Thứ Tư, 26 tháng 7, 2023

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CHỦ NGHĨA XA HỘI

 

Các luận điệu chống phá cho rằng: Việt Nam muốn giàu có, thịnh vượng thì phải dũng cảm từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa(!). Đáng tiếc, những quan điểm, luận điệu như vậy vẫn được một số người, trong đó có những trí thức có học hàm học vị ở trong nước cổ súy.

Với mưu đồ phá hoại, từ lâu các thế lực thù địch, phản động đã sử dụng nhiều chiêu trò chống phá Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng và những thành quả cách mạng. Trong số đó, có những quan điểm cho rằng, chủ nghĩa xã hội (CNXH) là nghèo khổ vì “chủ nghĩa Mác - Lênin dị ứng với sự giàu có”; rằng Việt Nam “không chịu phát triển”, “không thể phát triển” bởi Việt Nam “lạc nhịp” với thế giới, “sa lầy trong tư duy” về chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH. Theo đó, họ rêu rao, Việt Nam muốn giàu có, thịnh vượng thì phải dũng cảm từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN)(!). Đáng tiếc, những quan điểm, luận điệu như vậy vẫn được một số người, trong đó có những trí thức có học hàm, học vị ở trong nước cổ súy.

Thực ra, cả lý luận và thực tiễn, cả logic và lịch sử trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều bác bỏ những quan điểm nói trên.

Thứ nhất, về mặt tư tưởng, lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin không dị ứng với giàu có, thịnh vượng như một số người xuyên tạc. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết rõ: “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác”(1). Chủ nghĩa Mác - Lênin tuyên bố công khai mục đích của phong trào XHCN hiện đại là xây dựng xã hội mới giàu có, thịnh vượng cho đa số nhân dân chứ không phải một xã hội trong đó “sự áp bức và lao động kiệt sức đối với đa số, sự giàu có và hạnh phúc ấm no đối với một số ít người”(2). Theo Mác, trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản (xã hội XHCN) không tránh khỏi “người này giàu hơn người kia”(3)…

V.I.Lênin viết: “Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ mới”(4).Từ thực tiễn cách mạng Nga, V.I.Lênin cho rằng, giải pháp chiến lược để từng bước tạo ra năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB) chính là thực hiện Chính sách kinh tế mới. Đây là chính sách kinh tế nhiều thành phần - đặc trưng cho toàn bộ thời kỳ quá độ lên CNXH. Theo đó, người cộng sản cũng phải học cách buôn bán, học cách tổ chức lãnh đạo, quản lý, khai thác, phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế, xã hội để phát triển sản xuất, xây dựng nền sản xuất lớn công nghiệp hiện đại. Người cộng sản phải biết làm giàu trí tuệ của mình “bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”(5); phải “dùng cả hai tay mà hứng lấy những cái tốt của nước ngoài”(6); phải “đưa chủ nghĩa xã hội vào cuộc sống hằng ngày”(7)...

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện Việt Nam, Hồ Chí Minh nêu rõ: “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”(8); “Xã hội chủ nghĩa là ai cũng được làm việc, được ăn no mặc ấm, được học hành, người già yếu thì được giúp đỡ, các cháu bé thì được săn sóc. Nói tóm lại, xã hội chủ nghĩa là sung sướng ấm no”(9). Điều mong muốn cuối cùng trong bản Di chúc lịch sử, Người cũng viết: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh...”(10)…

Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh quan niệm CNXH là xã hội giàu có về mọi phương diện và giàu có cho số đông, hơn hẳn CNTB và là sự thay thế hợp quy luật đối với CNTB. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chủ trương xóa áp bức, bóc lột, lạc hậu, bất công, nghèo khổ chứ không hề dị ứng với giàu có, thịnh vượng, không hề chủ trương “xóa giàu”như một số người lầm tưởng, suy diễn, xuyên tạc.

Thứ hai, về mặt thực tiễn, Liên Xô và nhiều nước XHCN trước đây đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và chứng minh rằng, giàu có, thịnh vượng cho đất nước và đông đảo nhân dân không chỉ là mơ ước, lý tưởng, khát vọng cháy bỏng; không chỉ là chủ trương, chính sách của các Đảng Cộng sản, của các Nhà nước XHCN mà đã từng là hiện thực lịch sử sinh động ở một số quốc gia.

Sau cách mạng Tháng Mười năm 1917, từ đống đổ nát bởi chiến tranh, với một nền kinh tế kiệt quệ, đầy tàn tích nông nô, nước Nga Xô viết (từ 1922 là Liên Xô) đã nhanh chóng vươn lên thành cường quốc. Đến năm 1932, Liên Xô trở thành nước công nghiệp, trong đó, sản phẩm công nghiệp chiếm 70,7% tổng sản phẩm nền kinh tế quốc dân. Trong 5 năm (1927-1932), thu nhập quốc dân tăng 85%; chi phí của Nhà nước về bảo hiểm xã hội và y tế tăng 4 lần; ngày làm việc của công nhân giảm xuống 7h/ngày; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, 98% trẻ em từ 8-11 tuổi đã được cắp sách đến trường; nạn mù chữ đã được thanh toán; đại đa số người lớn biết đọc, biết viết(11). Sau chiến tranh thế giới II, một số nước XHCN ra đời và cũng có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng.

Đến năm 1970, chỉ tính riêng các nước XHCN ở châu Âu đã chiếm 40% sản lượng công nghiệp thế giới, 1/3 giá trị xuất khẩu toàn thế giới; 4 nước XHCN được xếp trong số 20 nước phát triển của thế giới là Liên Xô, Cộng hòa dân chủ Đức, Cộng hòa nhân dân Ba Lan, Cộng hòa XHCN Tiệp Khắc; Liên Xô trở thành một trong hai siêu cường của thế giới (Xô - Mỹ)(12). Liên Xô và các nước XHCN không chỉ có tốc độ phát triển kinh tế, công nghiệp nhanh, không chỉ đạt nhiều thành tựu về khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật mà còn thực thi hệ thống chính sách xã hội tất cả vì con người, nhất là chính sách về lao động, việc làm cho mọi người; chính sách giáo dục, y tế không mất tiền; chính sách ưu tiên đối với trẻ em, phụ nữ, người già và dân tộc thiểu số... Những ưu việt này không chỉ đem lại sự thụ hưởng hạnh phúc cho nhân dân các nước XHCN mà còn là mục tiêu hấp dẫn, vẫy gọi đấu tranh đối với công nhân, lao động trên thế giới. Trước áp lực đấu tranh của người lao động, các chính đảng và nhà nước tư sản buộc phải điều chỉnh chủ trương, chính sách kinh tế xã hội theo hướng coi trọng hơn các phúc lợi xã hội…

Cần nói thêm rằng, Liên Xô và các nước XHCN đi lên từ điểm xuất phát thấp, xây dựng CNXH trong sự bao vây, chống phá điên cuồng của thế giới tư bản nhưng nhờ vào trí tuệ, ý chí, sự nỗ lực sáng tạo của đông đảo công nhân lao động trong tư cách, vị thế, niềm tin của những người làm chủ xã hội mà có được sự phát triển nhanh chóng và đạt được những thành quả vĩ đại. Cho dù, vì nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do những người lãnh đạo cao nhất trong bộ máy đảng, nhà nước XHCN xa rời, thậm chí từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, phản bội CNXH khiến từ cuối thập niên 80 đầu 90 của thế kỷ XX, Liên Xô tan rã, chế độ XHCN ở Đông Âu thất bại thì cũng không thể phủ nhận sự thật lịch sử là chính chủ nghĩa Mác-Lênin, CNXH, chứ không phải CNTB đã từng đưa một số quốc gia dân tộc vượt qua lạc hậu, vươn lên phát triển, giàu mạnh; đưa Liên Xô trở thành một trong hai siêu cường của thế giới. Qua 30 năm, kể từ khi Liên Xô tan rã, đến nay vẫn chưa thấy khả năng nước Nga và các quốc gia, dân tộc tư bản trong không gian Liên Xô cũ tìm lại, phục hưng được vị trí siêu cường thế giới như thời Liên Xô. Một số nước trong không gian Liên Xô cũ đã và đang rơi vào cảnh trì trệ, bất ổn, xung đột...

Trong khi đó, cũng lâm vào trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội, cũng đi vào cải cách, mở cửa, đổi mới như Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, nhưng một số nước khác, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam lại thành công. Một trong những bí quyết đem lại thành công là kiên định mục tiêu, kiên trì con đường XHCN, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Thứ ba, trong tư duy, nhận thức của một số người, ta - CNXH là nghèo nàn, lạc hậu, còn tư bản, nước ngoài là văn minh, giàu có. Sự thật không phải như vậy. Nước ngoài là nước khác, không phải nước ta. Nước ngoài cũng có nước tư bản, có nước XHCN, có nước giàu, nước nghèo. Trong số gần 200 quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, tuyệt đại đa số đang theo chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN). Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ TBCN đều phát triển, giàu có, thịnh vượng. Trong hơn 190 quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ TBCN thì đa số là các nước chưa phát triển, đang phát triển, nghèo, kém phát triển và không ít nước có bất ổn về chính trị xã hội. Số liệu thống kê, tổng hợp năm 2018 cho thấy, 10 nước nghèo đói nhất thế giới đều là những nước theo chế độ tư bản ở châu Phi và 50 quốc gia nghèo nhất thế giới cũng đều là các nước theo chế độ tư bản.

Một số nước tư bản được xem là giàu có, văn minh bậc nhất thế giới thì chính họ đồng thời cũng là những quốc gia đã và đang tiếp tục gây ra cho nhân loại rất nhiều tai họa. Hơn nữa, trong chính những nước này, sự giàu có không phải cho số đông mà chỉ dành cho số ít và sự phân hóa giàu nghèo là rất khủng khiếp. Có khu vực, 1% người sở hữu 99% tài sản và 99% người chỉ sở hữu 1% tài sản. Mười năm trước, sự phân hóa ấy bùng phát thành phong trào “Chiếm lấy phố Wall” ở Mỹ và lan ra nhiều nước khác(13). Tại khu vực Mỹ la tinh, nơi nhiều nước từng là “sân sau” của CNTB, trong vài thập kỷ gần đây đã liên tục trỗi dậy, tẩy chay CNTBvà bước đầu tìm kiếm, thử nghiệm con đường, mô hình phát triển mới -con đường, mô hình “CNXH thế kỷ XXI”.

Còn ở một số nước tư bản được xem là giàu có và văn minh khác, nhất là các nước Bắc Âu, với vai trò cầm quyền, chi phối của các đảng xã hội dân chủ thì ở đó, không chỉ có các nhân tố tư bản mà còn có các nhân tố có tính chất XHCN mới làm nên giá trị phát triển của những nước này. Ngay từ năm 1847, trong Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen viết, những người XHCN dân chủ “đi theo cùng con đường với những người cộng sản”, họ muốn thực hiện một phần những biện pháp cách mạng, “nhưng không coi đó là những biện pháp quá độ dẫn đến chủ nghĩa cộng sản, mà coi đó là những biện pháp đầy đủ để xóa bỏ cảnh nghèo nàn và những tai họa của xã hội hiện nay”(14). Tuy nhiên, thực tế các nước Bắc Âu cũng đang nảy sinh những giới hạn, mâu thuẫn. Việc đánh thuế cao để có phúc lợi cao khiến các nhà đầu tư giảm động lực, nhiều người di chuyển tư bản sang nước có thuế thu nhập thấp hơn để tăng thêm sự giàu có cho riêng họ. Ngược lại, phúc lợi xã hội cao cũng làm cho người lao động trở nên ỷ lại, trông chờ, dựa dẫm vào nhà nước(15)...

Do đó, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta lựa chọn quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là hoàn toàn đúng đắn. Tất nhiên, trong khi chọn lọc kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh, tiến bộ mà nhân loại đạt được dưới CNTB, chúng ta phải dứt khoát bỏ qua những thói hư tật xấu, bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột TBCNvà phải tỉnh táo, phê phán, bác bỏ những nhận thức ảo tưởng, mơ hồ, những luận điệu ca ngợi một chiều CNTB(16).

Thứ tư, cần nhắc lại rằng, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nước Việt Nam không còn tên trên bản đồ thế giới. Đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, đô hộ, chia cắt, nhân dân lầm than, đói nghèo, cực khổ. Ngay từ đầu, các tầng lớp nhân dân Việt Nam yêu nước, yêu hòa bình đã đứng dậy chống thực dân Pháp xâm lược dưới những ngọn cờ khác nhau, trong đó có cả ngọn cờ dân chủ tư sản. Tuy nhiên, tất cả đều dẫn đến kết cục thất bại, bế tắc. Cuối cùng, lối thoát để cứu nước, cứu dân được tìm thấy bởi Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Lịch sử đặt ra yêu cầu; lịch sử tạo ra điều kiện, tiền đề và biện pháp, con đường và lực lượng để tổ chức, lãnh đạo giải quyết những yêu cầu đó. Lịch sử đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam với con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, con đường cách mạng vô sản theo tấm gương cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, con đường cách mạng được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác-Lênin - học thuyết “chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN, tuy mỗi thời kỳ, giai đoạn có những chính sách, biện pháp khác nhau (trong đó không tránh khỏi có cả những sai lầm, khuyết điểm) nhưng điểm nhất quán là Đảng, Nhà nước ta luôn chủ trương xóa đói nghèo, lạc hậu, áp bức, bóc lột, bất công và hướng tới xây dựng nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Trong thời kỳ đổi mới, cùng với việc xác định “dân giàu”, “nước mạnh” là những mục tiêu hàng đầu trong hệ mục tiêu của CNXH ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, giải pháp đúng đắn và hệ thống chính sách, pháp luật phù hợp để từng bước thực hiện “dân giàu”, “nước mạnh”… Đó là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, “phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, thừa nhận trên thực tế còn có bóc lột và sự phân hóa giàu nghèo nhất định trong xã hội nhưng phải luôn quan tâm bảo vệ lợi ích của người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, vừa coi trọng xóa đói, giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội...”(17).

Theo tinh thần đó, trong hơn 35 năm đổi mới, với sự nỗ lực của các thành phần kinh tế, xã hội, sự đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, “đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt(18). Công tác xoá đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao... Việt Nam là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công và là 1 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới(19). Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”(20). Đây là điều kiện, tiền đề, là động lực, niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta xác định yêu cầu, nhiệm vụ cao hơn, với ý chí, khát vọng quyết tâm mạnh mẽ hơn để thực hiện các mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo lộ trình đến năm 2025, năm 2030 và năm 2045(21).

Những thành quả cách mạng và triển vọng tốt đẹp của đất nước luôn gắn liền với sự kiên định mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và CNXH, sự kiên định và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu của đất nước và xu thế thời đại. Thực tế lịch sử đó hoàn toàn bác bỏ nhận thức cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin, CNXH cản trở, kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Thứ năm, hiện nay, đúng là nước ta mới ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển để trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp. Nước ta vẫn chưa hoàn thành nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực trạng đó do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan. Từ góc độ của chủ đề bài viết, có thể nêu một số nguyên nhân như:

1) Thực hiện quá độ lên CNXH từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu, lực lượng sản xuất rất thấp.

Trong khi ở nhiều nước phát triển trên thế giới, giai cấp tư sản dân tộc là người tổ chức, lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước và giải phóng dân tộc thì ở nước ta, giai cấp tư sản dân tộc ra đời muộn, bị thực dân, đế quốc chèn ép, mặc dù cũng rất yêu nước, anh dũng nhưng nhỏ yếu về tiềm lực kinh tế, chính trị… nên tư sản dân tộc không đảm đương được những nhiệm vụ lịch sử nặng nề ấy. Và sự vận động của lịch sử dân tộc đã tạo ra điều kiện, tiền đề để giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam gánh vác sứ mệnh lãnh đạo, tổ chức thực thi nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước… Như vậy, giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam không những không được thừa kế di sản công nghiệp hiện đại (các cơ sở công nghiệp do thực dân, đế quốc để lại chủ yếu là trình độ lạc hậu và bị phá hủy nhiều) mà còn phải tự mình lãnh đạo, tổ chức thực thi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2) Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề, dai dẳng.

Sau năm 1975, cả nước thống nhất quá độ lên CNXH, nhưng tiếp đó đất nước lại phải tiếp tục gồng mình, dốc sức, đương đầu với hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở hai đầu biên giới mà độ ác liệt, tàn khốc và hậu quả của nó cũng không thua kém gì so với hai cuộc kháng chiến trường kỳ trước đó. Do đó, về cơ bản, thời gian chúng ta có hòa bình để phát triển cũng chưa đầy 40 năm. Theo dự tính, phải hơn 100 năm nữa chúng ta mới có thể rà phá, xử lý hết bom mìn sót lại; hàng triệu người tàn tật, nạn nhân chiến tranh; những vết thương nhức nhối chia cắt, ly tán… về tình cảm, chính trị… vốn đã không dễ xoa dịu, hàn gắn lại thường bị các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, kích động, chống phá… Sau khi kết thúc chiến tranh, đất nước ta lại tiếp tục phải đương đầu với chính sách bao vây, cấm vận rất phản động và vô nhân đạo kéo dài của các thế lực tư bản, đế quốc và hiện nay các thế lực thù địch, phản động vẫn thường xuyên sử dụng nhiều âm mưu, thủ đoạn để chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đổi mới, phát triển theo định hướng XHCN của nhân dân ta…

3) Những điểm yếu tâm lý tiểu nôngcùng với tàn dư của chế độ thực dân, phong kiến, đế quốc kết hợp với mặt trái của kinh tế thị trường gây ra những ảnh hưởng, tác động sâu sắc đến tâm lý, nhận thức, hành vi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức, thói quen, lối sống của con người hiện tại, kể cả với đội ngũ doanh nhân và cán bộ lãnh đạo, quản lý. Trong đó có những biểu hiện của tư duy cào bằng, xem nhẹ kinh doanh buôn bán, “phép vua thua lệ làng”, “một người làm quan cả họ được nhờ”, quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm, làm ăn nhỏ lẻ, chụp giật, thiếu tầm nhìn xa, vừa ỷ lại, trông chờ vào nhà nước và xã hội…

4) Làm giàu để có cuộc sống vật chất sung túc và tinh thần phong phú là nhu cầu, ước vọng của toàn nhân loại nhưng ước vọng đó luôn bị quy định, giới hạn bởi các điều kiện lịch sử xã hội. Thực tế cho thấy, từ góc độ cá nhân cũng như quốc gia, dân tộc, quá trình hiện thực hóa khát vọng chính đáng ấy, thất bại vẫn dễ hơn và nhiều hơn thành công. Từng cá nhân làm giàu đã rất khó, làm giàu cho nhiều người, cho hàng trăm triệu người thì lại vạn lần khó khăn hơn(22), nhất là từ nền nông nghiệp lạc hậu, từ chiến tranh, đổ nát đi lên trong sự bao vây, chống phá của các thế lực phản động, thù địch…

Về phía chủ quan, trong quá trình lãnh đạo cách mạng XHCN, Đảng ta cũng đã không tránh khỏi có những sai lầm, khuyết điểm, nhất là khoảng thời gian 10 năm đầu cả nước thống nhất quá độ lên CNXH, như có biểu hiện duy ý chí, nóng vội trong cải tạo XHCN, nhấn mạnh tính chất XHCN của quan hệ sản xuất trong khi trình độ lực lượng sản xuất còn đa dạng và cơ bản là thấp; nhấn mạnh quá mức việc phát triển công nghiệp nặng, duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp… Thực ra, những sai lầm, khuyết điểm này là biểu hiện của sự nhận thức phiến diện, không đầy đủ, thiếu sâu sắc về bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng đã nhận ra điều đó và “nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên”(23). Thành quả to lớn có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới đất nước là minh chứng sống động khẳng định trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm của Đảng; khẳng định vai trò của việc kiên định, nắm vững và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để Đảng tiếp tục sứ mệnh lãnh đạo nhân dân vững bước trên con đường XHCN.

Từ những lý giải, phân tích trên đây cho thấy, các quan điểm cho rằng: CNXH là nghèo khổ, chủ nghĩa Mác-Lênin “dị ứng với sự giàu có”; và Việt Nam muốn giàu có, thịnh vượng thì phải dũng cảm từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ con đường XHCN...(!) là những quan điểm sai trái cả về lý luận và thực tiễn. Do đó, cần khẳng định rằng, muốn đất nước giàu có, thịnh vượng, không những phải “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(24); không những phải khơi dậy, phát huy mạnh mẽ các nguồn lực, trí tuệ, sự thông minh, sáng tạo, ý chí, khát vọng của con người Việt Nam để chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, làm giàu cho bản thân, gia đình và góp phần xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; mà đồng thời, còn phải chủ động đấu tranh, uốn nắn, phê phán, bác bỏ những nhận thức lệch lạc, sai trái bởi nó cũng là một trong những lực cản vô hình nguy hiểm không thể xem thường trên con đường đi tới giàu có, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam.

 

 

Cơ sở khoa học, thực tiễn chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền

 Hiện nay, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm

quyền, lãnh đạo chính trị, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để làm rõ vấn đề, chúng ta

 phân tích và làm rõ những cơ sở khoa học, thực tiễn trên các khía cạnh sau.


Một là, mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh đạo đất nước phát

triển.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả sự hợp nhất của 3 tổ chức cách

mạng tiền thân là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông

Dương Cộng sản Liên đoàn. Trước khi hợp nhất, các tổ chức này hoạt động độc lập

và có hiện tượng tranh chấp sự ảnh hưởng trong quần chúng và mỗi tổ chức đều

muốn đứng ra thống nhất các tổ chức cộng sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt

Nam đã chấm dứt tình trạng phân tán lực lượng, tạo sự thống nhất về tổ chức trong

cả nước, nâng tầm ảnh hưởng và vị thế của Đảng. Đảng trở thành hiện thân đại

diện tiêu biểu cho lợi ích của toàn thể giai cấp công nhân, nhân dân lao động và

dân tộc Việt Nam.

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội

tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao

động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân,

của nhân dân lao động và của dân tộc”. Ngoài lợi ích trên, Đảng Cộng sản Việt

Nam không còn lợi ích nào khác.

Mục đích của Đảng là “Xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu

mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành

công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”.

Hai là, Đảng đã tìm ra định hướng phát triển và trực tiếp lãnh đạo các cuộc

cách mạng để phát triển.

Trong những năm của thập niên 1920, cách mạng Việt Nam rơi vào bế tắc,

tưởng như không có đường ra. Nhiều sĩ phu yêu nước, nhiều phong trào cách mạng

đưa ra những lựa chọn để giải phóng dân tộc, phát triển đất nước, song tựu trung,

tất cả đều thất bại. Giữa lúc đen tối ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, rẽ đám

mây mù, chỉ ra con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc, đưa giống nòi

bước qua lầm than, nô lệ. Trong Luận cương chính trị đầu tiên của Đảng (tháng 10-


1930) xác định phương hướng chiến lược của cách mạng là: Lúc đầu là cuộc cách

mạng tư sản dân quyền, sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa,

tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ chiến lược của cách

mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến có quan hệ khăng khít với nhau. Động lực

cách mạng là giai cấp vô sản và giai cấp nông dân. Lãnh đạo cách mạng là giai cấp

vô sản với đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.

Với đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, vì vậy mới 15 tuổi, Đảng

lãnh đạo nhân dân đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành

công, lật đổ ách thống trị của chế độ thực dân phong kiến, thiết lập nhà nước dân

chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt

Nam-kỷ nguyên độc lập, tự do.

Sau khi vừa mới ra đời, chính quyền cách mạng non trẻ đã phải đối phó với

một tình thế hết sức hiểm nghèo, hàng loạt nguy cơ, thách thức tưởng chừng khó

có thể vượt qua. Đó là nguy cơ của “giặc đói”, “giặc dốt” và đặc biệt là “giặc ngoại

xâm”. Trong tình hình đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quyết

sách đúng đắn, sáng suốt trong việc phát huy các yếu tố thuận lợi, hạn chế và vượt

qua khó khăn, kịp thời có đối sách thích hợp để ứng phó với những thách thức đe

dọa sự tồn vong của chính quyền cách mạng non trẻ, xây dựng chế độ mới, đưa

cách mạng đi lên.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với thắng lợi thuộc về nhân

dân ta, Hiệp định Geneva năm 1954 được ký kết, nước Việt Nam tạm thời bị chia

cắt thành hai miền, với hai chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc hoàn toàn được

giải phóng. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành, tạo điều kiện

cho miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, tháng 5-

1956, Pháp rút quân khỏi miền Nam khi chưa thực hiện cuộc hiệp thương tổng

tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc. Mỹ vào thay chân Pháp, đưa Ngô Đình


Diệm lên nắm chính quyền, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền

Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.

Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này được Đảng ta xác định là: Tiến

hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: Cách mạng xã hội chủ nghĩa

ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình,

thống nhất Tổ quốc. Cách mạng hai miền có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau,

phối hợp với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Đó là quan hệ giữa hậu

phương với tiền tuyến.

Với Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, nước ta đã kết thúc thắng lợi 21

năm chiến đấu chống Mỹ, cứu nước và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo

vệ Tổ quốc (1945-1975), chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, hoàn thành

cuộc cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất Tổ quốc.

Sau chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đất nước ta gặp

muôn vàn khó khăn, Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế, vừa

tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược biên giới phía Bắc và Tây Nam,

bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; đồng thời tập trung lãnh đạo

xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế

mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động.

Ba là, thực tế đất nước đạt nhiều thành tựu và phát triển không ngừng.

Trên cơ sở đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo

nghiệm, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn

diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở nước ta.

Những thành tựu của gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tiếp tục

khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu

to lớn và có ý nghĩa lịch sử là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân

dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với


thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng

đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

CHUYỆN NƠI BIÊN CƯƠNG

         Đứng chân ở địa bàn biên giới, thời gian qua, cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ, công tác biên phòng, các đồn biên phòng thuộc Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Ninh cũng đã triển khai hiệu quả mô hình “Con nuôi đồn biên phòng”. Sự chăm sóc và vòng tay dang rộng yêu thương của những người “bố nuôi” Biên phòng đã giúp nâng bước nhiều em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn nơi biên cương tiếp tục duy trì ước mơ đến trường.Khi những người lính làm “bố nuôi”

        Những ngày hè giữa tháng 7, đội cái nắng chói chang trên những cánh rừng và từng cung đường miền biên cương Đông Bắc của Tổ quốc, chúng tôi có dịp đến với CBCS Đồn Biên phòng cửa khẩu (BPCK) Hoành Mô và bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Bình Liêu để được tận mắt chứng kiến câu chuyện về những người chiến sĩ Biên phòng làm “bố nuôi”, nâng bước các em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn tới trường.

          Đồn BPCK Hoành Mô có nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường biên giới dài hơn 43km với 41 mốc giới, 68 cột mốc, Cửa khẩu Hoành Mô, Điểm thông quan Đồng Văn, nhiều đường mòn, lối mở... Những người lính Biên phòng ở đây đang ngày đêm vững chắc tay súng, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống, để bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

          Cùng với thực hiện các biện pháp nghiệp vụ biên phòng, CBCS Đồn BPCK Hoành Mô còn quan tâm triển khai hiệu quả mô hình “Con nuôi đồn biên phòng” và chương trình “Nâng bước em tới trường”. Các chiến sĩ quân hàm xanh nơi đây đã dành sự yêu thương, chăm sóc con em những gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn biên giới như chính con ruột của mình.

Đi cùng cán bộ Đội Vận động quần chúng của Đồn, chúng tôi đến thăm gia đình cháu Trần Tiến Hưng (9 tuổi, dân tộc Sán Chỉ, thôn Pắc Pộc, xã Hoành Mô), một trong những cháu được Đồn BPCK Hoành Mô hỗ trợ, nhận làm “Con nuôi đồn biên phòng”.

          Trên đường đi, Thiếu tá Bùi Văn Đông, người được Ban Chỉ huy đơn vị giao nhiệm vụ trực tiếp chăm sóc cháu Hưng tâm sự: Gia đình cháu Hưng có 4 anh chị em. Bố mẹ cháu Hưng không có việc làm ổn định, thu nhập chủ yếu dựa vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước dành cho hộ nghèo nên cuộc sống vô cùng khó khăn. Hiểu được hoàn cảnh gia đình cháu Hưng, tháng 9/2019, Đồn BPCK Hoành Mô đã làm hồ sơ nhận chăm sóc Hưng theo mô hình “Con nuôi đồn biên phòng”. Theo đó, hằng tháng, đơn vị hỗ trợ cháu Hưng 500.000 đồng để trang trải chi phí sinh hoạt và học tập. Từ sự giúp đỡ này đã giúp cậu bé Hưng tiếp tục niềm vui đến trường và hy vọng về tương lai tươi sáng.

          Vừa đi vừa trò chuyện chẳng mấy chốc chúng tôi cũng đã đến được nhà của cháu Trần Tiến Hưng. Biết “bố nuôi” đến thăm, cậu bé Trần Tiến Hưng mừng rỡ chạy ùa ra sân đón và lao vào vòng tay của người “bố nuôi” mang quân hàm xanh.

          Ôm cậu bé vào lòng, Thiếu tá Đông vui vẻ khoe: “Cháu Hưng trước đây nhút nhát, tự ti, ngại giao tiếp với những người mới gặp. Hiểu được điều đó, các bố nuôi đã thường xuyên đến gặp gỡ, trò chuyện, quan tâm, động viên, để tạo sự gần gũi, gắn bó với con. Do nhà cháu Hưng cách Đồn không xa, nên CBCS đơn vị thường xuyên đón Hưng về đơn vị, tạo điều kiện cho cháu cùng tham gia sinh hoạt, học tập, rèn cho cách sinh hoạt nền nếp, kỹ năng ứng xử, giao tiếp, rèn luyện võ thuật nâng cao sức khoẻ"...

          Sự ân cần, gần gũi của các bố nuôi trong đơn vị đã giúp Hưng nhanh chóng hoà đồng với mọi người và tiến bộ về mọi mặt. Hưng ngày càng chăm chỉ rèn luyện, phụ giúp công việc tưới rau trong khu vườn tăng gia của Đồn vào cuối mỗi buổi chiều... Đặc biệt, nhờ sự quan tâm động viên, giúp đỡ, kèm cặp của các bố nuôi biên phòng, năm học vừa qua Hưng đã vươn lên trở thành học sinh khá.

“Sẩy cha còn chú”

          Rời Hoành Mô, men theo đường vành đai biên giới chúng tôi đến thăm CBCS Đồn Biên phòng Quảng Đức. Tình cờ hôm đó cũng đúng là ngày CBCS của Đồn đón cháu Chìu Quang Đại (14 tuổi, ở thôn Cấu Lìm, xã Quảng Đức, huyện Hải Hà) con nuôi của Đồn đến đơn vị để kèm cặp thêm.

Trò chuyện với chúng tôi, Thiếu tá Ngô Viết Bình, Đội trưởng Đội Vận động quần chúng Đồn Biên phòng Quảng Đức, người trực tiếp được phân công kèm cặp, giúp đỡ cháu Đại chia sẻ: Cháu Đại có hoàn cảnh rất đặc biệt. Bố mất sớm, mẹ đi làm công nhân ở Khu công nghiệp Texhong Hải Hà, mỗi tháng chỉ về nhà thăm các con vài lần. 3 anh em Đại ở nhà tự chăm sóc nhau. Cũng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mất, nên em luôn tự ti, mặc cảm, thường ngày ít giao tiếp, chuyện trò với mọi người. Lúc đầu, được nhận làm “Con nuôi đồn biên phòng”, khi các chú bộ đội biên phòng đến thăm, động viên, Đại thường lầm lì, cả ngày không nói một lời”.

          Để tạo sự gần gũi, các “bố nuôi” đã thường xuyên đến trường trò chuyện với Đại. Những ngày cuối tuần, các chú BĐBP đã thường xuyên đến tận nhà Đại đón cháu về đơn vị để có thêm thời gian hướng dẫn, kèm cặp em học tập... Dần dần, cháu đã cảm nhận được sự gần gũi, gắn bó và mở lòng hơn với các “bố nuôi” biên phòng. Cũng từ đó, mỗi lần được các bố nuôi đón về Đồn tham gia sinh hoạt với các chú bộ đội biên phòng, Đại đều rất vui và tích cực tham gia các hoạt động của đơn vị.

          Thiếu tá Ngô Viết Bình cho biết thêm: Thấy Đại có hoàn cảnh thiệt thòi, bố mất sớm nên chúng tôi luôn cố gắng quan tâm, chăm sóc để bù đắp cho con. Chúng tôi cũng thường xuyên động viên con tự tin vượt qua hoàn cảnh, bởi “sẩy cha thì còn chú”. Các chú BĐBP sẽ luôn ở bên để chở che và bảo ban để các con nuôi lớn khôn, trưởng thành. Đến nay, mỗi lần cậu bé đến đơn vị đều gọi các chú bộ đội là “bố” với ánh mắt tràn ngập yêu thương, tin tưởng. Lúc ấy, tôi hiểu rằng: Chúng tôi đã trở thành những người bố thực thụ trong trái tim của con rồi!”.

          Bắt chuyện với Chìu Quang Đại, khi được CBCS trong đơn vị dẫn đi tìm hiểu cột mốc biên giới, Đại chia sẻ: “Sự quan tâm, giúp đỡ của CBCS biên phòng chính là nguồn động viên giúp cháu vững tin phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, trở thành công dân có ích cho xã hội”.

Chắp cánh ước mơ xanh

          Thời gian qua, cùng với hoạt động giúp đỡ người dân vùng biên giới phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn biên giới, các Đồn Biên phòng thuộc Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Ninh còn thực hiện hiệu quả mô hình “Con nuôi đồn biên phòng” và chương trình “Nâng bước em đến trường”. Hoạt động này đã góp phần nâng cao dân trí, tăng cường tình đoàn kết, gắn bó máu thịt giữa CBCS với đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới.

Đại tá Nguyễn Thanh Hải, Chính ủy BĐBP tỉnh, khẳng định: “Trên cơ sở thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư lệnh BĐBP về triển khai chương trình “Nâng bước em tới trường” và mô hình “Con nuôi đồn biên phòng”, từ năm 2016, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã chỉ đạo các đồn biên phòng phối hợp với các địa phương rà soát, lựa chọn các cháu là người dân tộc thiểu số có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; con các gia đình chính sách, người có uy tín, người tích cực tham gia bảo vệ biên giới có hoàn cảnh khó khăn... để nhận đỡ đầu. Thời gian đỡ đầu tính từ thời điểm đơn vị nhận đến khi học xong lớp 12, mức hỗ trợ là 500.000 đồng/cháu/tháng. Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh giao chỉ tiêu cụ thể cho mỗi phòng, ban, đồn, trạm, mỗi đơn vị nhận đỡ đầu ít nhất 2 cháu.

          Các đồn biên phòng còn phối hợp với gia đình, nhà trường, địa phương định kỳ tổ chức hoạt động gặp mặt, tuyên dương, khen thưởng học sinh giỏi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn vượt khó đạt thành tích cao trong học tập. Nhân dịp khai giảng năm học mới, Ngày Quốc tế thiếu nhi, Tết Nguyên đán... các đơn vị đều tổ chức thăm, tặng quà, đồ dùng học tập, quần áo... trị giá hàng trăm triệu đồng.

Với tình yêu thương, trách nhiệm của người lính mang quân hàm xanh với đồng bào các dân tộc khu vực biên giới, sau 6 năm triển khai chương trình, BĐBP tỉnh đã nhận đỡ đầu gần 100 cháu học sinh có hoàn cảnh khó khăn với kinh phí gần 3 tỷ đồng. Qua đó, góp phần hỗ trợ thiết thực cho nhiều cháu học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên, hiện thực những ước mơ của mình.

 

PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ Ở ABYEI

        Sau chỉ hơn một tháng, với đôi bàn tay cần cù của những người lính Công binh Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Việt Nam, với tinh thần đoàn kết, đồng tâm hiệp lực, ý chí quyết tâm cao, đã góp phần làm thay đổi diện mạo hoang tàn ở Doanh trại Highway, biến nơi đây trở thành một doanh trại khang trang và quy củ ở Phái bộ UNISFA.

          Hoang tàn, xơ xác, tiều tụy - đó là những cụm từ chớp nhoáng xuất hiện trong đầu tôi ngay trong lần đầu tiên đến khảo sát doanh trại Highway vào tháng 4 năm 2022 để chuẩn bị cho công tác bảo đảm hậu cần và doanh trại phục vụ Đội Công binh số 1 Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Việt Nam đóng quân cố định tại Phái bộ An ninh lâm thời của Liên hợp quốc tại khu vực Abyei (UNISFA).

          Sự thiếu thốn về vật chất cùng với tình trạng xuống cấp nặng nề của doanh trại là những trở ngại lớn có thể khiến người ta nản lòng, hoặc tệ nên nữa là nhụt ý chí khi nghĩ đến việc sẽ đóng quân cố định tại nơi đây trong điều kiện đặc thù phức tạp của khu vực.

Tuy nhiên, mới chỉ hơn một tháng, với những bàn tay cần cù của các anh chị em trong đội, với tinh thần đoàn kết, đồng tâm hiệp lực, ý chí quyết tâm cao, Highway đã không còn hoang sơ như những ngày đầu nữa. Doanh trại đã ngày một khang trang, gọn gàng và có quy củ hơn, đúng nghĩa với một doanh trại quân đội chính quy.

          Những cỗ máy, những trang thiết bị công binh công trình sừng sững, hùng hậu được bố trí gọn gàng, đúng quy hoạch đã toát lên sức mạnh công binh công trình của Việt Nam. Thoạt nhìn những trang thiết bị này, nỗi ám ảnh trong đầu tôi về những con đường lầy lội bùn đất tưởng chừng như những đầm lầy ngăn cản bước chân hành quân của những người lính gìn giữ hòa bình tại đất Abyei, những chiếc xe mắc kẹt dọc đường phơi thân giữa trời giông bão nhiều ngày trời đã không còn nữa. Đoàn xe, trang thiết bị cùng với những người chiến sĩ công binh tiên phong của ta luôn sẵn sàng lên đường khi có bất cứ tình huống cứu hộ cứu nạn nào.

          Khi tiến vào sâu hơn, một hình ảnh thân thiết tựa như làng quê Việt Nam - đó là những luống rau được vun đắp tượng trưng cho những cánh đồng nhỏ mang màu xanh hòa bình đến với miền đất Abyei. Những khu vườn hoang này đã bắt đầu được quy hoạch và canh tác, những mầm cây nhỏ đã bắt đầu vươn mình chui ra khỏi mảnh đất cằn cỗi này.

          Cha ông ta đã dạy “Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”, huống chi đây chỉ là những mảnh đất cằn cỗi, thiếu sự canh tác và trồng trọt phù hợp, và sẽ chẳng bao lâu nữa những vườn rau xanh mướt, những ao rau muống mơn mởn sẽ không chỉ tô điểm cho sự gọn gàng, chính quy của doanh trại mà sẽ là nguồn rau xanh dồi dào để nuôi dưỡng những cán bộ công binh của ta có sức khỏe tốt để các anh hoàn thành sứ mệnh gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.

Hơn thế nữa, điều mà tôi cảm thấy ấm lòng nhất, cảm thấy dường như mình đang ở chính ngôi nhà của mình, đó chính là những giọng nói ấm áp, những nụ cười thanh thoát của các anh chị em giữa mảnh đất Abyei đầy gian nan, vất vả. Dường như những nụ cười ấy đã làm tiêu tan đi cái nắng chói chang hơn 40 độ C, mọi người ai nấy đều mỗi người một việc; các anh kỹ sư bận rộn với máy móc và các bản vẽ thiết kế cho những chặng đường, những công trình sắp triển khai nhiệm vụ; các y, bác sĩ, dược sĩ của Bệnh viện dã chiến cấp 1 đang gấp rút triển khai trang thiết bị y tế và sắp đặt dược phẩm để sẵn sàng cho nhiệm vụ bảo đảm y tế cho toàn đội tại doanh trại cũng như công tác bảo đảm y tế cho những nhiệm vụ khẩn cấp khi có lệnh; những chị em bếp nuôi quân tay dao tay thớt với những bữa ăn bình dị của văn hóa người Việt nhưng luôn đầy đủ dinh dưỡng và bảo đảm sức khỏe cho bộ đội.

          Và đặc biệt hơn cả là các đồng chí Phân đội Bảo vệ, những chiến sĩ cần mẫn ngày đêm canh gác bảo đảm an ninh an toàn cho toàn đội. Giữa cái nắng nóng chói chang như vậy nhưng các anh vẫn tay súng, áo giáp, mũ sắt đứng vững canh gác cho sự an bình của doanh trại. Các anh chính là điểm tựa để mọi người có được những giấc ngủ thanh bình, có sức khỏe tốt bảo đảm để hoàn thành nhiệm vụ.

          Dù điều kiện thời tiết khắc nghiệt nhưng duy trì kỷ luật luôn được đưa lên hàng đầu và chấp hành tuyệt đối. Tuy quân lệnh như vậy nhưng khi gặp nhau, giữa chúng tôi và các anh không chỉ là tình đồng chí như trong bài thơ “Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu, các anh vẫn mỉm cười với ánh mắt hiền hậu, những nụ cười của người đồng bào xa quê nay gặp nhau đã làm chúng tôi quên đi những khó khăn nhọc nhằn trong công việc hàng ngày, cảm thấy một tình cảm nồng ấm, tha thiết của người con quê hương Việt Nam giữa đất trời Abyei.

Mới chỉ hơn một tháng kể từ khi Đội Công binh Việt Nam tiếp quản Highway nhưng diện mạo của doanh trại đã thay đổi rất nhiều. Để có được doanh trại ngăn nắp hơn, sạch đẹp hơn như ngày hôm nay, đó chính là nhờ công sức của tập thể cán bộ, nhân viên trong toàn đội, các anh chị em đã không quản ngại khó khăn gian khổ, khắc phục điều kiện thời tiết khắc nghiệt tại phái bộ.

          Những giọt mồ hôi không ngừng rơi xuống trên những gò má đã sạm nắng để đánh đổi lấy màu xanh thanh bình của doanh trại và cao cả hơn nữa là nền hòa bình trên mảnh đất Abyei. Những kết quả đó còn thể hiện giá trị sức mạnh của tập thể, sức mạnh của tính kỷ luật và tinh thần đoàn kết, sức mạnh của ý chí nghị lực và tinh thần dũng cảm, đồng thời qua đó thể hiện khả năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và cơ giới hóa của Công binh Việt Nam góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang “Mở đường thắng lợi” của Bộ đội Công binh Việt Nam Anh hùng. Với sự nỗ lực, cố gắng, đoàn kết quyết tâm cao của tập thể cán bộ nhân viên trong toàn đội, chúng ta tin tưởng rằng doanh trại Highway sẽ tiếp tục được kiến thiết khang trang, chính quy và thực sự là ngôi nhà của Đội Công binh Việt Nam tại mảnh đất Abyei.

  

Chế độ một đảng lãnh đạo không cản trở dân chủ và phát triển

 Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết

tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng

chính trị chính là bản chất giai cấp mà nó đại diện.

Trong xã hội có phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác

nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau.

Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn

liền với giai cấp sinh ra nó, chúng chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức

hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất. Những đảng

của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ,


mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất

của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa

đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa

nguyên chính trị.

Về vấn đề một đảng thì mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng

nghĩa với dân chủ, phát triển, cho đến hiện nay, vẫn chưa có cơ sở khoa học nào

chứng tỏ được điều này. Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước

không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà nước đó có. Có nước một đảng vẫn

bảo đảm dân chủ và phát triển; có nước nhiều đảng vẫn kém phát triển, vẫn mất

dân chủ. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo

vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực

hiện mục tiêu chung của quốc gia-dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích

riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác

chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện

cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân, vì nước mà hành động,

chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo.

Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, có hai khả năng phải tính

đến: Thứ nhất, một đảng cầm quyền có lợi ích riêng thì đa đảng trong hệ thống

chính trị là cần thiết. Trong trường hợp này, nếu chỉ có một đảng là độc tài. Thứ

hai, một đảng không có lợi ích riêng khi cầm quyền, cầm quyền vì lợi ích chung thì

đa đảng dễ gây bè phái, phân tán.

VIẾT VỀ NGƯỜI LÍNH, CÒN MẤY AI MẶN MÀ?

         Biên phòng - Đồng hành với hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược có một đội ngũ nhà văn chiến sĩ hùng hậu. Có người từng ví đây là một “binh chủng đặc biệt” của Quân đội ta bởi họ đã góp phần quan trọng trong công cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, giành độc lập tự do, hòa bình thống nhất cho đất nước.

          Năm tháng qua đi, nhưng những giá trị, đích thực của văn học kháng chiến với hình ảnh trung tâm là “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn còn nguyên giá trị.

Có thể nói, nhiều tác phẩm văn học ra đời thời kháng chiến tập trung ca ngợi, tôn vinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong công cuộc giải phóng đất nước và nhận được sự đồng cảm hồn nhiên từ đông đảo công chúng. Tôi nghĩ, điều đó chẳng có gì bất thường cả, cuộc chiến tranh yêu nước chống giặc ngoại xâm của nhân dân Việt Nam cần phải có những tác phẩm như thế.

Cuộc sống vẫn có đủ mọi trạng thái, cung bậc, nhưng tất cả phải được xếp sau tinh thần chống giặc ngoại xâm và bè lũ tay sai bán nước; đề tài chiến đấu mặc nhiên phải được đặt lên hàng đầu như là yêu cầu, đòi hỏi, mục đích, hành trình của văn học.

          Vì thế, những thi phẩm như: Bầm ơi, Việt Bắc, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Bài ca xuân 68, Toàn thắng về ta của Tố Hữu; Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm; Thăm lúa của Trần Hữu Thung; Tây tiến của Quang Dũng; Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ, Nhớ của Hồng Nguyên; Đèo Cả của Hữu Loan; Tình sông núi, Nhớ máu của Trần Mai Ninh; Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? của Chế Lan Viên; Ngã ba Đồng Lộc của Huy Cận; Lửa đèn, Nhớ, Tiểu đội xe không kính, Gửi em cô thanh niên xung phong của Phạm Tiến Duật; Khoảng trời hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ; Lá đỏ của Nguyễn Đình Thi; Lý ngựa ô ở hai vùng đất của Phạm Ngọc Cảnh; Sức bền của đất của Hữu Thỉnh; Đất nước (trích trong trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm; Nấm mộ và cây trầm của Nguyễn Đức Mậu; Cây xấu hổ của Anh Ngọc... được đề cao.

          Trong văn xuôi thì những tác phẩm này đã được ngợi ca và nhắc tới nhiều lần như: Thư nhà của Hồ Phương; Xung kích của Nguyễn Đình Thi; Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc; Hòn đất của Anh Đức; Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi; Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu; Vùng trời của Hữu Mai...

          Sáng tác hay phê bình và cả xu hướng thưởng thức, bình phẩm của người đọc đã được định hướng rõ ràng, ít ai đi chệch khỏi quỹ đạo đánh giặc cứu nước. Rõ nhất là giai đoạn chống Mỹ, cuộc sống và văn chương đều được thấm đẫm tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Thơ Tố Hữu).

          Sau năm 1975, văn học về chiến tranh và người lính có sự chuyển biến sâu sắc về nội dung và hình thức. Do có độ lùi về thời gian và những thoáng mở trong không gian sáng tạo từ xã hội, các tác phẩm viết về chiến tranh và người lính đã tiếp cận sát đúng hơn hiện thực, đa dạng, đa chiều và đương nhiên cũng chứa đựng nhiều tầng lớp, cung bậc của cuộc chiến với máu, mồ hôi, nước mắt mà dân tộc ta đã trải qua. Bao nhiêu chiến thắng, kỳ tích là bấy nhiêu mất mát đau thương. Gắn với hình tượng người lính không chỉ có tráng ca mà còn rất nhiều bi ca.

          Có một nhà văn đã đúc rút rất chính xác, chiến tranh không phải trò đùa. Cứ nhìn lớp lớp bia mộ liệt sĩ trải dài từ Bắc vào Nam, từ rừng xuống biển ta sẽ thấm thía điều đó. Cứ nhìn những hậu quả chiến tranh trong cuộc sống hiện tại, chúng ta sẽ hình dung đầy đủ hơn sự khốc liệt của các cuộc chiến. Những gì người lính đã làm nên và chịu đựng trong các cuộc chiến tranh giải phóng đất nước rất cần được tri ân và lưu giữ trong các tác phẩm văn học nghệ thuật.

Cần tiếp tục viết về họ, viết cho họ, viết vì họ đầy đủ, sâu sắc hơn với sự trung thực của người cầm bút, không tô hồng, không bôi đen. Viết đúng như nó đã xảy ra dưới ánh sáng của tinh thần nhân văn cao đẹp mà loài người luôn tôn vinh. Viết về chiến tranh và người lính bằng lòng yêu hòa bình vô bờ bến cũng là để hướng tới sự hòa hợp dân tộc và những giá trị nền tảng của văn hóa nhân loại. Tôi nghĩ, viết về chiến tranh là viết về con người trong bão giông lịch sử, trong đó, người lính là nhân vật rất đáng quan tâm.

          Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, nhìn chung, người lính vẫn phải chịu đựng nhiều gian khó, hiểm nguy. Nơi đầu sóng ngọn gió, nơi heo hút rừng xa, khi đất nước thanh bình hay lúc bão giông, biến động, người lính luôn có mặt ở tuyến đầu.

          Ngay chuyện đời thường, phần đông người lính vẫn phải đằng đẵng xa gia đình, người thân. Người lính thời bình đâu phải không có những góc khuất, những bi kịch khó nói. Và, họ đã chấp nhận những điều đó để làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Chiến tranh hay hòa bình, với người lính, Tổ quốc vẫn là trên hết. Thế nhưng, như chưa có nhiều tác phẩm hay về người lính thời hậu chiến.

          Không biết có nhà văn nào cảm thấy day dứt trước hiện trạng ấy không, hay vẫn mãi đuổi theo những đề tài ăn khách mà quên đi đối tượng người chiến sĩ. Nhiều lần, tôi đặt câu hỏi, đề tài người lính liệu còn mặn mà với bao nhiêu người cầm bút? Liệu còn mấy nhà văn tâm huyết với họ trong khi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc luôn song hành với nhiệm vụ dựng xây đất nước.

Và tôi dám chắc rằng, những tác phẩm hay về người lính vẫn được bạn đọc gần xa nhiệt tình đón nhận. Công chúng, trong đó có lực lượng vũ trang hằng mong có những tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, trường ca, thơ ấn tượng về biển đảo, biên cương, về người lính thời bình trên các lĩnh vực.

          Bốn mươi ba năm mang áo lính, đã có hai lần ra Trường Sa, nhiều lần đến biên giới và có mặt ở không ít đơn vị Quân đội, tôi thấu hiểu ước mong ấy của các cán bộ, chiến sĩ. Đừng nghĩ rằng chỉ cho người lính ăn no, mặc ấm, ở đẹp là đủ. Người lính vẫn mong được đọc những tác phẩm viết đúng, viết hay về họ chứ không phải là những thứ cưỡi ngựa xem hoa, chung chung, nhạt nhẽo.

Được thế, các nhà văn ngoài tài năng còn cần có tâm huyết để tự nguyện đồng hành với người lính, thâm nhập sâu vào đời sống của họ. Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam có lẽ cũng nên quan tâm hơn đến những tác phẩm xuất sắc về người lính hôm qua và hôm nay. Bởi họ, những người lính của Tổ quốc rất xứng đáng được đón nhận điều đó./.

 

CHUYỆN TĂNG GIA CỦA BỘ ĐỘI VIỆT NAM TRÊN ĐẤT BẠN CAMPUCHIA

 

        Ở nước bạn Campuchia, mặc dù có những cánh đồng bạt ngàn, vườn đất thênh thang, nhưng rất hiếm gặp những vườn rau xanh, vườn cây trái sum suê như ở Việt Nam. Một phần là do thời tiết khí hậu quá khắc nghiệt, cùng với thói quen của người dân bản địa, nên để trồng và chăm sóc được những luống rau xanh tươi tốt là điều không hề đơn giản.

          Chuyện những người lính ở các Đội K (Đội chuyên trách tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam) thuộc Quân khu 7 đã góp phần thay đổi suy nghĩ, cách làm cho lực lượng vũ trang và bà con nhân dân xứ sở Chùa tháp, để lại những ấn tượng đẹp về bộ đội Việt Nam, khó khăn nào cũng vượt qua.

          Đội K71, Bộ CHQS tỉnh Tây Ninh là một trong 4 Đội chuyên trách của Quân khu 7 đang thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam trên đất bạn Campuchia. Ngoài việc được Tiểu khu Quân sự tỉnh Banteay Mean Chay tạo điều kiện về chỗ ở, Đội còn được cấp đất để quy hoạch khu tăng gia sản xuất. Với diện tích gần 1000m2, Đội đã tổ chức trồng đủ các loại cây ăn quả như bầu, mướp, rau muống, cải xanh, mồng tơi, rau gia vị. Ngoài ra Đội còn tổ chức nuôi gà thịt với số lượng thường xuyên khoảng 50 con.

          Binh nhất Nguyễn Quốc Thái, Đội K71, Bộ CHQS tỉnh Tây Ninh chia sẻ: “Chúng tôi đã phải tốn công sức gấp 3 lần so với khi ở Việt Nam, từ khâu cải tạo đất, loại bỏ rất nhiều lớp đá ong bên dưới, tìm và vận chuyển từng xe đất màu mỡ ở các nơi khác về để lên luống, thời tiết ở đây thì luôn nắng nóng và oi bức. Hằng ngày trước khi đi làm nhiệm vụ quy tập phải tưới thật kỹ, trưa và chiều đều phân công nhau tưới để cho rau không bị khô héo, tuy nhiên vấn đề khó khăn lớn nhất ở đây là nguồn nước tưới rất hiếm, trời ít mưa, quả thực gian nan để có được thành quả là những luống rau xanh mướt như hôm nay”.

Theo Thượng tá Phan Văn Long, Chính trị viên Đội K71, Bộ CHQS tỉnh Tây Ninh, với đặc thù từ chỗ ở đến các vị trí thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, cất bốc hài cốt liệt sĩ rất xa, có nơi từ 50 đến 60km nên hằng ngày các thành viên Đội K71 phải thức dậy từ 4 giờ sáng, chuẩn bị vật chất, trang bị, ăn sáng cho kịp thời gian hành quân. Do đó quỹ thời gian cho công tác tăng gia sản xuất hạn chế, các thành viên trong Đội phải thường xuyên phân công nhau tranh thủ ngoài giờ, kể cả ban đêm để chăm sóc cây trồng.

          “Từ các sản phẩm tăng gia sản xuất vừa giúp đơn vị bảo đảm lượng rau xanh, thịt gà ta phục vụ bữa ăn hàng ngày, đồng thời là món quà tặng đầy nghĩa tình của bộ đội Việt Nam cho bà con nhân dân nước bạn trên địa bàn đơn vị đứng chân. Đặc biệt, từ mô hình tăng gia sản xuất đã góp phần làm thay đổi cách nghĩ, cách làm của người dân và lực lượng vũ trang nước bạn. Sau khi đến tham quan, chúng tôi đã hướng dẫn về kỹ thuật trồng và chăm sóc, cung cấp hạt giống, cây giống cho phía bạn, tiếp đó Tiểu khu Quân sự tỉnh Banteay Mean Chay đã phát động phong trào trồng rau xanh trong khuôn viên doanh trại, giờ đây bạn cũng đã trồng được rau sạch để đưa vào phục vụ bữa ăn hàng ngày trong đơn vị”, Thượng tá Phan Văn Long cho biết.

Sau hơn 21 năm, hết mùa nắng lại đến mùa mưa, qua nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ, các Đội chuyên trách của Quân khu 7 vẫn thầm lặng đi tìm đồng đội khắp các phum, sóc, bản làng, đỉnh núi, dòng sông và những cánh rừng hiểm trở trên đất bạn Campuchia. Mỗi nơi các anh đến sống và làm việc, tinh thần, ý chí quật cường, không chùn bước trước mọi khó khăn của bộ đội Việt Nam lại được phát huy… đơn giản chỉ từ những luống rau xanh đã vươn mình trong nắng gió, như chính công việc của các anh, hoàn thành sứ mệnh cao cả, tìm và đưa những anh hùng liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam sớm được trở về đất mẹ yêu thương.

 

Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch

 Thời gian qua, lợi dụng môi trường internet và truyền thông xã hội, các thế

lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam

chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò


lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị,

đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”...

Thông qua những quan điểm, luận điểm này, chúng đã bộc lộ dã tâm, mưu

đồ đen tối là xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,

đòi Đảng ta phải thoái lui, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, từ bỏ con đường đi lên

chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản; từ đó gây tâm

lý hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là niềm tin vào

vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự nghiệp xây dựng

chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là những quan điểm, luận điểm hết sức phản

động, sai lầm, phi khoa học, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, chứa đựng

nhiều mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá; nhiều nhận xét là chủ quan, vô căn cứ.

Đây là một loại luận điệu hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa

vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Thực chất những luận điệu

này là gì nếu không phải là muốn đa nguyên, đa đảng, chia quyền lãnh đạo dẫn tới

tiếm quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mục đích của chúng là phủ nhận vai trò

lãnh đạo, cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và

xã hội Việt Nam.

Đảng luôn cầu thị, không ngừng đổi mới để tự hoàn thiện

 Đảng Cộng sản Việt Nam không hề bảo thủ mà luôn đổi mới, cập nhật,

nhằm làm cho Đảng mạnh lên, có đường lối đúng đắn, giúp Đảng hoàn thành sứ

mệnh, nhiệm vụ đặt ra, đưa Việt Nam vượt qua các khó khăn, thách thức, giành hết

thắng lợi này đến thắng lợi khác trong bối cảnh mới hiện nay.

Thực tiễn đất nước và thế giới không ngừng vận động, biến đổi, rất nhiều

vấn đề mới, yếu tố mới xuất hiện đòi hỏi phải được giải quyết, Đảng ta luôn tìm

tòi, học hỏi, tổng kết thực tiễn để đề ra đường lối, quyết sách đúng đắn, phù hợp,

Đảng luôn quan tâm đến đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của

Đảng để Đảng hoàn thành mọi trách nhiệm, nhiệm vụ trong các giai đoạn cách

mạng, nhất là những trách nhiệm, nhiệm vụ mới nảy sinh từ thực tiễn hiện nay, để

Đảng luôn giữ được bản chất cách mạng, khoa học, vì lợi ích của quần chúng nhân

dân, trước sau giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chất lượng, năng lực của đội ngũ đảng

viên có tính chất quyết định đối với chất lượng, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của

Đảng, do vậy, Đảng chú trọng kết nạp những người ưu tú vào Đảng và luôn luôn


làm trong sạch Đảng, loại bỏ những phần tử biến chất, xét lại, cơ hội chủ nghĩa ra

khỏi Đảng.

Đảng luôn siết chặt kỷ luật Đảng để chống suy thoái, tiêu cực và tham nhũng

của một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.

Đảng ta ý thức rõ rằng, một đảng duy nhất cầm quyền, bên cạnh mặt thuận lợi là cơ

bản cũng chứa đựng không ít nguy cơ, mà một trong số đó là dễ quan liêu, xa rời

quần chúng, dễ chủ quan... Để tránh nguy cơ đó, Đảng luôn kiên định mục tiêu đã

lựa chọn, thường xuyên tự đổi mới, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo

và sức mạnh về mọi mặt, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, phong cách

công tác gần gũi với nhân dân.

Như vậy, lịch sử đã chứng minh và khẳng định vai trò, sứ mệnh của Đảng

Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc và nhân dân

Việt Nam tiếp tục phát triển, bắt kịp xu hướng của thời đại.

Do vậy, những luận điểm sai lầm, suy diễn về vai trò của Đảng Cộng sản

Việt Nam, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ

khả năng để lãnh đạo đất nước là quan điểm phản động, sai trái, không có cơ sở cả

về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận điểm này đã dựa trên những phân tích,

nhận xét phi khoa học, không logic, không hệ thống và không toàn diện. Về thực

tiễn, quan điểm này cũng hết sức phiến diện, quy chụp, phi thực tế khi không thấy

rõ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc và

xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thừa nhận những thành quả phát triển đất nước

Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt hơn 93 năm

qua.

XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ QUÂN ĐỘI

 

        Xây dựng môi trường văn hóa là một trong những tiêu chí quan trọng trong xây dựng đơn vị cơ sở quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần bồi dưỡng nhân cách quân nhân, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo động lực tinh thần to lớn để mỗi cán bộ, chiến sĩ vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; đồng thời, thực hiện tốt môi trường văn hóa là để phòng, chống lại các tệ nạn xã hội bên ngoài xâm nhập vào đơn vị, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

          Quán triệt sâu sắc Chỉ thị 143/CT, ngày 12-5-1992 của Tổng cục Chính trị về việc thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội”, Đảng ủy, chỉ huy Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 653, Cục Hậu cần đã cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu và triển khai thực hiện với nhiều nội dung, biện pháp hoạt động phong phú, bám sát yêu cầu xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, sát tình hình của đơn vị và địa bàn đóng quân, đạt được những kết quả thiết thực, có ý nghĩa nhiều mặt.

          Trong những năm qua, Đảng ủy Tiểu đoàn thường xuyên coi trọng và làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) về xây dựng môi trường văn hoá ở đơn vị; xây dựng lối sống có văn hóa, nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách của người quân nhân cách mạng, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới... nhất là quan điểm được xác định trong Đại hội XIII của Đảng: “giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế”; “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”; vì vậy100% cán bộ, QNCN xác định rõ nhiệm vụ, yên tâm công tác, có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, có lối sống trong sáng, lành mạnh.

          Xây dựng đơn vị có môi trường văn hóa góp phần nâng cao khả năng đề kháng của bộ đội trước những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Từ đó, đã tạo được môi trường văn hóa lành mạnh, giàu tính giáo dục vì mục tiêu xây dựng con người mới trong quân đội; tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, QNCN trong đơn vị tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, văn hóa, đạo đức, lối sống, ý thức kỷ luật, phát huy phẩm chất “bộ đội cụ Hồ”, tạo sức mạnh tổng hợp và động lực để cán bộ, QNCN hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đến nay 100% cán bộ, QNCN đã có nhận thức tốt về CVĐ, trong đó lấy mục tiêu: Xây dựng và nuôi dưỡng phong trào của tập thể cán bộ, QNCN phấn đấu rèn luyện theo tiêu chuẩn con người mới Việt Nam XHCN luôn quan tâm chăm lo, xây dựng môi trường văn hoá được mở rộng và cụ thể hoá bằng phong trào “xây dựng doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp”, phong trào thi đua xây dựng đơn vị vận tải “Chính quy, an toàn, hiệu quả”.

          Bên cạnh đó, đơn vị luôn khai thác, sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị, vật chất phục vụ đời sống văn hoá tinh thần cho cán bộ, QNCN, thường xuyên củng cố nâng cao chất lượng hoạt động thiết chế văn hoá; các tiêu chuẩn sách báo, tạp chí được bảo đảm theo Thông tư số 138/2020/TT-BQP ngày 10/11/2020 của Bộ Quốc phòng “Quy định chế độ, định mức, tiêu chuẩn đời sống văn hóa, tinh thần trong QĐND Việt Nam”, các tiêu chuẩn về văn hoá tinh thần trên cấp luôn đ­ược sử dụng có hiệu quả và quản lý tốt. Bằng nguồn kinh phí trên cấp và nội lực của đơn vị, trong những năm qua đơn vị đã làm mới, nâng cấp hệ thống sân chơi thể dục, thể thao cho bộ đội như: Làm mới sân bóng chuyền, sân cầu lông, nhà thi đấu bóng bàn, phòng Hồ Chí Minh, làm mới hệ thống balo, khẩu hiệu tuyên truyền với giá trị gần 100 triệu đồng.

          Đơn vị luôn gắn CVĐ xây dựng môi trường văn hoá của đơn vị với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Các hình thức hoạt động kết nghĩa giữa đơn vị với chính quyền địa phương, đơn vị kết nghĩa được duy trì thường xuyên. Tiểu đoàn ký kết hoạt động kết nghĩa với Xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng trong thực hiện Cuộc vận động “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, trường Tiểu học Ngọc Sơn, quận Kiến An và Tổ dân phố 15, phường Bắc Sơn, TP Hải Phòng. Qua đó phối hợp với địa phương tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của nhà nước, quy định của địa phương, nâng cao cảnh giác không nghe theo kích động của các phần tử xấu, không tham gia biểu tình hoặc khiếu kiện, đòi đất đai, do đó trong những năm qua đơn vị luôn bảo đảm an toàn về mọi mặt, góp phần quan trọng bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nơi đơn vị đứng chân, góp phần xây dựng và củng cố mối quan hệ đoàn kết quân dân ngày càng gắn bó, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" trong thời kỳ mới ngày càng được phát huy và tỏa sáng.

Đảng hội tụ đủ bản lĩnh, tài năng, uy tín để lãnh đạo đất nước và xã hội

 Trong bối cảnh mới hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính Đảng duy

nhất hội tụ đầy đủ phẩm chất, năng lực, tiêu chí để lãnh đạo đất nước, dân tộc Việt

Nam phát triển.

Hiện nay, bên cạnh những cơ hội vẫn tồn tại nhiều thách thức ảnh hưởng tới

sự phát triển của Việt Nam: Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh giữa các nước, nhất là

các nước lớn diễn biến ngày càng phức tạp, có nguy cơ gây mất ổn định trên quy

mô toàn cầu; chiến tranh sắc tộc, chiến tranh khu vực, xung đột tôn giáo và khủng

bố quốc tế vẫn có khả năng bùng phát dưới những hình thức mới; tình hình Biển

Đông có thể diễn biến phức tạp; kinh tế thế giới phát triển chậm lại, nguy cơ rơi

vào khủng hoảng, suy thoái; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền


nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy ngày càng nổi lên... Điều đó đòi

hỏi chính đảng lãnh đạo quốc gia là đoàn kết, tập hợp được quần chúng nhân dân;

có tính tiên phong, cách mạng; có sức mạnh và kỷ luật tập thể; toàn tâm, toàn ý vì

lợi ích chung của nhân dân, dân tộc. Ở Việt Nam hiện nay, để có được những điều

kiện, nhân tố nêu trên chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ phẩm chất chính trị và

năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo đất nước trong bối cảnh mới.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong giác ngộ, có tổ chức chặt chẽ

nhất, Đảng hình thành nên những sức mạnh, phẩm chất nổi trội và nhờ đó lãnh đạo,

dẫn dắt nhân dân ta, đất nước ta vượt qua các khó khăn, thử thách trên con đường

phát triển, đó là:

Sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất thành một khối vững chắc cả về chính

trị, tư tưởng và hành động trong Đảng, bảo đảm sự tập trung trong lãnh đạo của

Đảng. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên cơ sở mục đích, lý tưởng của

Đảng, trên cơ sở lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc,

trên cơ sở phát huy dân chủ, tôn trọng ý kiến cá nhân. Sự thống nhất về tổ chức và

phương thức hành động tạo ra sức mạnh lớn lao cho Đảng vượt qua được các khó

khăn, thử thách.

Có tinh thần triệt để cách mạng, sức chiến đấu mạnh mẽ, được tôi luyện và ý

thức kỷ luật cao, được tổ chức và hoạt động chặt chẽ, nghiêm ngặt theo tư tưởng,

nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sự sẵn sàng hy sinh, chấp nhận những khó khăn, gian khổ, khả năng vươn

lên không ngừng của Đảng vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao

động, của dân tộc Việt Nam.

Thứ hai, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam mới gắn bó mật thiết với

nhân dân, tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tin và đi theo Đảng.


Vai trò lãnh đạo của Đảng chính là trách nhiệm, nhiệm vụ cao cả mà nhân

dân Việt Nam tin tưởng giao phó cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Sức mạnh của

Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, từ sự đồng tình, ủng hộ của

nhân dân đối với Đảng. Mục tiêu lãnh đạo của Đảng là để nhân dân thực sự là

người chủ đất nước, để toàn bộ quyền lực “đều ở nơi dân”. Đảng luôn có trách

nhiệm với dân và tăng cường mối quan hệ máu thịt với dân, tôn trọng và phát huy

quyền làm chủ của nhân dân. Đảng được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, thừa nhận là

đội tiên phong lãnh đạo của mình, là Đảng của chính mình. Nhân dân thấy rằng lợi

ích căn bản của mình gắn liền với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo; mục

đích, lý tưởng của Đảng cũng chính là ước mơ, nguyện vọng lâu đời của nhân dân,

của dân tộc.

THÁNG 7 TRI ÂN

 

Mỗi năm, cứ đến dịp 27/7, mỗi người dân Việt Nam như lắng lại, tìm về ký ức một thời hào hùng của dân tộc. Tháng 7 gợi đến trong mỗi người một niềm cảm xúc vô tận, tháng 7 để ta nhớ “những bài ca không bao giờ quên”, nhớ những cô gái, chàng trai “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”

  Đất nước trải qua bao cuộc chiến tranh, những tổn thất của nó để lại không có gì có thể đo đếm được. Giờ đây những nghĩa trang Trường Sơn, Đường 9,… bạt ngàn những ngôi mộ, biết bao "làng không chồng", biết bao thương binh và biết bao những hài nhi bé nhỏ dị tật được sinh ra do ảnh hưởng của chất độc màu da cam…

  Không ai chọn cho mình cách chết, cũng không ai muốn mình phải chết nhưng Tổ quốc đang trong cơn nguy biến, cần đến sự dốc sức của tất cả mọi người, vì vậy họ sẵn sàng gác lại ước mơ của mình, sẵn lòng hy sinh để bảo vệ từng tấc đất quê hương. Họ cũng gác lại ước mơ hạnh phúc, bỏ lại giếng nước, gốc đa, bỏ lại người vợ trẻ "mòn chân bên cối gạo canh khuya", bỏ lại sau lưng "thềm nắng lá rơi đầy" để thực hiện nghĩa vụ với quê hương.

  Tôi đã nhớ, rất nhớ từng lời, từng câu, từng chữ trong cuốn nhật ký của bác sỹ, liệt sỹ Đặng Thùy Trâm và cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” của liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc: "Tuổi trẻ gửi lại vào những năm tháng chiến tranh, bom đạn, những gian khó thời chiến. Họ ra đi, mang niềm tin và hoài bão, ước mơ của tuổi xuân gửi vào từng câu từ trong những cuốn sổ đượm mùi thuốc súng, mùi bom đạn. Họ vẫn sống và chiến đấu tới hơi thở cuối cùng, dẫu luôn biết trước rằng, trong khúc ca khải hoàn của ngày mai chiến thắng sẽ chẳng có mình".

“Chúng tôi đi không tiếc đời mình.

Tuổi hai mươi làm sao không tiếc

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc”

(Người đi tới biển – Thanh Thảo)

  Chiến tranh đi qua, biết bao nhiêu lớp lớp thanh niên đã ngã xuống, họ đã hiến dâng hết tất cả tuổi xuân của mình cho mùa xuân của dân tộc… Họ là những “nốt trầm mãi xao xuyến" trong bản hòa ca chung của đất nước. Họ góp những "mùa xuân nho nhỏ" để làm thành mùa xuân lớn của dân tộc. Người ta rồi sẽ già đi và về với đất mẹ. Còn các anh, các chị thì vẫn sẽ mãi mãi ở cái tuổi đôi mươi. Tuổi đầy khát khao, hoài bão.

  Cứ mỗi lần tháng bảy về, nghe lời bài hát: "... Có người lính ra đi từ đó không về...", tự nhiên lại thấy một nỗi nhớ xa xăm, một lòng kính trọng thăm thẳm và một niềm khắc khoải khôn nguôi! Tháng bảy về, đêm trời bỗng đổ mưa rào rạt, sáng thức dậy chợt thấy lạnh lạnh, người ta bảo hình như sắp sang thu. Cơn mưa dai dẳng cuối tháng bảy như tiếng khóc thương, hoài cảm về một thời quá khứ hào hùng và những con người đã viết nên bài ca ấy. Sau nỗi niềm mưa là lòng người trắc ẩn và trách nhiệm của những người đang được sống với cuộc đời mới. Tháng bảy nhắc nhớ, gợi về, đó cũng là tâm trạng của những cựu binh khi thăm lại chiến trường xưa hay khi gặp mặt đồng chí, đồng đội cũ...

  Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết, những người con đã bỏ mình nơi chiến trường, hoặc bỏ lại một phần thân thể ở mặt trận đều xứng đáng sống mãi trong lòng quốc dân đồng bào. Để rồi, hướng đến ngày thương binh liệt sĩ 27/7, trên khắp cả nước lại dấy lên nhiều phong trào thi đua, nhiều việc làm thiết thực, đầy nghĩa tình, thể hiện lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và Nhân Dân ta đối với những người đã vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì tự do và cuộc sống yên bình của nhân dân mà hy sinh, cống hiến.

Tháng bảy, hàng triệu ngọn nến, hàng triệu nén hương được thắp lên, lung linh, huyền ảo trên hàng triệu nấm mộ liệt sỹ khắp các nghĩa trang liệt sỹ trong cả nước. Đó là nỗi nhớ thương và biết ơn của hậu thế đang cháy đỏ; những ngọn nến của lòng tri ân, của niềm tin, của nhiệt huyết tuổi trẻ. Những ngọn nến có sức lan tỏa mạnh mẽ, đánh thức những xúc cảm của con người, từ đây mỗi người dân được lắng nhịp tim mình về những con người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

75 mùa thu đi qua là 75 mùa tri ân, ngày 27/7 trở thành ngày mà mọi người không thể nào quên. Xin trích dẫn lời bài hát “Màu hoa đỏ” của nhạc sỹ Thuận Yến - Thơ Nguyễn Đức Mậu, thay cho lời kết, thay cho lòng biết ơn sâu sắc tới những anh hùng liệt sỹ, các mẹ Việt Nam anh hùng:

“Có người lính mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo

Có người lính mùa xuân ấy ra đi từ đó không về

Dòng tên anh khắc vào đá núi, mây ngàn hóa bóng cây che

Chiều biên cương trắng trời sương núi, mẹ già mỏi mắt nhìn theo...”./

LƯỠNG QUỐC TƯỚNG QUÂN RÈN BỘ ĐỘI

 

           Tháng 12-1946, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, tiền thân của Trường Sĩ quan Lục quân 1 ngày nay, đóng quân ở thị xã Sơn Tây (Hà Tây, nay thuộc Hà Nội), đồng chí Nguyễn Sơn (sau này, ông được cả Việt Nam và Trung Quốc phong quân hàm cấp tướng nên còn được gọi là “Lưỡng quốc tướng quân”) về làm hiệu trưởng, thay đồng chí Hoàng Đạo Thúy được điều động về Bộ Quốc phòng.

