Thứ Hai, 21 tháng 8, 2023

NHÀ SÀN BÁC HỒ - DẤU ẤN 65 NĂM

 Những ai từng đến thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, hẳn sẽ không thể quên vẻ đẹp mộc mạc, đơn sơ mà vô cùng gần gũi, thân thương của ngôi nhà sàn khiêm nhường nép mình dưới những tán cây xanh mát.

Đây là ngôi nhà cuối cùng mà Bác Hồ đã ở và làm việc trong suốt 11 năm cuối đời (từ tháng 5/1958 đến tháng 8/1969), cũng là nơi mà trong suốt 65 năm qua đã trở thành biểu tượng sống động cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Tỏa sáng phong cách sống giản dị, thanh cao
Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, tháng 10/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Dù được Trung ương bố trí chỗ ở và làm việc trong Phủ toàn quyền Đông Dương (nay là Phủ Chủ tịch) nhưng Người kiên quyết từ chối. Bốn năm đầu tiên, Bác lựa chọn sống và làm việc trong một ngôi nhà nhỏ từng là nơi ở của người thợ điện phục vụ cho Phủ toàn quyền Đông Dương.
Nhiều lần Trung ương Đảng đề nghị làm cho Bác nhà mới, nhưng Người đều không nhận. Mãi đến tháng 3/1958, sau chuyến thăm hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên, trên đường trở về, ngắm nhìn những ngôi nhà sàn dọc hai bên đường, gợi nhắc những năm tháng gắn bó với chiến khu xưa, Người mới đề xuất nguyện vọng muốn làm một ngôi nhà sàn nhỏ bên bờ ao trong khu vườn Phủ Chủ tịch, theo kiểu nhà của đồng bào Việt Bắc. Thực hiện ý nguyện và mong muốn của Người, sau hơn một tháng thi công, ngôi nhà sàn hoàn thành vào ngày 17/5/1958.
Ngôi nhà sàn hai tầng, chiều dài 10,5 m rộng 6,2 m, chung quanh có mành che. Tầng dưới để thoáng, chính giữa có bộ bàn ghế lớn là nơi Bác thường làm việc với Bộ Chính trị, gặp các cán bộ đầu ngành đến báo cáo công việc, bàn quyết nhiều vấn đề quan trọng của đất nước.
Tại đây, Người tiếp tục lãnh đao nhân dân vượt qua khó khăn, thách thức để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, đấu tranh giải phóng miền nam, tiến tới thống nhất đất nước. Cũng tại ngôi nhà sàn này, Người đã viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật” (Di chúc) trong suốt bốn năm (từ năm 1965 đến 1969). Cũng tại nơi này, Người đã ra Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước (1966), khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đây cũng là nơi Người tiếp thân mật một số đoàn khách trong nước, quốc tế.
Nhà sàn Bác Hồ là công trình duy nhất làm bằng gỗ, có kiến trúc hoàn toàn khác với các công trình chung quanh nhưng lại hết sức hài hòa trong không gian thiên nhiên, rợp mát bóng cây, nhiều loại hoa thơm, cỏ mát; trước nhà là ao rộng Bác vẫn thường cho cá ăn sau giờ làm việc.
Thăm nhà sàn của Bác, nhìn những vật dụng đơn sơ, giản dị: chiếc giường đơn trải chiếu cói; cái tủ gỗ nhỏ, lọ hoa, máy thu thanh, vài cuốn sách..., mới thấm thía hơn phong cách sống rất đỗi giản dị, thanh bạch của Người. Trong tập “Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ” (Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội, 2003), đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác chia sẻ: “...
Càng ngẫm càng thấy sâu sắc rằng, việc một vị Chủ tịch nước chọn chỗ ở của mình là một ngôi nhà sàn gỗ với hai phòng, mỗi phòng chỉ vẻn vẹn chưa đầy 10 mét vuông, thật có ý nghĩa sâu sắc.
