Một là, theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, để
một cuộc cách mạng có thể nổ ra và giành thắng lợi cần phải có những điều kiện
khách quan và chủ quan nhất định, mà Lênin gọi là tình thế cách mạng. Lênin viết: "Muốn cách mạng thì riêng việc quần chúng bị
áp bức và bóc lột nhận thức được rằng không thể sống như trước nữa và đòi phải
có sự thay đổi, cũng chưa đủ; muốn có cách mạng, còn phải có tình hình là những
kẻ bóc lột cũng không thể sống và thống trị như trước được nữa. Chỉ khi nào
những người bên dưới không muốn tiếp tục sống như trước nữa và những kẻ bên
trên cũng không thể tiếp tục sống như trước nữa thì cách mạng mới có thể thắng
lợi. Không thể có cách mạng nếu không có một cuộc khủng hoảng toàn quốc (rung
động cả những người bị bóc lột lẫn những kẻ bóc lột)"[1]. Tình thế cách mạng là kết quả của một quá
trình vận động của xã hội, trong đó trình độ phát triển xản xuất chỉ là yếu tố
xét đến cùng. Nói cách khác, khi quan hệ sản xuất không còn phù hợp với lực
lượng sản xuất thì nó nhất định bị
phá vỡ. Nhưng quan hệ sản xuất bị phá vỡ lúc nào thì điều đó còn phụ thuộc hàng loạt nhân tố kinh tế,
chính trị, xã hội, trong đó hoạt động của giai cấp công nhân đại biểu cho lực
lượng sản xuất đóng vai trò quyết
định. Đó là lý do tại sao cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga lại nổ ra và giành thắng lợi mà
không nổ ra ở các nước tư bản phát triển như Anh, Pháp.
Hai
là, mặc dù về cơ bản các
Đảng Cộng sản ở các nước tư bản phát triển đều ra đời sớm có bề dày kinh nghiệm
hoạt động; được hoạt động công khai (khác hẳn Đảng ta trong những năm chưa
giành được chính quyền) và có mối quan hệ quốc tế rộng rãi. Tuy nhiên, trong
môi trường đa đảng và không phải đảng cầm quyền nên vai trò bị lu mờ, vị thế
thấp; việc tuyên truyền giác ngộ giai cấp hạn chế, chưa có đường lối chiến
lược, sách lược phù hợp. Chưa đủ những điều kiện khách quan, chủ quan để tiến
hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Ba
là, hiện nay, chủ nghĩa
xã hội đang lâm vào thoái trào, trong khi đó chủ nghĩa tư bản biết tận dụng
triệt để những thành quả của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại để
tiếp tục tồn tại và phát triển, thông qua quá trình điều chỉnh quan hệ
sản xuất để thích nghi với điều kiện
mới. Các nước tư bản chủ nghĩa vẫn còn vai trò to lớn trong việc giải quyết các
vấn đề toàn cầu của thời đại và chiếm ưu thế trong cuộc đấu tranh lập lại trật
tự thế giới mới. Các nước chậm phát triển cơ bản nằm trong quỹ đạo và chịu sự
chi phối của chủ nghĩa đế quốc. Mâu thuẫn giai cấp, dân tộc ngày càng gay gắt
nhưng chưa đủ hội tụ, đủ điều kiện để cách mạng nổ ra. Điều đó làm cho cách
mạng xã hội chủ nghĩa chưa có chỗ dựa, chưa có lực lượng hậu thuẫn mạnh mẽ và
hùng hậu.
Bốn
là, về mặt chủ quan, sự
giác ngộ của giai cấp công nhân chưa phát triển đến trình độ để có thể hoàn
thành sứ mệnh lịch sử của mình. Ở các nước tư bản phát triển, đời sống của giai
cấp công nhân lao động ít nhiều được cải thiện. Do đó, họ vẫn ảo tưởng vào
những cải thiện trong đời sống vật chất mà họ được hưởng. Vì vậy, họ tạm thời
thỏa mãn về điều kiện hiện tại, chưa lâm vào tình trạng "không thể sống
được” nên vùng lên đấu tranh còn ở mức độ. Các tầng lớp giai cấp trung gian như
nông dân, trí thức... một số không nhỏ bị mua chuộc lung lạc nên an bài với
cuộc sống hiện tại, còn hàm ơn Nhà nước
tư bản. Mặt khác, giai cấp công nhân cũng đang đứng trước những khó khăn, thách
thức rất lớn: Tác động của mặt trái toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; khủng hoảng
kinh tế - tài chính toàn cầu; đời sống, việc làm, an sinh xã hội; các tệ nạn xã
hội; những thủ đoạn mỵ dân của chủ nghĩa tư bản.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét