Thứ Ba, 18 tháng 7, 2023

Nhận diện và giải pháp đấu tranh chống âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 Bình luận - Phê phán

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Không ai có thể phủ nhận được sự chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Những thành quả về thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã góp phần làm thay đổi nhận thức, cách nhìn về bức tranh tổng thể khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế ngày nay. Đó là những chướng ngại lớn trên con đường chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Bởi lẽ, họ đã thấy được sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nên để chống phá Đảng, cách mạng Việt Nam thì phải phá vỡ sức mạnh này. Trong lịch sử của dân tộc, chúng ta đã chứng kiến thủ đoạn thâm độc trong chính sách “chia để trị” của kẻ thù xâm lược. Ngày nay, các thế lực thù địch tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài khác nhau, nhằm phá hoại ta từ bên trong. Một trong những thủ đoạn đó là chúng thường kích động nhân dân, thổi phồng, khuếch đại các vấn đề “nhạy cảm” trong xã hội; lợi dụng những yếu kém trong quản lý của các cấp chính quyền rồi thổi phồng, từ cá biệt họ cho là toàn thể,... làm cho người dân từ nghi ngờ đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ. Chúng còn xuyên tạc một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, nhất là chính sách về dân tộc, tôn giáo để gây dư luận xấu trong nhân dân. Lợi dụng tình hình đời sống của số đông đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp so với mặt bằng chung để chúng kích động, lừa bịp thông qua các hoạt động “tôn giáo”, “dân tộc”, tà đạo, đạo lạ,... làm cho người dân mắc mưu dẫn đến suy giảm sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trọng điểm của sự chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc là ở các địa bàn: Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, vùng có đông đồng bào theo đạo, v.v. Hòng kích động, chia rẽ người Kinh với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch đã sử dụng tổ chức FULRO tuyên truyền, xuyên tạc, rằng “Tây Nguyên là của người Thượng”, “Đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”, v.v. Ở Tây Bắc, chúng dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông” để làm cái cớ chia rẽ đồng bào các dân tộc anh em. Chúng vận động đồng bào người Mông về “một miền đất hứa” mọi người sẽ được “ban sức khỏe, hạnh phúc, không làm cũng có ăn, sự giàu sang và phú quý”, “Những người Mông đến đây sẽ được chúa trời giáng trần cứu thế”,… qua đó, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, v.v. Ở Tây Nam Bộ, chúng tập trung tuyên truyền tư tưởng “ly khai tự trị”, đòi thành lập “Nhà nước Khơ-me Cam-pu-chia Krôm độc lập”; lợi dụng tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề dân sinh, dân chủ để kích động, tập hợp lực lượng, móc nối lôi kéo, tạo dựng ngọn cờ, thực hiện ý đồ biểu tình, bạo loạn lật đổ. Đối tượng chúng quan tâm là trí thức, sư sãi, học sinh, sinh viên, cán bộ thoái hóa biến chất để tác động đến các đối tượng khác; lừa bịp, xúi giục người vượt biên, gây sức ép xin tổ chức UNHCR lập trại tỵ nạn cho sư sãi và đồng bào Khơ-me Nam Bộ trên đất Cam-pu-chia; vu cáo, xuyên tạc ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. Âm mưu trước mắt và lâu dài của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị để “quốc tế hóa” vấn đề “Khơ-me Krôm”, thành lập “Nhà nước Khơ-me Cam-pu-chia Krôm tự trị”, v.v. Với vùng có đông đồng bào có đạo, chúng kích động, nói xấu Đảng, Nhà nước ta vi phạm “tự do tôn giáo”, chia rẽ đoàn kết lương giáo. Lợi dụng đức tin của bà con giáo dân, họ lồng ghép rao giảng đạo lý với vấn đề chính trị diễn ra trong đời sống xã hội, như: tình hình Biển Đông, sự cố ô nhiễm môi trường ở ven biển 4 tỉnh miền Trung, tranh chấp, đền bù, giải tỏa đất đai,… nhằm làm lu mờ đường hướng sống “tốt đời, đẹp đạo”, “kính chúa, yêu nước”, tạo ra “bức tranh tối” trong xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng để dễ bề kích động, chia rẽ, chống phá, v.v.

Các công cụ, phương tiện tiến hành hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam rất đa dạng. Nhiều hội nhóm được lập ra cả ở trong và ngoài nước, như: Việt Tân, Cao trào Nhân bản, BP SOS, Đảng Dân chủ Việt Nam, Hội anh em dân chủ, Hội Cựu tù nhân lương tâm, No-U, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, Hội Phụ nữ nhân quyền, v.v. Dù tên gọi khác nhau, song vẫn kiểu “bình mới rượu cũ”, quanh quẩn vài ba kẻ giật dây, điều hành, cùng mục đích chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hoạt động chủ yếu được thực hiện qua các diễn đàn trên in-tơ-nét, website, blog,… để đăng tải các bài viết, hình ảnh, chế phim xuyên tạc với cường độ cao, tính chất “đánh lận con đen” nhằm gây chia rẽ nội bộ, sự đồng thuận xã hội và tình cảm giữa các dân tộc. Một số diễn đàn, như: Boxit, Viettan, RFI, RFA, VOA,… thường đăng tải các bài viết xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam. Họ lợi dụng triệt để các phương tiện phát thanh, phát tán tài liệu phản động, các ấn phẩm đồi trụy, khai thác tối đa ưu thế của tuyên truyền miệng, rỉ tai, “nửa kín nửa hở” để tung tin thất thiệt, sai lệch về đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Từ luận điệu này, các thế lực thù địch tiếp tục khoét sâu tâm lý ly khai, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết vùng miền, đoàn kết lương giáo, đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương, đoàn kết quân - dân, đoàn kết Đảng với Nhân dân, v.v.

Có thể thấy, âm mưu, thủ đoạn chống phá, của các thế lực thù địch là rất tinh vi, thâm độc; hành động quyết liệt, trắng trợn; đối tượng đa dạng, phức tạp; mục đích không thay đổi; hậu quả khó lường. Với tinh thần cảnh giác của người dân, cùng với các biện pháp nghiệp vụ kiên quyết của lực lượng chức năng, chúng ta đã phát hiện và đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, hành động nguy hiểm đó, nhưng các thế lực thù địch không dễ từ bỏ, chúng vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để đấu tranh với mưu đồ đen tối đó, chúng ta cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ, phù hợp, tính khả thi cao, song trước hết, cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào theo đạo về đường lối, chính sách nói chung, đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước nói riêng. Đồng thời, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh, nhận diện, vạch mặt những kẻ có mưu đồ đen tối nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cơ sở đó, đề cao truyền thống đoàn kết, yêu nước, tinh thần cảnh giác, trách nhiệm công dân, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, sự đồng thuận xã hội, ý thức, trách nhiệm cộng đồng, tự lực tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống mọi biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, ly khai,… coi đó là yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hai là, không ngừng xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tích cực, chủ động tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; kết hợp hài hòa ba lợi ích: cá nhân, tập thể và xã hội; huy động sức dân đi đôi với bồi dưỡng sức dân, phát huy dân chủ gắn liền với giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Đẩy mạnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính, đổi mới phong cách, lề lối làm việc, chấn chỉnh thái độ phục vụ nhân dân; thường xuyên đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, tập trung giải quyết khó khăn, vướng mắc, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống, việc làm, đất đai, môi trường, v.v.

Ba là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi. Theo đó, rà soát, điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện những chính sách đã có và nghiên cứu ban hành những chính sách mới để đáp ứng yêu cầu phát triển các vùng dân tộc và công tác dân tộc trong giai đoạn mới. Công tác dân vận cần đổi mới, tìm ra những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả hơn nữa trong tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia giúp địa phương xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới, phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ, nâng cao dân trí, phòng, chống dịch bệnh, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn. Thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, xây dựng nông thôn mới, định canh, định cư, tạo việc làm cho lao động tại chỗ là người dân tộc thiểu số; hướng dẫn đồng bào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc và đồng bào có đạo, v.v. Qua đó, tăng cường sự đồng thuận giữa những người theo tín ngưỡng, tôn giáo và những người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.

Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, cuộc vận động, biểu dương kịp thời những tấm gương điển hình tiên tiến, “gương người tốt, việc tốt”; động viên và phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc, chức sắc tôn giáo trong việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền cơ sở, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh những hành vi chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây bất ổn về chính trị - xã hội. Kiên trì thuyết phục, vận động những người nhẹ dạ, cả tin nghe theo kẻ xấu quay về với cộng đồng; đối xử khoan hồng, độ lượng, bình đẳng với những người lầm lỗi đã ăn năn, hối cải, phục thiện. Thực hiện tốt công tác quản lý xã hội, nắm chắc tình hình, phối hợp với các lực lượng, tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng, gần gũi, sát dân, nắm tâm tư, nguyện vọng của đồng bào và những vấn đề xảy ra trên địa bàn để có biện pháp giải quyết phù hợp, hiệu quả, ngăn chặn kẻ xấu lợi dụng. Kịp thời phát hiện, giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo, không để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động, chống phá. Chủ động phát hiện, đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; nâng cao tinh thần cảnh giác, phát huy trách nhiệm của người dân trong phòng tránh, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của chúng. Những việc làm thiết thực đó, sẽ góp phần quan trọng đảm bảo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại tá LƯU VĂN LÂM, Trưởng phòng Dân tộc - Tôn giáo, Cục Dân vận

 Phòng, chống "DBHB" - "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"

QPTD -Thứ Năm, 13/10/2016, 13:34 (GMT+7)
Nhận diện và giải pháp đấu tranh chống âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Nhằm chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch không từ bỏ mưu đồ đen tối nào; trong đó, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là thủ đoạn rất nguy hiểm. Bởi thế, chúng ta cần nhận diện đúng âm mưu phá hoại của chúng để cảnh giác, có giải pháp đấu tranh hiệu quả.