Cũng như đôi dép lốp, chiếc quạt lá cọ, bộ quần áo kaki, những bữa cơm giản dị hằng ngày của quê hương, đó chính là cả một bài học lớn cho mọi thế hệ về đạo đức “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, điều cơ bản cần có trước hết của mỗi cán bộ cách mạng”.
Trải qua 65 năm kể từ khi xây dựng, nhà sàn Bác Hồ đã trở thành “địa chỉ đỏ” phục vụ, đón tiếp nhiều đoàn khách Trung ương, địa phương, các tổ chức đoàn thể, các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế tới tham quan, học tập, sinh hoạt chính trị.
Và từ những hành trình trải nghiệm ấy, mỗi người lại có thêm những tình cảm kính yêu, ngưỡng mộ Bác.
Trong Sổ cảm tưởng của Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, một bạn trẻ đến từ Cần Thơ viết: “Từ miền Nam xa xôi, lần đầu tiên con có cơ hội được viếng Lăng Bác, thăm nơi ở và làm việc của Bác đến những ngày cuối đời, thật đơn sơ giản dị và gần gũi biết bao! Có thật nhiều cảm xúc và con biết ơn Người. Cả cuộc đời Người đã hy sinh vì nước vì dân.
Qua đó con mới thấy, trách nhiệm thế hệ trẻ ngày nay cần học tập, rèn luyện để cống hiến, xây dựng đất nước hùng cường, vững mạnh”. Còn một du khách người Anh nêu cảm nhận: “Tôi thực sự ngạc nhiên và ngưỡng mộ khi tới thăm ngôi nhà sàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi không thể hình dung một lãnh tụ, một nguyên thủ quốc gia lại sống giản dị và đơn sơ như vậy. Bác Hồ quả là một nhân cách đáng kính trọng!”.
Lan tỏa giá trị nhà sàn Bác Hồ
Bà Nguyễn Thị Xuân, cán bộ Phòng Bảo quản Môi trường di tích (Khu Di tích Phủ Chủ tịch) cho biết:
“Việc bảo quản di tích nhà sàn Bác Hồ có tính đặc thù vì phải thực hiện trong điều kiện môi trường mở hoàn toàn, phục vụ lượng khách tham quan đông đảo. Các tài liệu, hiện vật nơi đây luôn phải chịu tác động trực tiếp từ môi trường, khí hậu tự nhiên với thời tiết nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ và độ ẩm luôn dao động, chưa kể ảnh hưởng từ tác nhân con người như độ rung, tiếng ồn, khí thở...
Vì thế, để hạn chế những tác động này, các cán bộ bảo quản đã phải áp dụng biện pháp tạo ra “tiểu môi trường” bảo quản, tạo vật đệm giữa đại môi trường và tiểu môi trường bằng hộp mica chụp lên các hiện vật. Khi đón các đoàn nguyên thủ quốc gia, đại biểu cấp cao tới thăm trực tiếp tầng hai nhà sàn, để giảm lượng bụi bẩn và giảm xây xước sàn nhà, cán bộ bảo quản đã sử dụng tất vải để phục vụ. Bên cạnh đó, công tác chống ẩm, mưa bão, trừ mối, bảo quản theo chế độ định kỳ ngắn hạn, dài hạn và chống xuống cấp di tích cho nhà sàn cũng được thực hiện nghiêm ngặt...”.
Ngay cả việc bê chuyển, làm vệ sinh thường xuyên cũng có thể gây hư hại cho hiện vật. Bà Nguyễn Thị Xuân cho rằng, cần sớm triển khai trưng bày bổ sung các tài liệu, hiện vật như vốn có của Di tích nhà sàn Bác Hồ:
“Việc trưng bày hiện vật như hiện nay chưa phản ánh đúng nguyên gốc của di tích, chưa phản ánh đầy đủ và chính xác so với thời điểm Bác qua đời, thiếu vắng khối tài liệu, hiện vật bằng giấy như sách, báo, tạp chí; cũng như một số hiện vật thể khối. Những hiện vật này nếu được trưng bày sẽ góp phần khắc họa đầy đủ và rõ nét hơn về cuộc sống đời thường và phong cách sống mẫu mực, giản dị, tinh thần cống hiến và tình yêu nhân dân, đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.
Liên quan công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học cho Di tích nhà sàn Bác Hồ, Tiến sĩ Hoàng Thị Nữ, nguyên Trưởng phòng Sưu tầm, Kiểm kê, Bảo quản (Bảo tàng Hồ Chí Minh) cho rằng, có một khâu chưa được triển khai đồng bộ, đó là công tác xây dựng hệ thống các bộ sưu tập tài liệu, hiện vật để phát huy giá trị của các sưu tập đó.
Tiến sĩ Hoàng Thị Nữ gợi ý, với tổng số tài liệu, hiện vật liên quan hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người sống và làm việc tại nhà sàn, bước đầu có thể xây dựng thành: Sưu tập tài liệu, bản thảo, bài báo; sưu tập phim ảnh ghi lại hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1958-1969; sưu tập đồ dùng, vật dụng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chỉ riêng với sưu tập các tài liệu, bản thảo, bài báo, đã có thể tổ chức thành nhiều sưu tập nhỏ, cụ thể như: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các bản thảo viết tay, đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các bài báo Người viết với các bút danh khác nhau; các bài thơ Người viết khi sống và làm việc ở nhà sàn; các văn bản quan trọng Hồ Chí Minh đã ký tại nhà sàn...
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, cán bộ Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch cho biết: Thời gian qua, Khu Di tích đã xuất bản nhiều đầu sách có giá trị tuyên truyền về nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng vẫn chưa có một đầu sách riêng về chính Di tích nhà sàn Bác Hồ.
Phần giới thiệu về nhà sàn mới chỉ là một nội dung trong các đầu sách hoặc được đề cập rải rác trong tập hợp các câu chuyện kể. Vì vậy, để tiếp tục phát huy giá trị Di tích nhà sàn Bác Hồ, cần xuất bản một cuốn sách riêng về nhà sàn, bao gồm hệ thống các sự kiện, câu chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với nhà sàn; hình ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước đón tiếp các nguyên thủ trên thế giới đến thăm nhà sàn; cảm tưởng tiêu biểu của đồng bào trong nước và bạn bè quốc tế khi đến Di tích...
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, bà Hằng cho rằng, cần nghiên cứu thí điểm ứng dụng quét mã QR trong phát huy giá trị Di tích nhà sàn, giúp du khách dễ dàng tiếp cận những thông tin chính xác về ý nghĩa lịch sử, giá trị của các tài liệu, hiện vật của di tích. Bên cạnh đó, cần thí điểm triển khai các hình thức tuyên truyền mới về Nhà sàn Bác Hồ trên website của Khu Di tích Phủ Chủ tịch và các kênh mạng xã hội.../.
Nhân dân

CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG - NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG SẢN KIÊN CƯỜNG, BẤT KHUẤT, SÁNG NGỜI ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về đồng chí Tôn Đức Thắng: “Là một chiến sĩ cách mạng dân tộc và chiến sĩ cách mạng thế giới, đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt Nam đầu tiên đã tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng Tháng Mười vĩ đại…, là một gương mẫu đạo đức cách mạng suốt đời cần, kiệm, liêm chính, suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ Nhân dân”.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20/8/1888 trong một gia đình nông dân tại Cù Lao Ông Hổ, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang. Đồng chí là một chiến sĩ cách mạng trung kiên của Đảng, cuộc đời hoạt động của đồng chí đã để lại nhiều di sản vô cùng quý báu cho toàn Đảng ta, toàn dân ta.
Cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm chiếm và cảnh đồng bào ta bị thực dân Pháp đàn áp dã man đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của người thanh niên Tôn Đức Thắng yêu nước. Năm 1906, sau khi tốt nghiệp Sơ cấp tiểu học Đông Dương tại Long Xuyên, đồng chí rời quê lên Sài Gòn học nghề thợ máy tại Trường Cơ khí Á Châu - còn gọi là Trường Bá Nghệ. Tốt nghiệp hạng ưu, đồng chí được nhận vào làm công nhân ở Nhà máy Ba Son của Hải quân Pháp tại Sài Gòn.
Năm 1912, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tham gia tổ chức cuộc bãi công tại Nhà máy sửa chữa tàu thủy Ba Son để đòi quyền lợi cho công nhân vì vậy bị sa thải. Sau đó, đồng chí sang Pháp làm công nhân ở Toulon (Pháp) và bị trưng dụng làm lính thợ cho một đơn vị Hải quân Pháp. Dưới sự lãnh đạo của Công hội Pháp, đồng chí đã tham gia phản chiến và treo cờ đỏ trên chiến hạm để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, tham gia cuộc binh biến của binh sĩ Pháp ở Hắc Hải (20/4/1919).
Có thể nói, Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một trong những người thuộc lớp chiến sĩ đầu tiên của phong trào công nhân và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta.
Năm 1920, trở về Sài Gòn, đồng chí đã lập Công hội bí mật ở Sài Gòn, đây là tổ chức Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Tôn Đức Thắng, tổ chức Công hội đã lãnh đạo phong trào bãi công sôi nổi của thủy thủ và công nhân Nam Bộ, tiêu biểu nhất là cuộc bãi công của công nhân hãng Ba Son tháng 8 năm 1925 - đánh dấu trình độ giác ngộ công nhân, trình độ tổ chức, ý thức đoàn kết, kỷ luật của giai cấp công nhân Việt Nam đã phát triển lên một bước mới.
Trong những năm 1926 - 1927, Công hội Sài Gòn là cơ sở vững chắc cho sự hình thành và phát triển tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, không chỉ ở Sài Gòn mà trên cả xứ Nam Kỳ. Khi Kỳ bộ Nam Kỳ thành lập, đồng chí Tôn Đức Thắng được cử làm Ủy viên Ban Chấp hành Kỳ bộ, Bí thư Thành bộ Sài Gòn, phụ trách phong trào công nhân. Với chức trách được giao, đồng chí đã góp phần tích cực thúc đẩy việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta, chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho sự ra đời đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định hoạt động tích cực của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và những học trò của Người trong sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào yêu nước và phong trào công nhân. Tại Sài Gòn, quá trình đó diễn ra thuận lợi vì có sự hoạt động tích cực của Công hội do đồng chí Tôn Đức Thắng sáng lập. Công hội của đồng chí đã bắc nhịp cầu đưa chủ nghĩa Mác - Lênin đến với giai cấp công nhân. Chính sứ mệnh đó, đồng chí Tôn Đức Thắng không chỉ là chiến sĩ tiên phong của phong trào công nhân, một trong những người sáng lập tổ chức công đoàn của giai cấp công nhân Việt Nam, mà còn “là một trong các chiến sĩ lớp đầu của phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta”.
Tháng 7/1929, đồng chí Tôn Đức Thắng bị thực dân Pháp bắt giam tại Khám Lớn (Sài Gòn) và một năm sau bị đày ra Côn Đảo. Gần mười bảy năm bị giam ở ngục tù, đồng chí Tôn Đức Thắng luôn tỏ rõ là một nhà yêu nước vĩ đại, một chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù; thương yêu đồng chí và những người cùng cảnh ngộ. Đồng chí đã đề xướng việc thành lập Hội cứu tế tù nhân - hội tù Côn Đảo đầu tiên; góp phần quan trọng vào việc thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở nhà tù Côn Đảo, mở ra thời kỳ đấu tranh mới của tù nhân Côn Đảo, thời kỳ đấu tranh có tổ chức, có phương pháp, với mục tiêu cụ thể trước mắt và lâu dài.
Đặc biệt khi Chi bộ thực hiện chủ trương biến “nhà tù thành trường học cộng sản”, đồng chí Tôn Đức Thắng tích cực hưởng ứng, gương mẫu học tập và tham gia vào truyền bá những kiến thức về lý luận cơ bản và nội dung huấn luyện cho các tù nhân. Nhờ sự bí mật, khôn khéo, đồng chí Tôn Đức Thắng đã giúp Chi bộ vừa chuyển được thư từ, tài liệu ở Côn Đảo về Sài Gòn, vừa nhận được nhiều sách lý luận gồm những tác phẩm kinh điển Mác, Ăngghen, Lênin... dùng làm tài liệu học tập trong tù.
