng máy móc vào sản xuất và dịch vụ, cùng với đó là những biến đổi sâu sắc về tổ chức, quản lý sản xuất và nói chung, là tất cả các phương diện của đời sống xã hội. “Công nghiệp nhỏ đã tạo nên giai cấp tư sản, công nghiệp lớn đã tạo nên giai cấp công nhân”[4]. Giai cấp công nhân phân biệt với các gia cấp - tầng lớp lao động khác bởi phương thức lao động công nghiệp của họ. Phương thức này có những đặc điểm sau: sản xuất bằng máy móc, lao động có tính chất xã hội hóa, năng xuất lao động cao và tạo ra những tiền đề cho xã hội mới. Từ lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân còn là sản phẩm xã hội của quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa, một xã hội có điều kiện tồn tại dựa trên cơ sở chế độ làm thuê.

Trong cách nhìn duy vật biện chứng, về lịch sử, sự thống trị của giai cấp tư sản, đặc biệt là của bộ phận tư sản đại công nghiệp được chủ nghĩa Mác xem như một điều kiện ban đầu cho sự phát triển giai cấp công nhân. C. Mác viết: “Nói chung, sự phát triển của giai cấp vô sản công nghiệp được quy định bởi sự phát triển của giai cấp tư sản công nghiệp. Chỉ có dưới sự thống trị của giai cấp này thì sự tồn tại của giai cấp vô sản công nghiệp mới có được một quy mô toàn quốc, khiến nó có thể nâng cuộc cách mạng của nó lên thành một cuộc cách mạng toàn quốc; chỉ có như thế thì bản thân giai cấp vô sản công nghiệp mới có được một quy mô toàn quốc, khiến nó có thể nâng cuộc cách mạng của nó lên thành một cuộc cách mạng toàn quốc; chỉ có như thế thì bản thân giai cấp vô sản công nghiệp mới có thể tạo ra những tư liệu sản xuất hiện đại, tức là những thứ đều trở thành những phương tiện để thực hiện sự nghiệp giải phóng cách mạng của nó. Chỉ có sự thống trị của giai cấp tư sản công nghiệp là có thể nhổ hết được gốc rễ vật chất của xã hội phong kiến và san bằng miếng đất duy nhất trên đó một cuộc cách mạng vô sản có thể thực hiện được”[5].  Quan niệm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về giai cấp công nhân có thể khái quát như sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại; là chủ thể sản xuất vật chất hiện đại, đại biểu cho phương thức sản xuất mang trình độ xã hội hóa ngày càng cao; là giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản; đồng thời có sứ mệnh lịch sử phủ định chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.



[1] C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H2002, t2, tr328.

[2] C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H1995, t19, tr38.

[3] C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H2002, t4, tr457.

[4]  C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H2002, t2, tr354.

 

[5] Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H2002, t2, tr354.

 

Sự điều chỉnh, thích nghi của chủ nghĩa tư bản hiện đại làm tang them mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân

 


Do tận dụng được những thành tựu của khoa học công nghệ và những điều chỉnh nhằm thích nghi với điều kiện lịch sử mới cho thấy, chủ nghĩa tư bản hiện đại, giai cấp tư sản vẫn còn khả năng tồn tại và phát triển, vẫn còn địa vị lịch sử sử nhất định. Thực tế là chủ nghĩa tư bản đã và đang có những đóng góp tích cực vào những phát triển của thế giới đương đại. Điều đó làm xuất hiện sự hoài nghi đối với học thuyết Mác về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân,  tưởng vào giai cấp tư sản. Thực tế, sự điều chỉnh để thích nghi của chủ nghĩa tư bản chỉ làm tăng thêm mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân và không ngừng tích lũy những tiền đề cho giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu ảnh hưởng không nhỏ đến cách mạng vô sản thế giới

 


Chính sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hoài nghi về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hoài nghi chủ nghĩa xã hội hiện thực, hoài nghi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Do đó, nghiên cứu giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử hiện nay để khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện nay; khẳng định sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và  các nước Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội chứ không phải là sự sụp đổ của một lý tưởng xã hội chủ nghĩa, của học thuyết Mác - Lênin, từ đó củng cố niềm tin vào sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện đại và sự xuất hiện nền kinh tế tri thức

 


Sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện đại và sự xuất hiện nền kinh tế tri thức là do lực lượng sản xuất, quá trình phân công lao động và toàn bộ nền sản xuất xã hội có sự phát triển nhảy vọt so với thời kỳ Mác - Ăng ghen. Điều đó làm cho bản thân giai cấp công nhân cũng có sự biến đổi sâu sắc. Vì vậy, chúng ta phải nhận thức đúng những biến đổi của giai cấp công nhân trong điều kiện mới, những vấn đề mà vốn Mác đã nói trước đây, đồng thời phải khái quát được những biểu hiện mới của giai cấp công nhân so với giữa thế kỷ XIX. Từ đó, khẳng định, bản chất giai cấp công nhân không hề thay đổi cho dù bản thân giai cấp công nhân có sự biến đổi.