Cảnh giác trước âm mưu chia rẽ lực lượng Công an với Nhân dân

 Lợi dụng việc một số cán bộ, chiến sĩ Công an có sai phạm bị xử lý kỷ luật, trên mạng xã hội và các báo, đài nước ngoài lại xuất hiện nhiều bài viết xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lực lượng Công an nhân dân (CAND), qua đó nhằm kích động, hòng chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa lực lượng Công an với nhân dân. Thủ đoạn này tuy không mới nhưng phần nào các thế lực thù địch đã tác động đến tâm lý người dân, qua đó thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gây chia rẽ mối quan hệ khăn khít như cá với nước đã bền chặt bao đời giữa Công an với nhân dân.

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta nói chung và lực lượng CAND nói riêng chú trọng nâng cao công tác quản lý cán bộ, tăng cường kỷ luật, siết chặt kỷ cương trong công tác và rèn luyện của lực lượng CAND. Qua đó, nhằm xây dựng lực lượng Công an ngày càng chính quy, tinh nhuệ; từng bản thân mỗi cán bộ, chiến sĩ tự soi rọi, rèn luyện, xây dựng cho mình phong cách làm việc đầy bãn lĩnh, nhân văn vì nhân dân phục vụ. Song song với kết quả đạt được, vẫn còn một bộ phận cán bộ, chiến sĩ mắc sai phạm phải bị xử lý kỷ luật trong quá trình công tác, điển hình như một số cán bộ nguyên là lãnh đạo ngành Công an như: Bùi Văn Thành, Phan Văn Vĩnh… đến nguyên là cán bộ chiến sĩ như Lê Thị Hiền (cán bộ Công an quận Đống Đa, Hà Nội) có hành vi gây mất trật tự tại sân bay Tân Sơn Nhất; Nguyễn Xô Việt (nguyên cán bộ Công an thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) hành xử thiếu văn hóa tại một trạm dừng nghỉ trên đường; cựu Đại úy Lê Chí Thành bị truy tố với các tội danh chống người thi hành công vụ, đăng thông tin xuyên tạc, sai sự thật đối với nhiều người trên facebook hay mới hơn là trường hợp Tổ tuần tra Công an thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng gồm 05 đồng chí đã có hành vi thiếu chuẩn mực với 02 trường hợp thiếu niên vi phạm TTATGT xảy ra ngày 25/9/2022 đã làm dư luận dậy sóng. Nhìn chung, các trường hợp trên đã mắc sai phạm đặc biệt nghiêm trọng, bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật cũng như quy định của ngành Công an.

Những trường hợp nêu trên là bài học, là vết thương vô cùng đau xót với lực lượng CAND, nhưng qua đó cho thấy, sự quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước, của Bộ Công an trong việc giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; xử lý kịp thời, đúng người, đúng tội và luôn công khai, minh bạch, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

Thực tế, đại bộ phận đảng viên, quần chúng nhân dân luôn mong mỏi, hoan nghênh điều này và đánh giá rất cao quyết tâm của Đảng, Nhà nước và ngành Công an trong công tác quản lý cán bộ. Thế nhưng, cũng như nhiều sự việc trước đó, trên các trang mạng xã hội và một số báo, đài nước ngoài các thế lực thù địch đã dồn dập đăng tải nhiều bài viết mang thông tin xuyên tạc, kích động, hòng bôi nhọ hình ảnh lực lượng CAND. Đặc biệt, các trang mạng xã hội đã xoáy sâu vào hành động của các cán bộ, chiến sĩ vi phạm rồi hồ đồ cho rằng, “do thể chế” nên ngành Công an được quyền “tác oai, tác quái, đứng trên pháp luật”.

Trãi qua 47 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành lực lượng CAND được tôi luyện và đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND luôn giữ vững lời thề sắt son tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Lịch sử hình thành và phát triển của lực lượng CAND gắn liền với công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc  và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để có một đất nước Việt Nam thanh bình, một nền chính trị ổn định, trật tự, an toàn xã hội đảm bảo, nền kinh tế phát triển như hiện nay đều có phần đóng góp không nhỏ của lực lượng Công an. Theo thống kê, từ năm 1975 đến nay, lực lượng CAND có hơn 1.061 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hi sinh; hơn 2.021 đồng chí bị thương khi thi hành nhiệm vụ. Giai đoạn 2017 - 2022, Bộ Công an đã cấp Bằng “Tổ quốc ghi công” đối với 40 liệt sĩ; cấp giấy chứng nhận thương binh đối với 182 đồng chí và giấy chứng nhận bệnh binh đối với 12 đồng chí.

Chỉ tính riêng từ đầu năm 2022, dư luận cả nước đã dành không ít lời ngợi khen cho những nghĩa cử cao đẹp của rất nhiều tấm gương người tốt, việc tốt là cán bộ, chiến sĩ CAND. Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, lực lượng CAND ngày đêm căng mình làm nhiệm vụ tại các chốt kiểm dịch, khu vực cách ly, phong tỏa, kiểm soát chặt chẽ tình hình an ninh, trật tự; phối hợp với lực lượng y tế “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hỏi từng người dân” để vừa truy vết, khoanh vùng cách ly, vừa tuyên truyền đảm bảo không lây lan dịch bệnh trong cộng đồng. Cùng với đó, lực lượng Công an không quản ngại ngày đêm, nổ lực hết mình, phấn đấu hoàn thành 02 dự án Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân. Mỗi khi xảy ra các đợt mưa lũ, thiên tai, hỏa hoạn… Công an cũng là lực lượng luôn đi đầu, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ trong bất kỳ hoàn cảnh nào, luôn có mặt kịp thời ở những nơi “đầu sóng, ngọn gió” đối diện với hiểm nguy để tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ, di dời người dân ra khỏi vùng nguy hiểm; giúp dân sửa nhà, dọn dẹp vệ sinh, khắc phục thiệt hại sau thiên tai, địch họa. Hình ảnh những tấm gương điển hình của lực lượng Công an như: Đồng chí Trung úy Thái Ngô Hiếu, cán bộ phòng Cảnh sát PCCC&CNCH Công an tỉnh Đồng Nai đã cứu sống 4 người dân bị nạn khi đi tắm biển; đồng chí Thiếu tá Hoàng Hữu Bình, Phó Trưởng phòng Tham mưu, Công an tỉnh Hải Dương đã cứu 2 cháu bé bị đuối nước… hay những hình ảnh giản dị rất đỗi đời thường như anh Cảnh sát hình sự bất chấp tính mạng đuổi bắt cướp trên đường; anh Cảnh sát giao thông đội mưa đứng phân luồng đảm bảo cho tuyến đường được thông suốt hay anh chiến sĩ Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy lao mình vào giữa biển lửa đang cháy ngùn ngụt để cứu dân…. Gần đây nhất, là 03 cán bộ, chiến sĩ lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an thành phố Hà Nội đã anh dũng hi sinh khi đang làm nhiệm vụ chữa cháy tại quận Cầu Giấy, trong đó có những đồng chí tuổi đời còn rất trẻ. Họ đã ra đi, hi sinh một cách oanh liệt, bỏ lại những ước mơ, hoài bảo. Những mất mát ấy là không thể nào bù đắp, để lại sự tiếc thương vô hạn trong lòng những người thân, đồng chí đồng đội và toàn xã hội.

Thế nhưng, những danh dự ấy, uy tín ấy của lực lượng CAND lại là mục tiêu mà các phần tử bất mãn chính trị, thế lực thù địch nhằm vào để xuyên tạc, bội nhọ. Sự trưởng thành và không ngừng lớn mạnh của lực lượng CAND lại là “cái gai” trong mắt của những đối tượng chống phá. Bởi lẽ, đối với chúng, khi lực lượng Công an suy yếu, không còn là chỗ dựa thì chắc chắn Đảng, chính quyền không còn được bảo vệ, mất vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành đất nước. Chính vì vậy, chúng ra sức bôi nhọ, xuyên tạc, nói xấu, làm mất uy tín, hình ảnh của lực lượng CAND trong lòng nhân dân.

Thực ra, những thủ đoạn tuyên truyền chống phá của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, các thế lực thù địch là không mới, mưu đồ chính trị đen tối của chúng rất rõ ràng và dễ hiểu, bởi lực lượng công an là “lá chắn” vững chắc bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Bằng cách dùng những luận điệu xảo biện, xuyên tạc, bội nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm lực lượng Công an chúng đã bắn những mũi tên tẩm độc vào các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhằm gây chia rẽ, kích động người dân chống lại. Chúng lợi dụng những vụ việc sai phạm của một số cá nhân trong ngành Công an để thổi phồng rồi quy chụp cho cả một lực lượng.

Trong khi đó, hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ Công an đã anh dũng hy sinh và đang ngày đêm bảo vệ sự bình yên cho nhân dân, bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ an ninh quốc gia lại ít được nhắc đến. Những hành động đẹp thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của cán bộ, chiến sĩ CAND khi thực thi nhiệm vụ cho thấy đây là bản chất tốt đẹp của lực lượng CAND được dư luận, bạn bè quốc tế khen ngợi, … Rõ ràng, so với những hình ảnh “con sâu làm rầu nồi canh” mà thế lực thù địch dựng lên thì những cá nhân làm việc tốt, việc thầm lặng, tất cả vì cuộc sống bình yên của nhân dân vẫn là chủ đạo.

Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng hiện đại, nền công nghiệp 4.0 ngày càng tập trung vào công nghệ số với sự trợ giúp mạnh mẽ từ internet, thì các thế lực thù địch hằng ngày, hằng giờ triệt để lợi dụng mạng xã hội để tung nhiều thông tin xấu, độc, vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng CAND tác động đến cộng đồng. Vì vậy, bản thân mỗi chúng ta, hơn bao giờ hết cần nâng cao nhận thức chính trị và ý thức cảnh giác, không tin, không nghe theo luận điệu xuyên tạc, vu khống và tiếp nhận có chọn lọc các nguồn thông tin trên internet, mạng xã hội để không bị mắc mưu kẻ địch mà “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tự biến mình thành công cụ lợi dụng của kẻ thù.

Trương Hồng Diễm

Xã hội hóa ngành điện là không nên

 Trong cuộc phỏng vấn ngày 06/6/2023 của phóng viên VOV.VN với ĐBQH Lê Thanh Vân, Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau liên quan đến Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN, có rất nhiều nội dung trao đổi, ý kiến kiến nghị, thể hiện tâm huyết của vị Đại biểu của nhân dân liên quan đến vấn đề mà cử tri đặc biệt quan tâm, trong hoàn cảnh thiếu điện, phải cắt điện luân phiên gây ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Qua câu chuyện này, xin có đôi lời như sau:

Đại biểu Quốc hội Lê Thanh Vân cho rằng: “Cần thanh tra đặc biệt, kiểm toán đặc biệt, điều tra đặc biệt đối với toàn bộ hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của EVN trong giai đoạn 10 năm gần đây, đặc biệt là việc thường xuyên báo lỗ, trong khi các công ty thành viên báo lãi…”. Về ý kiến này, đại đa số nhân dân và cử tri hết sức đồng tình, ủng hộ ý kiến của Ông Vân. Cần thanh tra đặc biệt, kiểm toán đặc biệt, điều tra đặc biệt đối với toàn bộ hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của EVN nhằm công khai, minh bạch cho nhân dân. Không để tình trạng đoán gì, đoán non gây ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước và các tập đoàn kinh tế có vốn nhà nước; đồng thời qua thanh tra, kiểm tra phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật, nếu có sai phạm hoặc trả lại sự thanh bạch cho EVN nếu họ làm đúng, vị quốc dân.
Trên cơ sở đó, Đại biểu Vân kiến nghị: "Đề nghị Thủ tướng Chính phủ sớm quyết định cổ phần hóa các nhà máy điện hiện nay do EVN đang hạch toán phụ thuộc, để lấy tiền đầu tư cho hệ thống đường dây truyền tải, nhằm giảm áp lực về truyền tải. Tôi cùng đề nghị Chính phủ sớm thực hiện lộ trình xã hội hóa đối với ngành điện, để chấm dứt tình trạng độc quyền như hiện nay, bởi độc quyền sẽ dẫn đến nguy cơ lộng hành giá cả và thao túng thị trường điện".
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là một trong những thiết chế kinh tế trụ cột, có sứ mệnh bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, trong đó có cả việc bảo đảm cung cấp điện sản xuất, cho quản lý và cho sinh hoạt của nhân dân. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình trạng thiếu điện và cắt điện sinh hoạt của người dân xuất hiện nhiều nơi trong cả nước, đặc biệt là miền Bắc các nhà máy sản xuất điện phải giảm sản xuất điện, cắt điện luân phiên. Đặc biệt, việc cắt điện sinh hoạt của người dân trong những thời điểm thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng với nhiệt độ tăng cao khiến tâm lý người dân hoang mang và phản ứng có phần tiêu cực đối với EVN nói riêng và nhà nước nói chung.
Rất hiểu và thông cảm cho người dân, doanh nghiệp khi họ phải đối mặt với khó khăn, thách thức to lớn này; trong khi đó, nguồn năng lượng tái tại, điện năng lượng mặt trời, điện gió lại chỉ được hòa lưới điện quốc gia khoảng 26% và chúng ta phải đi mua điện của Lào, Trung Quốc, trong khi nguồn cung trong nước vẫn đắp chiếu. Điều này khẳng định rằng nhiệm vụ chính trị, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đảm bảo cung cấp điện ổn định, an toàn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và đời sống nhân dân của EVN chưa đạt kỳ vọng mà nhân dân. Người dân có quyền đặt câu hỏi, đó là nguyện vọng hết sức chính đáng.
Thế nhưng chúng ta cần hết sức bình tĩnh, tư nhân hóa ngành điện thì hậu quả sẽ không lường. Điện là một trong những trụ cột, xương sống đối với kinh tế, an ninh quốc gia...cổ phần hóa hết sẽ rất nguy hiểm. Cổ phần hết chắc chắn doanh nghiệp nước ngoài nhảy vào dưới nhiều danh nghĩa khác nhau, các doanh nghiệp bắt tay thao túng thị trường, khi đó lại kêu khóc nhà nước. Đó là chưa nói đến an ninh quốc gia...Thực tế thì giá điện ở Việt Nam thấp so với bình quân thế giới, sở dĩ có điều đó là do "bàn tay hữu hình", nhà nước trợ giá. Sẽ như thế nào nếu “xã hội hóa ngành điện”, mạnh ai nấy làm? kinh tế nhà nước dựa trên chế độ công hữu (sở hữu Nhà nước) về tư liệu sản xuất, là chế độ sở hữu phù hợp với xu hướng xã hội hóa của lực lượng sản xuất. Thành phần kinh tế nhà nước không chỉ bao gồm doanh nghiệp nhà nước mà còn bao hàm sức mạnh kinh tế đứng đằng sau các chính sách và hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước. Nó bao hàm khả năng tổ chức và hoạch định chính sách đúng đắn của Nhà nước, sự gắn kết hợp lý của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, tài chính nhà nước, luật pháp và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Với sức mạnh kinh tế tổng hợp đó, thành phần kinh tế nhà nước có khả năng tạo ra các điều kiện vật chất và các tiền đề kinh tế-xã hội để phát triển tất cả các thành phần kinh tế.
Kinh tế nhà nước, trong đó điện là xương sống, là trụ cột, là tiền đề để đưa đất nước phát triển toàn diện; đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế bằng cách giữ vị trí then chốt, yết hầu, và xương sống của nó, do đó có khả năng chi phối, điều tiết, hướng dẫn, giúp đỡ và liên kết các thành phần kinh tế khác để bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Nó còn đảm nhận các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có tính chiến lược đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, đòi hỏi vốn đầu tư lớn vượt quá khả năng của tư nhân. Vì thế nếu xã hội hóa ngành điện sẽ gây áp lực cực kỳ lớn, thiệt thòi cho doanh nghiệp, nhân dân, đặc biệt là người nghèo khi mà con dao được tư nhân, doanh nghiệp thao túng, cầm đằng cán. Kinh tế nhà nước, trong đó có điện đóng vai trò chủ đạo đúng đắn và cần thiết trên cả ba khía cạnh kinh tế, chính trị và xã hội, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước có thể định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.
Chúng ta cần bình tĩnh, nghe bằng hai tai, nhìn bằng hai mắt và dùng lý trí để tư duy đa chiều và nhìn nhận vấn đề khách quan. Ngành điện cần phải được thanh tra, kiểm tra thường xuyên để chấn chỉnh, xử lý những sai phạm, khắc phục hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực quản lý nhà nước, đổi mới phù hợp. Đất nước càng phát triển thì nhu cầu về điện càng tăng cao, cần có giải pháp tăng nguồn cung, bảo đảm giá ổn định phục vụ sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng. Tính toán đến việc sử dụng điện tái tạo, năng lượng mặt trời, điện gió và cả chuyện xây dựng nhà máy điện hạt nhân cho tương lai, không để đất nước đình trệ do thiếu điện… Tuy nhiên, xã hội hóa ngành điện là không nên./.
-------------
Lão chăn bò.

Vạch trần sự sai trái của luận điểm “Chủ nghĩa Mác đã cáo chung”

 Trước sự thoái trào tạm thời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở cuối thế kỷ XX, các thế lực thù địch, phản động ra sức cổ vũ cho luận điểm “Chủ nghĩa Mác đã cáo chung”(!). Tuy nhiên, thực tiễn sinh động của thế giới và Việt Nam ngày nay lại chứng tỏ chủ nghĩa Mác vẫn tràn đầy sức sống. 

Xuyên tạc, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác là một thủ đoạn thường trực của các thế lực thù địch, phản động. Ngay từ khi chủ nghĩa Mác xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới với bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848), các thế lực trong thế giới tư bản đã tỏ rõ nỗi sợ hãi và sự căm thù đối với phong trào cộng sản đang hình thành và ngày một phát triển sâu rộng trước ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác, coi đó như “Một bóng ma đang ám ảnh châu Âu”. “Bóng ma” ấy đã khiến cho các thế lực trong thế giới tư bản phải “liên hợp lại thành một liên minh thần thánh để trừ khử”1, như C. Mác và Ph. Ăngghen chỉ ra khi nói về bối cảnh ra đời Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.

Sở dĩ chủ nghĩa Mác chịu nhiều sự công kích của các thế lực thù địch, phản động, bởi lý luận của C. Mác đụng chạm đến “cái tín điều” bất khả xâm phạm của chủ nghĩa tư bản là chế độ tư hữu. Đúng như giáo sư Terry Eagleton (Trường Đại học Tổng hợp Lancaste của nước Anh)2 đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác, từ bao lâu nay vẫn là sự phê phán phong phú nhất về mặt lý luận, không khoan nhượng nhất về mặt chính trị đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa”3. Trước sự kiện chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ vào cuối thế kỷ XX; cùng với đó là những biểu hiện thích nghi mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại, sự công kích của các thế lực thù địch, phản động càng trở nên quyết liệt. Họ hoan hỷ tuyên bố về “sự cáo chung của chủ nghĩa Mác” và cho rằng: “chủ nghĩa Mác giờ đây đã chết, không cần phải nhắc đến nữa”(!).

Ở Việt Nam, hùa theo các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài, các thế lực thù địch, phản động và “trở cờ” ở trong nước cũng lợi dụng mạng xã hội để tung ra các bài viết với mọi lý lẽ xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác. Họ “khuyên” Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác, không nên lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, vì theo họ “chủ nghĩa Mác đã cáo chung, không còn giá trị chỉ đạo thực tiễn”(!), v.v. Mục tiêu nhất quán của các lý lẽ sai trái nói trên đều nhằm mục đích tạo ra khoảng trống ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên của Đảng, cũng như trong toàn xã hội, để từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và trong xã hội, tiến tới làm tan rã Đảng ta, đưa nước ta phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Trước tác động từ những luận điệu xuyên tạc, sai trái này, ở những mức độ khác nhau, đã có một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, thậm chí có biểu hiện mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lênin. Do vậy, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác, vạch trần sự sai trái của các luận điểm xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác là hết sức cần thiết, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng, cho đến ngày nay, chủ nghĩa Mác vẫn là lý luận khoa học và cách mạng nhất, có giá trị nhất trong việc luận giải các vấn đề cơ bản của thời đại. Ngay cả Brêdinxki, tác giả cuốn sách “Thất bại lớn - sự hưng vong của chủ nghĩa cộng sản thế kỷ XX”, người rất căm ghét chủ nghĩa Mác, cũng phải thừa nhận giá trị của chủ nghĩa Mác, khi viết rằng: “Khái niệm về phép biện chứng lịch sử xem chừng là phương pháp giá trị nhất để xử lý các mâu thuẫn hiện thực”4. Đúng như vậy, với hai phát kiến vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư, C. Mác đã thực hiện những cuộc cách mạng triệt để trong lĩnh vực triết học và kinh tế chính trị học. Bằng việc sử dụng phép duy vật biện chứng, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, chủ nghĩa Mác đã vạch ra những quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Đó là: quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; cơ sở kinh tế - xã hội quyết định kiến trúc thượng tầng của xã hội; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên. Cũng lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, C. Mác đã tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra - quy luật giá trị thặng dư. Đồng thời, trên cơ sở phân tích khách quan, khoa học những điều kiện kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, cũng như những điều kiện chính trị - xã hội trong xã hội tư bản, C. Mác đã lần đầu tiên phát hiện ra và làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân - giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, có đủ năng lực, phẩm chất để thực hiện sứ mệnh giải phóng chính bản thân mình, tiến tới giải phóng toàn thể nhân loại.

Mặc dù thế giới ngày nay đã có nhiều thay đổi, song những quy luật mà chủ nghĩa Mác đã phát hiện và khái quát vẫn còn nguyên giá trị chỉ đạo thực tiễn. Phản bác lại luận điểm cho rằng: “Hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thay đổi nhiều đến mức không còn nhận biết được nữa so với thời của Mác, và do đó những tư tưởng của Mác không còn phù hợp nữa”, Terry Eagleton đã nhận định: “bản thân Mác luôn ý thức được bản chất không ngừng vận động của cái hệ thống mà ông phản bác” và rằng: “Chính những cái tưởng như giúp đả phá chủ nghĩa Mác lại cũng làm tăng thêm niềm tin vào những khẳng định của chủ nghĩa Mác. Nó được đẩy đến cực điểm bởi vì trật tự xã hội mà chủ nghĩa Mác đương đầu, thay vì trở nên nhân từ và ôn hòa hơn, thì lại trở thành tàn nhẫn và cực đoan hơn bao giờ hết. Và chính điều này làm cho sự phê phán của Mác đối với toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa thành đúng đắn hơn”5. Các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong những năm 2007 và 2008 xuất phát từ các nước tư bản; phong trào “Chiếm phố Uôn” với biểu ngữ “99% người nghèo chống lại 01% người giàu” lan rộng ở nhiều nước tư bản phát triển trong những năm 2009 và 2011 đã chứng minh cho phát hiện của C. Mác về những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản vẫn còn nguyên giá trị và nhận định nói trên của Terry Eagleton là hoàn toàn đúng đắn. Trong thời gian này, nhiều người trong thế giới tư bản đã quay lại tìm đọc Mác; nhiều trung tâm nghiên cứu về C. Mác và nhiều cuộc hội thảo về C. Mác đã được tổ chức ở các nước tư bản. “Tư bản luận” đã trở thành sách bán chạy ở Pháp, Đức, Anh, Italia, Nhật Bản6, v.v. Giải thích cho hiện tượng đó, nhà sử học người Anh Erích Hoxbon đã nói rằng: “Chính là những người tư bản, chứ không phải ai khác, đã tái phát hiện Mác” và “Việc quay trở lại đọc Mác có nghĩa là thế giới cần phải nghiên cứu học thuyết của ông về chủ nghĩa tư bản, và về vị trí của học thuyết đó trong sự phát triển của xã hội loài người”. Một số học giả tư sản cũng đã tiên đoán về thế kỷ XXI vẫn là thế kỷ của chủ nghĩa Mác và kêu gọi nhân loại hãy “Trở về với Mác”, rằng nhân loại “không có tương lai nếu không có Mác, nếu không có các di sản của Mác”7. Những thực tiễn đó là minh chứng sống động bác bỏ luận điểm cho rằng “chủ nghĩa Mác đã cáo chung” và chứng tỏ chủ nghĩa Mác vẫn là lời giải cho thế giới hiện thực.

Thứ hai, thực tiễn sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm cuối thế kỷ XX không đồng nghĩa với “sự cáo chung” của chủ nghĩa Mác. Đây chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể, mà nguyên nhân căn bản lại xuất phát từ chủ nghĩa giáo điều, xét lại và những sai lầm trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của đảng cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở Liên Xô thời kỳ đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Sau gần 20 năm Liên Xô sụp đổ, công trình “Bí ẩn diệt vong của Liên Xô - lịch sử những âm mưu và phản bội 1945 - 1991” của A.P. Sheviakin đã công bố lời thú nhận của M.S. Gorbachev tại Trường Đại học Mỹ ở Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1999 rằng: “Mục tiêu của toàn bộ cuộc đời tôi là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản… Khi trực tiếp làm quen với phương Tây, tôi đã hiểu rằng tôi không thể từ bỏ mục tiêu chống cộng sản đặt ra”8. Điều đó cho thấy, sự thoái trào tạm thời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không có nguyên nhân từ bản thân chủ nghĩa Mác; không đánh dấu “sự cáo chung” của chủ nghĩa Mác. Mặt khác, chính sự kiện này lại chứng tỏ: đảng nào xa rời những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, thì đảng đó không còn là đảng mácxít lêninnít chân chính và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nơi đó nhất định thất bại.

Thứ ba, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rõ: chủ nghĩa Mác  Lênin là ngọn đèn soi sáng con đường đấu tranh giành độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta. Nhìn lại lịch sử cách mạng nước ta từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có thể thấy, chỉ đến khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tiếp cận được chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền bá vào Việt Nam, kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước để lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, thì mới kết thúc được thời kỳ khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước của dân tộc ta, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc; và ngày nay, đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội với tư duy đổi mới. Đại hội VII của Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”9; đồng thời, nhấn mạnh đến bài học kinh nghiệm rút ra qua thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay là: “Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”10. Tại Đại hội XIII, một trong năm bài học kinh nghiệm được Đảng ta rút ra qua nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và cũng là quan điểm chỉ đạo hàng đầu trong thực hiện đường lối đổi mới trong giai đoạn tới là “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”11. Nhờ có sự kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay12. Từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến, không có tên trên bản đồ thế giới, ngày nay nước ta đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia thành viên Liên hợp quốc; đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với gần 30 nước, bao gồm cả 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; có quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên của nhiều định chế kinh tế quốc tế lớn; 02 lần đảm nhận vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; 02 lần được bầu làm Ủy viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và còn đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng trong các tổ chức quốc tế khác. Nước ta đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình với quy mô và tiềm lực kinh tế không ngừng tăng lên. Nếu năm 1989, quy mô nền kinh tế của đất nước chỉ là 6,3 tỉ USD, thì năm 2022 đã đạt 409 tỉ USD, đứng thứ 37 nền kinh tế lớn nhất thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và trong nhóm 14 nước châu Á. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta không chỉ luôn kiên định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, mà còn góp phần làm phong phú thêm lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin; nhất là những vấn đề về con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước có nền kinh tế chậm phát triển, v.v.

Những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở những nước đang đi theo con đường xã hội chủ nghĩa nói chung, ở Việt Nam nói riêng; cùng với những nỗ lực đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin của các đảng cộng sản và công nhân thế giới hiện nay là minh chứng sinh động bác bỏ sự sai trái của luận điểm “chủ nghĩa Mác đã cáo chung”; đồng thời, khẳng định sức sống bất diệt của chủ nghĩa Mác trong thời đại ngày nay.

NGUYỄN NGỌC HỒI

Đấu tranh với biểu hiện của chủ nghĩa xét lại hiện đại - nhiệm vụ cấp bách để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Chủ nghĩa xét lại là trào lưu tư tưởng - chính trị thù địch, đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin, xuất hiện trong nội bộ phong trào công nhân và cộng sản quốc tế dưới chiêu bài “xét lại”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở chúng ta: “Cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”1. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại hiện đại để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Đôi nét về chủ nghĩa xét lại trong lịch sử

Chúng ta đều biết, trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, chủ nghĩa xét lại cũng được biểu hiện dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau, nhưng bản chất của nó không hề thay đổi. Đó là trào lưu tư tưởng đối lập với chủ nghĩa Mác, là tàn dư của tư tưởng tư sản, tiểu tư sản trong phong trào công nhân, là sự phản bội quyền lợi cơ bản lâu dài của phong trào công nhân vì những lợi ích trước mắt, cục bộ của một nhóm người cam tâm đầu hàng trước hệ tư tưởng tư sản. Đại biểu đầu tiên của chủ nghĩa xét lại là E. Béc-stanh ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đã đòi xét lại học thuyết của C. Mác. Ngay từ thời kỳ ấy, chủ nghĩa xét lại đã trở thành một hiện tượng quốc tế nảy sinh không chỉ ở các nước: Đức, Pháp, Bỉ, Nga,... mà còn ở cả những nước khác. Đặc điểm chung của chủ nghĩa xét lại, về lý luận là triết trung, nguỵ biện, pha tạp cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; về chính trị thì xu thời gió chiều nào che chiều ấy; về kinh tế theo quan điểm thực dụng, cục bộ, vụ lợi cá nhân; về hành động thì phiêu lưu, lúc tả, lúc hữu nhưng thủ đoạn chính trị lại rất tinh vi, xảo quyệt, luồn lách để chui sâu, leo cao. Đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xét lại là sự dao động ngả nghiêng về chính trị, không kiên định những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, khi cách mạng thuận lợi thì tỏ ra “cấp tiến”, khi cách mạng gặp khó khăn thì thoái lui, thỏa hiệp.

V.I.Lênin đã đấu tranh không mệt mỏi và triệt để vạch trần các quan điểm, chỉ rõ mối nguy của chủ nghĩa xét lại; đồng thời, quyết tâm bảo vệ tính cách mạng của chủ nghĩa Mác, góp phần tăng cường và củng cố tính cách mạng trong phong trào công nhân quốc tế. V.I. Lênin khẳng định: “Khi nói đến đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì không được bao giờ quên đặc điểm của tất cả chủ nghĩa cơ hội hiện đại trong mọi lĩnh vực là: nó mang tính chất không rõ ràng, lờ mờ và không thể hiểu nổi. Do bản chất của mình, phái chủ nghĩa cơ hội bao giờ cũng tránh đặt vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát, bao giờ nó cũng trên con đường trung dung, nó quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau. Nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan điểm này với quan điểm kia, nó quy những sự bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại, v.v.”2.

Đặc trưng của chủ nghĩa xét lại hiện đại

Mỗi giai đoạn lịch sử, chủ nghĩa xét lại có những nội dung biểu hiện cụ thể khác nhau tùy theo so sánh lực lượng và hoàn cảnh cụ thể của cuộc đấu tranh giai cấp. Chủ nghĩa xét lại hiện đại ngày nay có những nội dung biểu hiện chủ yếu sau:

Thứ nhất, phủ nhận học thuyết Mác - Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Hiện nay, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm cho cơ cấu giai cấp xã hội có sự biến đổi sâu sắc,... những người theo chủ nghĩa xét lại cho rằng, quan niệm về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời. Theo họ, cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản là tàn bạo, cực quyền, không dân chủ. Họ đi tới kết luận phải chung sống hòa bình với chủ nghĩa đế quốc, phải “ưu tiên” lợi ích toàn nhân loại. Vì vậy, họ bắt tay thỏa hiệp vô nguyên tắc với chủ nghĩa đế quốc.

Thứ hai, từ bỏ chủ nghĩa quốc tế vô sản, tước mất bản chất giai cấp của chủ nghĩa quốc tế vô sản, chỉ còn lại những lời kêu gọi chung chung vô nguyên tắc; là sự thỏa hiệp đầu hàng đối với chủ nghĩa đế quốc. Đồng thời, những người xét lại đề cao quá mức thứ chủ nghĩa dân tộc: cực đoan, hẹp hòi, sô vanh nước lớn.

Thứ ba, từ bỏ xây dựng chủ nghĩa xã hội theo học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học. Họ đưa ra chiêu bài “ủng hộ quan điểm sáng tạo đối với lý luận và thực tiễn chủ nghĩa xã hội, chủ trương xây dựng, phát triển chúng theo con đường “cải biến” chủ nghĩa xã hội hòa nhập với chủ nghĩa xã hội dân chủ, trở thành lệ thuộc vào hệ tư tưởng tư sản. Với “tư duy chính trị mới”, họ đưa ra sự lựa chọn là “chủ nghĩa xã hội nhân đạo và dân chủ” và cho rằng đó là một xã hội duy nhất đem tới cuộc sống xứng đáng. Thực chất xã hội họ chọn vẫn nằm trong khuôn mẫu của chủ nghĩa xã hội, nhưng chấp nhận những cải biến xã hội trong giới hạn duy trì trật tự tư bản chủ nghĩa.

Thứ tư, từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Những người theo chủ nghĩa xét lại đòi đảng phải chấm dứt sự độc quyền về chính quyền và quản lý, đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, tước bỏ quyền lãnh đạo của đảng trên thực tế dẫn tới phá sập chế độ xã hội chủ nghĩa, làm tan rã hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.

Thứ năm, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Họ cho rằng trong thời đại phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, trí thức mới là người giữ vai trò lãnh đạo cách mạng, có sứ mệnh lịch sử toàn thế giới thay giai cấp công nhân. Ngoài ra, họ còn xuyên tạc lý luận về hình thái kinh tế xã hội, thời đại, v.v. Như vậy, nội dung bao quát của chủ nghĩa xét lại ngày nay là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin trên những vấn đề cơ bản, cốt lõi nhất, phá hoại nghiêm trọng chủ nghĩa xã hội hiện thực, làm suy yếu phong trào cách mạng thế giới.

Một số biểu hiện của chủ nghĩa xét lại ở Việt Nam

Ở Việt Nam, chủ nghĩa xét lại không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, nó chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng không thành hệ thống lý luận, không nhất quán và biểu hiện ở lời nói, trang viết và hành động,... của một số người, một số tổ chức phi pháp. Vào những năm 1930 (thế kỷ XX), điển hình là nhóm tơ-rốt-xkít, gồm những phần tử: Hồ Hữu Tường, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm,... đã chống lại chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương; đồng thời, đưa ra những khẩu hiệu “tả” để lừa bịp, lôi kéo quần chúng, làm cho nhân dân lầm tưởng họ là những người cách mạng - đó là thứ chủ nghĩa cơ hội chính trị. Kịp thời phê phán, đấu tranh chống lại sự phá hoại của nhóm tơ-rốt-xkít ở Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Bọn tờ-rốt-xkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất”3. Đặc biệt, đầu những năm 1980 (thế kỷ XX) đất nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế, xã hội sâu sắc, Đảng ta đã khởi xướng công cuộc đổi mới. Chính lúc đất nước vô vàn khó khăn, một số người miệng hô đổi mới nhưng lại xa rời nguyên tắc, từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa “thay hướng, đổi lòng”, tráo trở “phản bội” lý tưởng.