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (năm 1939), dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, Hội tù nhân do đồng chí Tôn Đức Thắng chỉ huy đã có nhiều hình thức và tổ chức hoạt động phong phú phù hợp với hoàn cảnh mới. Ngày 15/8/1945, Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện; chớp thời cơ, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay Nhân dân. Theo tinh thần đó, Đảng ủy Côn Đảo chủ trương đoàn kết các lực lượng tù chính trị trên đảo giành chính quyền bằng phương pháp hòa bình. Đồng chí Tôn Đức Thắng được cử vào đoàn đại biểu đến gặp Quản đốc Lê Văn Trà, buộc Trà phải đồng ý một số vấn đề như: tổ chức chính quyền liên hiệp trên đảo, sửa chữa vô tuyến điện, sửa chữa radio để nghe tin tức, sửa chữa canô để đưa đại biểu về đất liền xin ý kiến của Chính phủ.
Hình ảnh người chiến sĩ cộng sản Tôn Đức Thắng kiên cường, sáng ngời bản lĩnh và niềm tin tất thắng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc để vượt qua sự khốc liệt của ngục tù đế quốc đã làm các đồng chí đảng viên tù Côn Đảo ngưỡng mộ và kẻ thù khiếp sợ.
Dù giữ rất nhiều chức vụ quan trọng khác nhau: lãnh đạo Công hội đỏ hay Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… và khi Bác Hồ qua đời, được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (từ 1969 - 1980), đồng chí luôn hiến dâng cả đời mình cho độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân và cho sự phát triển tình hữu nghị anh em giữa các dân tộc trên thế giới. Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng của người chiến sĩ cộng sản./.
Báo Pháp luật

TẤM GƯƠNG SÁNG VỀ CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH

 Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam là một vị lãnh tụ mẫu mực, luôn nhất quán giữa lời nói và hành động. Bác không chỉ để lại những lời dạy sâu sắc cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về việc học tập, rèn luyện những phẩm chất cần-kiệm-liêm-chính, chí công vô tư để phụng sự Tổ quốc và nhân dân mà còn đào tạo, bồi dưỡng thế hệ lãnh đạo kế cận thành những người cộng sản mẫu mực hội tụ đầy đủ những phẩm chất cao quý đó; trong số những học trò xuất sắc có đồng chí Trần Hữu Dực - Người chiến sĩ cách mạng đã chiến thắng kẻ thù bằng tinh thần thép và ý chí tiến công “bước qua đầu thù”.

Trong thời gian hoạt động cách mạng từ 1926-1945, Trần Hữu Dực bị thực dân Pháp bắt 4 lần, bị kết án tổng số 29 năm tù giam và 22 năm quản thúc, từng trải qua các nhà tù khét tiếng tàn độc của đế quốc thực dân như nhà tù Quảng Trị, nhà đày Lao Bảo, nhà đày Buôn Ma Thuột (2 lần). Chính trong địa ngục lao tù, bằng nghị lực của người yêu nước, bằng ý chí của người cộng sản, Trần Hữu Dực đã làm thất bại mọi ngón đòn tra tấn cực kỳ tàn bạo của kẻ thù.
Tháng 6/1945, thoát khỏi nhà tù đế quốc và không một phút nghỉ ngơi, Trần Hữu Dực lao ngay vào công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Trong tình hình vô cùng khẩn trương, cấp trên giao cho Trần Hữu Dực trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Trị. Bằng trí tuệ và khả năng công tác thực tiễn của mình, Trần Hữu Dực đã cùng tập thể Ủy ban Khởi nghĩa lãnh đạo thành công cuộc khởi nghĩa Quảng Trị nhanh gọn.