          Khi mới về, đồng chí Nguyễn Sơn thường nói với cán bộ, giáo viên, học viên nhà trường: “Tôi đánh du kích bên Tàu 10 năm, nay Bác Hồ bảo đem truyền kinh nghiệm cho các chú trong một tháng, các chú liệu mà học”. Theo ông Nguyễn Cao Vỹ, học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (năm 1946): “Đồng chí Nguyễn Sơn rất có tài kể chuyện. Cứ mỗi sáng chủ nhật, chúng tôi quây quần ở hội trường, nghe ông nói về cuộc Vạn lý trường chinh ở Trung Quốc mà ông là người trực tiếp tham gia. Tháng 1-1947, vào một buổi chiều, học viên đang tập chiến thuật ở trên một quả đồi gần trường, mọi người phát hiện một chiếc máy bay Dakota của Pháp đến ném bom khu vực gần nhà dân nhưng không ai bị thương. Nghe tin có máy bay ném bom, nhân dân đến xem vị trí địch ném bom khá đông. Trời chạng vạng tối, bà con vẫn chưa chịu về nhà. Thấy vậy, ông Nguyễn Sơn đến giải thích cho bà con và kết luận: “Máy bay địch không có gì đáng sợ cả, chỉ cần chúng ta biết phòng tránh cho tốt”. Nghe ông trò chuyện dí dỏm, thuyết phục nên bà con vui vẻ ra về”.

          Một đêm trời lạnh, sương mù dày đặc, có lệnh báo động toàn trường di chuyển ngay trong đêm: “Địch đang tiến về cầu Bùng”. Vừa lúc đó, có tiếng đại bác từ phía Hà Nội vọng sang. Mọi người lặng lẽ thu xếp ba lô, súng đạn, quân tư trang... nhanh chóng hành quân cấp tốc suốt đêm không nghỉ. 9 giờ sáng hôm sau, Hiệu trưởng Nguyễn Sơn tới vị trí bộ đội tập kết, giọng ông sang sảng: “Đêm hôm qua, quân Pháp không tiến về cầu Bùng. Đó chỉ là một cuộc báo động giả. Từ nay, chúng ta sẽ vừa đi vừa học, không trở về trường nữa. Muốn chuyển từ thời bình sang thời chiến phải hết sức gọn nhẹ. Chẳng nên tiếc những thứ cồng kềnh làm khổ chúng ta...”.

          Điều đáng nói là tướng Nguyễn Sơn thường lên lớp giảng bài, nói chuyện từ sáng đến trưa. Ông giảng bài hàng chục ngày liên tục mà không có tài liệu, sách vở nhưng vẫn mạch lạc, logic, thuyết phục người nghe. Các bài giảng, nội dung lên lớp của ông không bao giờ bị trùng lặp./

 

Đảng ta luôn đặt lợi ích của giai cấp, nhân dân và dân tộc lên trên hết

 Bản chất, mục tiêu, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì lợi ích của

giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác


Các quốc gia trên thế giới đều có đảng cầm quyền lãnh đạo và nắm giữ nhà

nước để tổ chức và quản lý đất nước, triển khai chủ trương, đường lối chính trị của

đảng cầm quyền, thực hiện lợi ích của giai cấp thống trị. Để đánh giá vai trò, khả

năng lãnh đạo đất nước của một chính đảng cầm quyền cần phải dựa vào và xem

xét bản chất, mục tiêu, đường lối lãnh đạo của đảng cầm quyền, đó là tiêu chí cốt

lõi để đánh giá vai trò, khả năng lãnh đạo đất nước của chính đảng cầm quyền.

Về bản chất, Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức ưu tú nhất của giai cấp

công nhân, của nhân dân và cả dân tộc. Mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn

thống nhất với mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và

toàn thể nhân dân Việt Nam. Đảng một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phụng sự

nhân dân, phụng sự dân tộc, được nhân dân, dân tộc thừa nhận là đội tiên phong

của mình. Mục đích hoạt động, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là xây

dựng xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và

thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết

sức làm, việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.

Sự kiểm chứng đúng đắn từ lý luận đến thực tiễn

 Xuất phát từ luận điểm khách quan, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của chính đảng vô sản trong tiến trình cách

mạng ở các quốc gia. C.Mác và Ph.Ăngghen trong học thuyết cách mạng và khoa

học của mình, đã chỉ ra rằng, giai cấp công nhân là giai cấp hiện đại, cách mạng

nhất, tiên tiến nhất trong xã hội, nhưng giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện

được sứ mệnh lịch sử của mình khi thành lập ra được chính đảng đảm đương vai

trò lãnh đạo, dẫn dắt giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân tiến hành cách mạng

thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chế độ cộng sản

chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin cũng nhấn mạnh

rằng, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò duy nhất lãnh đạo nhà nước, xã hội, là người

định hướng sự phát triển trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội.

Thấm nhuần những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh tụ Hồ Chí

Minh đã xác định rằng, cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam muốn thắng lợi trước hết phải có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chủ tịch

Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận

động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai

cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có

vững thuyền mới chạy”.


Thực tế lịch sử ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh tính tất yếu

khách quan vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các giai đoạn của

tiến trình cách mạng Việt Nam. Không có một tổ chức chính trị nào có thể thay thế

được vai trò này của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi luận điểm nhằm hạ thấp hoặc

muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt

Nam đều trái với điều kiện thực tế của nước ta.

Sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải tự

nhiên mà có, nó là tất yếu của lịch sử.

Trong thời kỳ giải phóng dân tộc ở Việt Nam trước đây, ngoài phong trào

đấu tranh của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và dẫn dắt,

đã có những phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc của một số hội, đoàn thể,

đảng phái khác như: Duy Tân hội, Việt Nam Quang Phục hội, Việt Nam Quốc dân

đảng... Tuy nhiên, những tổ chức, đảng phái này do nhiều nguyên nhân khác nhau,

trong đó nguyên nhân chủ yếu là do đường lối, mục tiêu của các tổ chức, đảng phái

đó không phù hợp với xu thế phát triển của dân tộc, thời đại, không quy tụ, tập hợp

được quần chúng nhân dân... nên đã không thể lãnh đạo phong trào giải phóng dân

tộc ở Việt Nam và dần tan rã, thất bại.

Đúc rút từ sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước

Đông Âu vào những năm cuối của thập niên 1980, 1990 cũng cho thấy, một trong

những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ chế độ chính trị ở các nước này là

đã từ bỏ, buông lỏng, phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, để

cho các lực lượng thù địch, phản động lợi dụng, vô hiệu hóa, cướp chính quyền,

đưa đất nước đi theo con đường khác khi có những biến cố về chính trị.

CHÚNG TA CÓ QUYỀN TỰ HÀO VỀ DÂN TỘC VIỆT NAM!

 

            Xin được trích dẫn lại bài viết của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn - nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn - Tổng Cục chính trị - Quân đội nhân dân Việt Nam.

          "Thật xấu hổ khi lòng tự hào, tự tôn dân tộc không còn ở một bộ phận người trong đất nước ta, nhất lại là tầng lớp có học; hễ mở miệng là họ ca ngợi các nước phương Tây, họ tự hạ thấp mình và họ cho đó mới là cách nhìn nhận đúng đắn để mình có thể vươn lên, trong khi đó các nhà nghiên cứu, các chính trị gia các nước kể cả Tổng thống Hoa Kỳ cũng đã ca ngợi đất nước ta là một quốc gia kỳ diệu hơn 40 năm qua nền kinh tế đã tăng trưởng gấp 30 lần ...Tất nhiên chúng ta không thể vì lời ca ngợi của bạn bè mà tự mãn và càng không thể vì lời khen của các nhà lãnh đạo của nước nào đó mà chủ quan cho rằng mình hơn mọi người; song không thể chấp nhận tính tự ti, đớn hèn, nhược tiểu đến mức như các vị đã nói ở trên.

          Tôi đi nước ngoài khá ít song có thể nói rằng ta còn nhiều điều thua kém các nước phát triển, song không có nghĩa ta chẳng có cái gì hơn bạn bè mà ngược lại ta có không ít điều mà các nước khác phải phấn đấu theo ta. Chỉ đơn cử sau 30 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam chúng ta tăng trưởng gấp 25 lần, nhìn lại quanh ta chỉ có nước láng giềng phương Bắc là vượt ta còn lại đều có chỉ số tăng trưởng kém ta từ 3-4 lần, chỉ số giảm nghèo Việt Nam là quốc gia mà cả thế giới học tập, đến nay chúng ta chỉ còn khoảng 8% số hộ nghèo đa chiều, so sánh ngay các nước ASEAN ta chỉ thua Singapo, Bruney còn vượt trên các nước khác trong khối, chỉ số hạnh phúc, an toàn chúng ta cũng nằm trong nhóm dẫn đầu của châu Á, nhiều mặt hàng xuất khẩu quan trọng chúng ta đứng tốp ten thế giới. Hãy nhìn đúng mình, đúng vị trí của mình đối với thế giới để có lòng tự hào, tự tôn dân tộc, mất nó mãi mãi là nhược tiểu, yếu hèn.

          Tôi nhớ khi đi cùng đoàn tham quan Paris hoa lệ, tôi đã gặp một đoàn khách nước ngoài, họ hỏi đoàn mình có phải Trung quốc không? Bọn mình trả lời Việt Nam! Cả đoàn họ nhiều người cùng nói: Việt Nam - Hồ Chí Minh! Thế là hai bên cùng bắt tay nhau rất thân tình và trong lòng mình thật vui vì mình là người Việt Nam và vì Việt Nam có Bác Hồ. Nay nhắc lại để thấy chúng ta có quyền tự hào về dân tộc mình"./.

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phòng chống tham nhũng

 Đấu tranh, phản bác các luận điệu suy diễn, xuyên tạc công tác PCTN, tiêu

cực ở Việt Nam phải được tiến hành thường xuyên, liên tục với hệ thống các giải

pháp đồng bộ, hiệu quả, thiết thực. Trong đó, tập trung vào một số giải pháp là:

Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về

quan điểm, chủ trương của Đảng trong PCTN, tiêu cực và âm mưu, thủ đoạn chống

phá của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ

thống pháp luật về PCTN, tiêu cực và tổ chức triển khai có hiệu quả trên thực tế,

không tạo khoảng trống để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá.


Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn thể

nhân dân trong PCTN, tiêu cực và đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc

của các thế lực thù địch, phản động hiện nay. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

đối với công tác PCTN, tiêu cực và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

trong tình hình mới. Thực hiện đa dạng, linh hoạt về nội dung, hình thức, phương

pháp đấu tranh PCTN, tiêu cực và phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế

lực thù địch, phản động.