Hiện nay, “... bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm”4 trong bối cảnh quốc tế, khu vực còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định; các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam,… là mảnh đất màu mỡ để những kẻ xét lại có điều kiện trỗi dậy như “nấm độc sau mưa” với những biểu hiện chính là:

Về sự lựa chọn con đường phát triển của Việt Nam. Trước những vấn đề lớn, phức tạp, cùng một số hạn chế, yếu kém của đất nước chậm được khắc phục,… những phần tử xét lại cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đã sai lầm khi lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”, họ coi “Chủ nghĩa xã hội mác xít cũng chỉ để tuyên truyền, mơ mộng, phải từ bỏ”5. Và rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ là phương tiện, độc lập dân tộc là mục đích; Cụ Hồ mượn chủ nghĩa Mác - Lênin (phương tiện) để đạt mục đích (độc lập dân tộc), nay mục đích đã đạt được thì từ bỏ phương tiện ấy mới là thức thời, v.v. Từ đó, họ phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những kẻ xét lại cho rằng, C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đã tự phủ nhận nhận thức của mình về chủ nghĩa xã hội. Bằng thủ đoạn viện dẫn theo kiểu cắt ghép, xuyên tạc một số ý kiến của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh để “chứng minh” cho thủ đoạn xét lại toàn bộ những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, từ đó phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Về vấn đề lịch sử. Thủ đoạn quen thuộc của những phần tử xét lại là xuyên tạc, bôi đen lịch sử tiến đến phủ nhận lịch sử, nhất là những thành quả hào hùng của cách mạng Việt Nam; thậm chí một số trí thức, nhà khoa học, nhất là khoa học lịch sử thoái hóa, biến chất đã từ bỏ tính giai cấp, tính Đảng và tính khách quan khi nghiên cứu lịch sử, cố tình “lật sử”. Họ tìm mọi cách để xuyên tạc lịch sử, “giải thiêng lịch sử”, “giải thiêng anh hùng dân tộc”, hạ bệ lãnh tụ, nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời, cổ súy, tô hồng công lao của những kẻ đã từng làm tay sai cho giặc, những kẻ nợ máu với đồng bào ta, v.v.

Những vấn đề trên cho thấy, ở nước ta đang có sự trỗi dậy của tư tưởng xét lại và những kẻ xét lại - một nguy cơ hiện hữu, cần được nhận rõ và đấu tranh kịp thời.

Những vấn đề có tính nguyên tắc trong đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại ở Việt Nam hiện nay

Chủ nghĩa xét lại không phải là “định mệnh” đối với tất cả các đảng cộng sản; sự xuất hiện của nó phản ánh tính chất gay go, quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Vì vậy, để đấu tranh giành thắng lợi phải luôn tuân theo những vấn đề có tính nguyên tắc sau:

Một làkiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân. Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, không có khoa học nào vô tư đứng trên giai cấp, đứng ngoài chính trị mà đều phải phục vụ mục đích chính trị của giai cấp nhất định - giai cấp thống trị xã hội. Do đó, thiếu một lập trường kiên định, vững vàng thì sớm muộn sẽ rơi vào những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa xét lại và bị giai cấp tư sản đánh gục. Chỉ kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân mới có thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, nhân sinh quan cách mạng để xem xét, nhận định, phân tích một cách khách quan toàn diện các hiện tượng chính trị - xã hội đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên thế giới, khu vực và trong nước để có thái độ, trách nhiệm và đề ra quyết sách chính trị đúng đắn, giải quyết hợp lý, hợp tình mọi vấn đề chính trị - xã hội. Vì vậy, để đấu tranh giành thắng lợi, chúng ta phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, kiên trì đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

Hai làthường xuyên xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Phải vận dụng một cách khoa học, sáng tạo nền tảng tư tưởng đó vào những điều kiện lịch sử, cụ thể, từng thời điểm thích hợp. Đồng thời, phải tuân thủ những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin làm tốt công tác tư tưởng, công tác tổ chức, cán bộ để toàn Đảng tạo thành một khối thống nhất về ý chí và hành động, thực sự là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân, của cả dân tộc Việt Nam.

Ba làtăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ địa vị thống trị trong đời sống tinh thần xã hội, tạo chất miễn dịch tư tưởng cho quần chúng để chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa xét lại. Đặc biệt, chú ý giáo dục lý tưởng cách mạng, động cơ phấn đấu cho thế hệ trẻ, vì chính họ sẽ là người chủ tương lai đất nước và thế hệ kế tục để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Bốn làkết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận. Phải thường xuyên lấy lý luận cách mạng soi rọi, dẫn đường cho thực tiễn phát triển đúng hướng, đúng quy luật; đồng thời, phải thông qua thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện và phát triển lý luận, nhất là phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh, bất cập để sửa chữa kịp thời, tránh giáo điều, máy móc hoặc lợi dụng “đổi mới”, “phát triển” để từng bước xa rời những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Năm làkết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh với quan điểm, tư tưởng chống chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại. Sở dĩ như vậy, bởi hai đối tượng đấu tranh này thường cấu kết với nhau, dựa vào nhau để chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội hiện thực và phong trào cách mạng thế giới. Trong đó, việc đấu tranh với quan điểm, tư tưởng chống chủ nghĩa xã hội phải kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng. Nhưng đối với chủ nghĩa cơ hội, xét lại phải hết sức thận trọng, cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, biết tôn trọng, chờ đợi và không can thiệp vào công việc nội bộ từng đảng để tránh đẩy bạn thành thù, tạo ra mâu thuẫn trong nội bộ phong trào Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế.

Sáu lànêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, phối hợp chặt chẽ cả hành động và lời nói trong cuộc đấu tranh vì lợi ích chung. Quá trình thực hiện, phải luôn nắm chắc tình hình; chủ động vận dụng, triển khai nhiều biện pháp phối hợp sáng tạo, phù hợp; tiến hành một cách thường xuyên ở mọi nơi, mọi lúc, tạo đoàn kết, thống nhất cao cả ở trong nước, khu vực và quốc tế, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại gắn với cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đấu tranh có hiệu quả những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại hiện đại dưới mọi màu sắc là nhiệm vụ có tính chất mở đường, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thắng lợi của mặt trận đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Đại tá NGUYỄN TUẤN KHANG, Phó Chủ nhiệm chính trị, Tổng cục Hậu cần

Đơn giản mà không đơn giản

 Công tác cải cách hành chính của Nhà nước trong những năm qua có sự tiến bộ rõ rệt trên các lĩnh vực của đời sống, xã hội. Các thủ tục hành chính được tối giản, thông thoáng hơn, nhưng vẫn đảm bảo được tính chặt chẽ, an toàn, hiệu quả. Tuy nhiên, trong triển khai thực hiện vẫn còn những “hạt sạn” không đáng có, gây phiền hà cho tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp và người dân.

Xoay quanh chuyện này, mới đây anh B có bố đẻ mất ở quê. Lo hậu sự cho cụ xong, anh trở lại cơ quan, mọi người tiếp tục hỏi thăm, chia buồn, anh nói: hiện nay dịch vụ tang lễ ở quê tiện lắm, chế độ mai táng phí của Nhà nước và tỉnh khá tốt nên gia đình đỡ vất vả, tốn kém. Đơn cử như tiền hỏa táng hết 11 triệu đồng, tỉnh đã hỗ trợ 10 triệu đồng; ngoài ra, gia đình còn được thụ hưởng chế độ mai táng phí của Nhà nước gồm: 03 tháng lương, 03 tháng tiền trợ cấp thương binh và tiền cán bộ tiền khởi nghĩa của cụ, nên cũng khá.

Anh C mau miệng nói: thế thì tốt quá anh nhỉ? Anh B trả lời: cái đó thì rõ rồi. Có điều để nhận được tiền thụ hưởng chính sách cũng không đơn giản, thủ tục giấy tờ phiền hà lắm!

Mọi người có vẻ chưa hiểu, hỏi lại: có gì mà phiền hà hả anh?

Theo đà câu chuyện, anh thong thả giãi bày như để trút đi những ưu phiền chất chứa trong lòng. Chả là, sau khi mai táng cho cụ xong, anh B đã ủy quyền cho cô em ở quê làm các thủ tục nhận tiền mai táng phí, nhưng bản thân anh cũng phải “chạy đi, chạy về” ba, bốn lần để lo thủ tục giấy tờ mà vẫn chưa xong. Khổ nỗi, nhân viên làm công tác chính sách của phường hướng dẫn không đầy đủ ngay từ đầu, nên cứ phải làm đi làm lại vì thiếu hoặc sai thông tin. Đối với người ủy quyền, ngoài việc kê khai mã số căn cước, thẻ bảo hiểm y tế, hệ số lương, địa chỉ, còn phải có giấy chứng thực của địa phương nơi cư trú. Tất nhiên, không chỉ một mình anh, mà các con đẻ của cụ (là người ủy quyền) đều phải có đầy đủ những giấy tờ đó. Ngoài ra, còn phải kê khai tuổi của người sinh ra cụ. Cũng may anh chị em trong nhà có ít người ở tỉnh xa nên còn đỡ, chứ nếu ở miền Nam hoặc nước ngoài thì không biết sẽ ra sao - anh nói.