Ngày 31/8/1945, trong phiên họp đại biểu các tỉnh Trung Bộ, ông được bầu vào Thường vụ Xứ ủy và Chủ tịch Ủy ban Trung Bộ với sự tín nhiệm tuyệt đối. Buổi ra mắt đầu tiên của vị Chủ tịch Trung Bộ 35 tuổi đã gây một tiếng vang lớn trong mọi tầng lớp nhân dân kinh đô Huế. Từ các viên chức của chế độ cũ đến các vị đại thần, trong đó có những người đã từng ký lệnh bắt giam ông, đều cảm thấy hoàn toàn yên tâm, tin tưởng vào chế độ mới.
Cuộc đời có những đổi thay thật kỳ diệu. Mới hôm nào, ông còn là một người tù bị cùm trong xà-lim, nay chỗ ở mới của ông là dinh thự của tên Khâm sứ Trung Kỳ với đầy đủ mọi tiện nghi sang trọng.
Nhưng ông không choáng ngợp trước sự đổi thay đó. Hàng nghìn cặp mắt theo dõi đời sống, sinh hoạt của vị Chủ tịch - “Viên Khâm sứ mới” và trong lúc “Một số người thi nhau đem con ra thành phố ở những ngôi nhà sang trọng, thậm chí có người cưới vợ ngay trong tòa nhà Khâm sứ, yến tiệc linh đình…” thì Trần Hữu Dực vẫn để vợ con ở quê. Qua lời tự sự của ông: “Có một lần, vợ tôi đưa đứa con trai 7 tuổi vào thăm tôi. Tôi đã bố trí một buổi đưa vợ tôi vào thăm cung điện nhà Vua, dẫn vợ tôi đi thăm khắp tòa Khâm sứ sang trọng và lộng lẫy… Khi tôi đưa vợ con vào phòng nghỉ riêng của tòa Khâm sứ Trung Kỳ, bấy giờ là phòng nghỉ riêng của Chủ tịch Trung Bộ, vợ tôi đã thốt lên kinh ngạc: “Nhà mình được ở đây à?”. Tôi đã vui vẻ trả lời ngay: “Không! Nhà mình vẫn ở Dương Lệ Đông, Quảng Trị. Ngày mai, hai mẹ con lại về đấy”… cho chúng ta thấy phẩm chất liêm chính đáng quý của Trần Hữu Dực.
Trong khoảng hơn 10 năm được sống và làm việc với Trần Hữu Dực, ông Trần Việt Phương kể lại: Trong hai năm 1949-1950 trên Chiến khu Việt Bắc, đồng chí Trần Hữu Dực là một ủy viên của Đảng đoàn Chính phủ. Tôi là người thư ký làm biên bản, ghi ý kiến của từng người trong các cuộc họp Đảng đoàn Chính phủ, thấy đồng chí Trần Hữu Dực luôn là người nói ngắn gọn, rõ ràng, nêu những ý kiến dứt khoát, thẳng thắn. Đồng chí Phạm Văn Đồng, Bí thư Đảng đoàn Chính phủ là người kiệm lời, quý thời gian, trong hội nghị tự đòi hỏi mình và yêu cầu người khác vào thẳng vấn đề, đóng góp thiết thực về giải pháp, cho nên đồng chí Phạm Văn Đồng thường tâm đắc với cách nói và tán thành nhiều ý kiến của Trần Hữu Dực.
Từ những năm 1960, đồng chí Trần Hữu Dực làm Bộ trưởng ở Phủ Thủ tướng. Hằng ngày suốt cả tuần lễ, đồng chí làm việc ba buổi sáng, chiều, tối ở Phủ Thủ tướng. Không ít lần, đồng chí hẹn tôi làm việc từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ sáng hôm sau.
Một lần, Bộ Chính trị họp bàn về một số vấn đề kinh tế quan trọng, đồng chí Trần Hữu Dực được mời dự họp và được Thủ tướng Phạm Văn Đồng ủy nhiệm thay mặt Đảng đoàn Chính phủ báo cáo tình hình. Sau cuộc họp ấy, Bác Hồ dặn đồng chí Phạm Văn Đồng, khen báo cáo của chú Dực tốt, giúp Bộ Chính trị thảo luận sớm thống nhất ý kiến, quyết định chủ trương và biện pháp đúng. Lần sau bàn những vấn đề tương tự, có thể tiếp tục giao cho chú Dực chuẩn bị báo cáo tình hình và nêu đề nghị.
Thời chiến tranh, qua bao ngày đêm làm việc, đồng chí Trần Hữu Dực và chúng tôi chỉ có một ấm trà-loại trà trung bình, mỗi người được vài chén trà, ngoài ra không có một thứ bồi dưỡng nào cả. Vậy nhưng đồng chí Trần Hữu Dực vẫn thổi lên được trong chúng tôi một ngọn lửa nhiệt tình và say mê luôn luôn bừng cháy. Trong công việc, đồng chí luôn dặn chúng tôi “không cần quan tâm nhiều về cương vị và chức danh” chỉ cần “chúng ta một lòng, một dạ, vì dân, vì nước, ra sức làm tròn nhiệm vụ” và “không có danh hiệu nào, phần thưởng nào, niềm vui nào chính đáng và cao quý hơn điều đó”.
“Trong việc sử dụng cán bộ và đối xử với cấp dưới, tôi thấy đồng chí Trần Hữu Dực rất chú ý đến phẩm chất cán bộ, nhất là phẩm chất chính trị - là cốt lõi của cán bộ; cũng như vấn đề công bằng, không có chuyện thiên vị người này người nọ trong công việc”, ông Dương Văn Phúc, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ nhớ lại. “Trong công tác, đồng chí luôn chỉ đạo sát sao và quan tâm đến cán bộ được giao nhiệm vụ. Giao việc cho ai, đồng chí đều cân nhắc kỹ, không tùy tiện hay theo ý chủ quan của mình. Đồng chí giao việc một cách rõ ràng, xác định ai làm được việc và có ý thức tổ chức mới giao.
Trong cuộc sống hằng ngày thì đồng chí rất tiết kiệm, giản dị, làm gì mà gây lãng phí là đồng chí tuyệt đối không làm. Tôi nhớ thường vào dịp Tết Nguyên đán, đến chúc Tết tại nhà, đồng chí hay đãi mứt gừng, rất đơn giản. Đồng chí không hề yêu cầu hay đòi hỏi gì trong cuộc sống riêng cho mình, cứ theo chế độ mà làm”, ông Dương Văn Phúc kể.
Khi ở cương vị Phó Thủ tướng, đồng chí hằng ngày đi làm được xe ô-tô đưa đón, còn vợ thì đi xe đạp (mặc dù bà cũng làm việc ở Phủ Thủ tướng). Nhiều người bảo sao không để vợ cùng đi, đồng chí bảo: “Cùng đi sao được, ô-tô và lái xe là tiêu chuẩn của Nhà nước phục vụ Phó Thủ tướng chứ không phải phục vụ gia đình”. Ngay cả khi vợ con ốm đau, đi khám bệnh, đồng chí cũng không dùng ô-tô của cơ quan. Đồng chí luôn nhớ mãi, không quên một chữ, lời dạy của Bác Hồ hồi mới giành được chính quyền năm 1945: “Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên cho đến các cô, các cậu ủy viên cũng đi xe hơi của ông. Thử hỏi hao phí đó ai phải chịu?” và đồng chí tự bảo trước hết mình phải gương mẫu trong mọi hoàn cảnh, chí công vô tư trong mọi công việc.
Trong công tác quản lý giới văn nghệ sĩ, lãnh đạo trí thức, ông Trần Hoàn - nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin khi làm việc với đồng chí Trần Hữu Dực đã mất đi những thiên kiến thường nghe về một người lãnh đạo liêm khiết, nghiêm khắc, nguyên tắc nhưng có lúc hơi chì chiết với cán bộ.