Tôi có ý thắc mắc, sao thủ tục phiền phức thế? Hay cô em nhà anh ứng xử với họ chưa “chu đáo”. Anh B phân trần: không hẳn thế, cô ấy nói đã ứng xử “chu đáo” như các trường hợp khác nhưng họ bảo giấy tờ phải trình cấp trên ký duyệt, nên nếu sai sót thông tin thì sẽ phải làm lại từ đầu. Tôi không biết nói sao, nhưng cảm thấy không thoải mái. Đúng là chuyện tưởng như “đơn giản mà không đơn giản” chút nào.

Nghe vậy, cậu K nói: em không nghĩ thế! Chuyện vừa kể của gia đình anh B có khá nhiều, thậm chí là “chuyện thường ngày ở… cơ sở” ấy mà! Phải nói rằng, so với trước đây, chế độ, chính sách của Nhà nước ngày càng tốt hơn, không có gì phải bàn. Việc giải quyết thực ra cũng đơn giản. Sở dĩ, còn ách tắc, gây phiền hà cho dân là do tổ chức thực hiện chưa tốt, có nhiều quy định không thật cần thiết, rườm rà, chồng chéo; thêm vào đó, trách nhiệm của người trực tiếp làm công tác này chưa cao, chưa có tinh thần vì dân. Tất nhiên, thủ tục hành chính cần phải đầy đủ, chặt chẽ nhưng đến quá mức cần thiết thì lại rất không nên, sẽ làm cho sự việc trở nên phức tạp.

Nghe xong, mọi người không bày tỏ gì thêm, nhưng tôi nghĩ có lẽ cậu K nói đúng. “Nút thắt” của vấn đề là ở đó. Nếu cởi được “nút thắt” này thì sự việc vốn đơn giản sẽ không trở nên phức tạp, tạo thuận lợi cho các hoạt động đời sống, xã hội. Đó cũng là mục tiêu cải cách hành chính mà Nhà nước ta đang hướng tới.

HÀ ANH

Phản bác luận điệu chống phá về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

 Xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo là thủ đoạn không mới, nhưng rất nguy hiểm, bởi đây là vấn đề được dư luận trong và ngoài nước hết sức quan tâm. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đó một cách kịp thời; đồng thời, khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết hiện nay.

Biển Đông có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trên nhiều lĩnh vực, cũng như tồn tại nhiều phức tạp, tạo sự quan tâm đối với các quốc gia trong khu vực và thế giới, trong đó có hệ thống hàng hải quốc tế cùng những “vấn đề” về chủ quyền, lãnh thổ, nên nơi đây đã, đang là tâm điểm cạnh tranh và gây ảnh hưởng của các quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Cũng chính vì lẽ đó, nhiều thập niên gần đây, vùng biển này luôn là “vấn đề nóng” trên bàn cờ chính trị của khu vực. Đối với nước ta, lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động đã tung ra không ít thông tin sai sự thật, hòng xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; trong đó, họ nêu những “đề xuất”, “kiến nghị” đòi thay đổi chính sách ngoại giao của Việt Nam về chủ quyền biển, đảo. Đặc biệt, khi tình hình trên Biển Đông có “điểm nóng”, thì ngay lập tức, trên các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài, như: BBC, Đài châu Á tự do (RFA), các trang mạng xã hội, như: Facebook, YouTube, Twitter, Zalo,… tăng cường phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc về vấn đề này.

Luận điệu mà họ thường rêu rao là Đảng, Nhà nước Việt Nam “nhu nhược”, “làm ngơ” trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; rằng, “chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc quân sự thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”; sức mạnh của Hải quân Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”, v.v. Do đó, Việt Nam cần liên minh quân sự với các nước lớn có tiềm lực quân sự, quốc phòng mạnh, mới bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo quốc gia (!).

Cần khẳng định rằng, những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, bịa đặt; mục đích của họ nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, chính trị trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước. Bởi, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định: Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bằng đường lối, quan điểm nhất quán, đúng đắn, hợp quy luật, hiệu quả.

Về bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Ngay sau khi đất nước thống nhất, nắm bắt việc Liên hợp quốc đang trong quá trình thảo luận, xây dựng Công ước về Luật Biển và nội dung liên quan, ngày 12/5/1977, Việt Nam đã ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Tiếp đó, ngày 12/11/1982, Chính phủ ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Đây là những cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để Việt Nam tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề phân định vùng biển chồng lấn với các quốc gia có liên quan trong giai đoạn sau này. Cụ thể: Việt Nam đã ký Hiệp định về phân định ranh giới biển với Thái Lan vào ngày 09/8/1997 và hiệp định này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 26/02/1998. Đây là hiệp định phân định biển đầu tiên mà Việt Nam ký kết với các quốc gia láng giềng và cũng là hiệp định phân định biển đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á sau khi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 chính thức có hiệu lực vào ngày 16/11/1994. Cùng với hiệp định này, Việt Nam và Thái Lan cũng đã có thỏa thuận về việc tuần tra chung giữa hải quân hai nước vào năm 1998, góp phần quan trọng vào việc duy trì an ninh, trật tự, ổn định vùng biển giáp ranh giữa hai nước. Đối với Vịnh Bắc Bộ, ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ; theo đó, về diện tích tổng thể: Việt Nam đạt 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc đạt 46,77% diện tích Vịnh. Ngày 26/6/2003, sau 25 năm đàm phán, Việt Nam và Inđônêxia đã ký Hiệp định phân định thềm lục địa chồng lấn giữa hai nước và hiệp định chính thức có hiệu lực từ ngày 29/5/2007. Những hiệp định trên mang ý nghĩa quan trọng, góp phần khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; đồng thời, tạo thuận lợi cho việc quản lý, khai thác các vùng biển và thúc đẩy hợp tác với các nước láng giềng. Đây là một minh chứng cho thấy, Đảng, Chính phủ, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, chủ động, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Trong thực tế, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta ngay lập tức thể hiện quan điểm kiên quyết phản đối những hành động xâm phạm của nước ngoài, quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Đồng thời, thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao để lên án những hành vi vi phạm chủ quyền trên biển, đảo Việt Nam. Cùng với đó, Việt Nam luôn chủ động, tích cực và kiên trì giải quyết từng bước những bất đồng tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan, nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hòa bình, an ninh khu vực; tăng cường vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Bằng trải nghiệm xương máu trong lịch sử về hậu quả của chiến tranh, chúng ta cực lực phản đối chiến tranh, xung đột dưới bất cứ hình thức nào. Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng nói chung, liên quan đến biển, đảo nói riêng bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, pháp luật quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời, sẵn sàng về lực lượng, phương án, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đây là biện pháp thể hiện sự khôn khéo, mềm dẻo về sách lược, nhưng rất kiên quyết về nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta để đạt được mục tiêu đề ra, chứ không phải là “nhu nhược, hèn nhát”, “làm ngơ về Biển Đông” như những rêu rao xuyên tạc của các thế lực phản động, cơ hội chính trị.

Về vấn đề liên minh quân sự, trước hết, cần khẳng định quan điểm “bốn không” trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là về vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc không hề mâu thuẫn với chủ trương: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”1. Thực tế minh chứng, nhờ nhất quán và thực hiện đúng đường lối đối ngoại này, Việt Nam đã tạo được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đem lại lòng tin chiến lược - một nền tảng hết sức quan trọng cho các đối tác, các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mặc dù Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, bạn bè, nhân dân tiến bộ trên thế giới, nhưng chúng ta vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, chính nghĩa, nên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và thời đại - một nhân tố quan trọng giúp chúng ta giành thắng lợi. Đây là một trong những bài học được rút ra trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Vì vậy, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc và lợi ích quốc gia - dân tộc, phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh nào. Mặt khác, theo logic của vấn đề, lợi ích của việc liên minh quân sự chắc chắn phải đạt được từ hai phía: nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhưng cái giá phải trả đó là sự “thế chấp” nào đó để nhận được những “cam kết” bảo vệ từ đồng minh. Đó là “luật chơi” thường thấy trong quan hệ quốc tế hiện nay. Như vậy, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đều khẳng định, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Việt Nam là phải tự lực, tự cường, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, dựa vào sức mình là chính, song luôn tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế, nhân dân tiến bộ trên thế giới để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây cũng là sự khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta để đập lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Theo đó, chúng ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; trong đó, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại làm nòng cốt. Và từ năm 2010, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xác định Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Vì thế, lực lượng Hải quân được ưu tiên đầu tư cả về vũ khí, trang thiết bị và con người. Với việc tiếp nhận, huấn luyện làm chủ và đưa vào khai thác sử dụng nhiều loại tàu, vũ khí trang thiết bị hiện đại, đến nay Hải quân nhân dân Việt Nam đã có đủ năm thành phần lực lượng: tàu mặt nước; tàu ngầm; không quân Hải quân; pháo binh - tên lửa bờ; hải quân đánh bộ, đặc công Hải quân và lực lượng phòng thủ đảo. Cùng với đó, với truyền thống xây dựng, chiến đấu, trưởng thành gần 70 năm qua và những chiến công oanh liệt trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, Bộ đội Hải quân luôn vững vàng về lập trường, kiên định về lý tưởng, có tư duy sáng tạo, quyết đánh và quyết thắng, chắc chắn sẽ là những quả đấm thép, đủ sức cùng các lực lượng bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Điều này, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc về sức mạnh, ý chí chiến đấu của lực lượng Hải quân Việt Nam.

Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ thiêng liêng; trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của cả hệ thống chính trị và phải tiến hành đồng bộ các chủ trương, giải pháp. Trong đó, cần nhận rõ, kiên trì, kiên quyết đấu tranh với những chiêu trò xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ, đúng; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

TS. TRẦN THỊ NHẸN, Học viện Hải quân

Phê phán quan điểm cho rằng “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”

 Những ẩn ý thâm độc của luận điệu “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”

Một cách chung nhất, “cạn kiệt” được hiểu là “cạn sạch, đến mức không còn tìm đâu, lấy đâu ra nữa”3. Theo đó, “cạn kiệt nguồn lực” là cạn sạch, không còn nguồn lực nữa. Có thể thấy rằng, luận điệu trên không đơn thuần là một bình luận, một nhận định hay một đánh giá, mà ẩn ý của nó là một sự phủ định sạch trơn về nguồn lực của đổi mới. Điều đó cũng đồng nghĩa với phủ định đổi mới. Bởi, khi không còn nguồn lực tiếp sức thì đổi mới tự nó cũng kết thúc. Ẩn ý là rõ ràng và rất tinh vi. Họ không trực tiếp phủ nhận đổi mới, mà phủ nhận đổi mới thông qua phủ định nguồn lực của nó. Từ đó họ “khuyên” ta không nên đổi mới nữa, vì “đổi mới đã xong”, nghĩa là “đổi mới đã chết”(!?). Không đổi mới đồng nghĩa với không phát triển theo mục tiêu, con đường đã xác định, đã lựa chọn; là dừng lại, thỏa hiệp, đầu hàng trước cái cũ, cái lỗi thời, lạc hậu. Chúng ta đã từng trải qua những thời khắc lựa chọn nghiệt ngã của lịch sử: “đổi mới hay là chết”. Chúng ta đã lựa chọn “đổi mới” và có được những thành quả như hôm nay.

Mặt khác, sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Điều này đã được Đảng ta, Nhân dân ta và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Ấy vậy mà những người đưa ra luận điệu trên lại thấy thành quả đổi mới chỉ là làm “cạn kiệt nguồn lực” của đất nước (!?). Từ đây, một câu hỏi được đặt ra: sự “cạn kiệt nguồn lực” này là do đâu và ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước hiện trạng này? Ai cũng biết rằng, công cuộc đổi mới là do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện, theo đó, một hệ luận rất sâu xa ngầm được rút ra mà ai cũng hiểu sự ám chỉ của nó. Cái tinh vi là họ không trực tiếp đổ lỗi, không quy cho một chủ thể nào một cách trực diện, võ đoán, nhưng đích mà họ nhắm đến là nhất quán, không thay đổi, đó là: phủ nhận đổi mới, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ một đảng yếu kém, không đủ năng lực và phẩm chất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo đổi mới, mới đem lại kết quả tệ hại như vậy, làm tiêu tan mọi nguồn lực của đất nước, triệt tiêu động lực của phát triển. Như vậy, chỉ với một luận điệu nêu ra, họ đã nhằm hai đích: phủ nhận công cuộc đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng ta.

Có phải “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”?

Chúng ta có thể khẳng định rằng, đổi mới ở Việt Nam chưa bao giờ và sẽ không bao giờ cạn kiệt nguồn lực bởi các lẽ sau:

Thứ nhất, đổi mới ở Việt Nam là đổi mới sáng tạo và tự giác. Đó là một chương trình cải cách có mục tiêu, nguyên tắc, lộ trình và những bước đi thích hợp, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện. Công cuộc đổi mới được hoạch định, trù liệu và được dẫn dắt bởi cương lĩnh, chiến lược, đường lối, quan điểm của Đảng. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời điểm quan trọng, then chốt của đổi mới, Đảng ta đều có những quyết sách đúng đắn nhằm phát hiện đúng các nguồn lực, kích hoạt các nguồn lực đó thông qua các cơ chế, chính sách, giải pháp tác động vào con người, xã hội để khai thác, phát huy vai trò các nguồn lực phục vụ cho đổi mới và phát triển đất nước. Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới của Đảng đã chỉ rõ: “Cần đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, các cơ chế, chính sách, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để khơi dậy những tiềm năng, nguồn lực của đất nước, tạo ra động lực mới cho quá trình đổi mới”4.

Thứ hai, đổi mới ở Việt Nam vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, do đó đã phát huy được mọi nguồn lực to lớn trong nhân dân. Mục tiêu đó không chỉ có tác dụng định hướng công cuộc đổi mới mà còn đóng vai trò nguồn lực thúc đẩy đổi mới các lĩnh vực khác. Việc thực hiện hiệu quả các mục tiêu này cho phép phát huy được các nguồn lực rất to lớn trong nhân dân, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài, bao gồm nhân lực, tài lực và vật lực. Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo cơ chế, chính sách hợp lý, môi trường thuận lợi; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội; hoàn thiện thể chế, chính sách,... để thu hút, phát huy tối đa các nguồn lực cho phát triển đất nước. Đại hội XII của Đảng đã đề ra chủ trương thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân,… qua đó đẩy mạnh đồng bộ công cuộc đổi mới.

Thứ ba, sự kết hợp giữa “ý Đảng với lòng dân và kỷ cương phép nước” đã tạo ra nguồn lực to lớn, có tính quyết định của đổi mới. Đổi mới ở Việt Nam là sự kết hợp, bắt gặp, đồng thuận giữa đổi mới từ cơ sở, từ phía người dân với đổi mới từ các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng. Đó là sự đồng thuận giữa “ý Đảng và lòng dân”, làm cho sự nghiệp đổi mới của Việt Nam trở thành sự nghiệp chung của toàn dân, do Đảng lãnh đạo. Điều này cho thấy nguồn lực của đổi mới là nguồn lực to lớn của nhân dân; sức mạnh của đổi mới là sức mạnh của nhân dân, của dân chủ, đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn lấy “đoàn kết” làm giá trị cốt lõi và “đại đoàn kết toàn dân tộc” làm đường lối chiến lược trong toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng, là nguồn lực và động lực chủ yếu của dân tộc Việt Nam. Đây là nguồn lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Do đổi mới là sự đồng thuận giữa “ý Đảng và lòng dân” nên khi Đảng ta phát động đổi mới thì lập tức được nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo hiệu ứng mạnh mẽ: “Tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, trở thành nguồn lực to lớn cho sự nghiệp đổi mới đất nước.

Thứ tư, bản thân đổi mới là một nguồn lực quan trọng nhất để duy trì lợi thế phát triển. Đổi mới không chỉ là phương thức, mà còn là một nguồn lực của phát triển. Đó là nguồn lực được sinh ra trong quá trình đổi mới, là kết quả của đổi mới, do chính những thành tựu của đổi mới tạo ra. Nguồn lực tự sinh này bắt nguồn từ tầm vóc lịch sử, quyết sách chiến lược của đổi mới; triết lý giải phóng - sáng tạo - phát triển của đổi mới; đặc điểm, tính chất của đổi mới, v.v. Nguồn lực này tiếp thêm sức mạnh cho đổi mới, tạo thế và lực mới cho đất nước ta. Tất cả các nguồn lực khác, nếu không có đổi mới thì sẽ được quản lý, khai thác, phân bổ theo cách thức, tư duy cũ sẽ không phát huy tối đa hiệu quả. Nhờ đổi mới, các nguồn lực cũng sẽ được phân bổ hợp lý hơn, nuôi dưỡng và tái tạo để không bị suy giảm trong quá trình khai thác, sử dụng. Cũng nhờ đó, mà tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc được khơi dậy mạnh mẽ, trở thành nguồn lực vô tận của đổi mới và phát triển.

Nguồn lực của đổi mới không phải là một, là duy nhất mà là một hệ thống, bao gồm nhiều nguồn lực, cả vật chất và tinh thần, trong kinh tế, chính trị và văn hóa, trong các giá trị truyền thống đã kết tinh thành di sản, trong các giá trị mới được sinh ra từ đổi mới và phát triển. Thời gian qua, bên cạnh những thành công trong khai thác, phát huy các nguồn lực thì những hạn chế, yếu kém trong quản lý cùng với những tiêu cực, lãng phí đã làm thất thoát rất lớn các nguồn lực của đất nước. Điều này đã làm không ít người hiểu sai bản chất của đổi mới, bản chất của Đảng ta, để một số phần tử cơ hội chính trị lợi dụng reo rắc những luận điệu sai trái, thù địch nhằm kích động, gây phân tâm trong một bộ phận nhân dân, cán bộ, đảng viên. Việc vạch trần các thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc và phản bác các luận điệu sai trái của các phần tử cơ hội này là hết sức cần thiết và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Qua đó, giúp chúng ta ngày càng hiểu đúng và vững tin hơn vào con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã chọn để thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

PGS, TS. PHAN TRỌNG HÀO, Hội đồng Lý luận Trung ương