Ông kể, trong một lần đi công tác về Đông Hà, ngồi trên xe U-oát bị tra tấn suốt cả buổi bởi con đường từ Khu ra Sa Trầm, về cầu Đakrông lầy lội, nhiều ổ, xóc và phải len lỏi giữa những đoạn đường lở lói vì mưa rừng, vừa đói, vừa khát cho nên có ý định dừng xả hơi, “kiếm” một ít gì ăn cho lại sức ở quán ven đường nhưng đồng chí Trần Hữu Dực lấy gói cơm nắm, bi-đông nước ra mời và được nghe tâm sự: “Tôi lấy làm lạ là có nhiều cán bộ đi công tác, nghỉ dọc đường hay lao vào quán. Không biết để làm gì? Muốn uống chè pha sẵn cho vào bi-đông, khi nào khát thì uống. Muốn uống nước chanh, thì đem sẵn nước nguội, đường và chanh theo mà pha. Đói bụng thì giở cơm nắm ra mà ăn. Tôi đã nói với nhiều đồng chí Thứ trưởng, Vụ trưởng đi công tác với tôi, là phải tránh cái lối “la cà” vào hàng quán. Tôi biết lương cán bộ của ta có được bao nhiêu đâu. Dành dụm để giúp vợ nuôi con đã chật vật lắm rồi. Lấy đâu mà cà phê, cà pháo, nước chanh, nước chè. Mà đã quen thói rồi, thì phải vay tiền mà trả. Nợ không trả được thì phải tìm cách mà xoay. Mà đã “xoay” thì đẻ ra đủ thứ bệnh tham ô, ăn cắp của công, nhận đút lót…”.
Nghe xong, ông Trần Hoàn uống ca nước chè mà thấy đăng đắng, người rờn rợn, bụng bảo dạ phải thận trọng với tính “nghệ sĩ” của mình. Sau lần đó, ông đã hiểu thêm, khâm phục và càng thấy rõ ẩn bên trong cái vẻ ngoài lạnh lùng, đanh rắn của Trần Hữu Dực là một quả tim nồng cháy, đầy tâm huyết và một cái đầu có suy nghĩ, có nguyên tắc nhưng rộng rãi và cởi mở.
Trần Hữu Dực đã sống theo đúng lời dạy của Bác Hồ “Cần, kiệm, liêm, chính”, hướng lòng mình đến “Chí công vô tư” để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ông căm ghét những kẻ cơ hội, tham nhũng quan liêu, sa đọa về phẩm chất. Ông cho rằng những kẻ đó còn tồn tại trong Đảng là nguy cơ đáng lo ngại hơn cả kẻ thù ở bên ngoài. Suốt cuộc đời Trần Hữu Dực trung thành với lý tưởng yêu nước và cộng sản, không ngừng phấn đấu cho lý tưởng mà ông đã nguyện đi theo từ tuổi đôi mươi. Ở tuổi 83, đến giây phút cuối cùng, ông vẫn một lòng son sắt với lý tưởng đó./.
Theo Báo Nhân dân

HỌC GIỎI NHƯ NGÔ BẢO CHÂU ĐỂ LÀM GÌ?

     Ngô Bảo Trâu mới về Việt Nam tham gia Hội thảo" Những kiến thức hữu ích cho nhà quản lý và hoạch định chính sách" trong đó Châu có đề cập về việc làm sao để HS học giỏi Toán và hình thành nhân cách... có người ngứa mắt, mỉa mai hỏi? học giỏi như Châu để làm gì khi anh ta đang tự biến mình thành kẻ vô ơn bội nghĩa... Thử hỏi, học giỏi như Ngô Bảo Châu nhưng Châu đã giúp gì cho đất nước này khi Viện Toán ở Việt Nam do Châu làm Giám đốc "đắp chiếu" nằm đó, mà chính cái Viện toán đó đang làm nghèo thêm đất nước lúc này vì nó "chềnh ềnh" cái danh hão của NBC, nó không sinh ra bất cứ sản phẩm trí tuệ nào cho đất nước đang trên đà phát triển mà không có bất cứ gì đóng góp nào của Gs Toán NBC..

Châu nói đạo lý thì hay, nhưng đáng tiếc thay cái đạo lý của Châu là vì tiền, vì danh vọng nên Châu đang làm Culi bên Chicago nước Mỹ, một thành viên Danh dự của Viện Toán bên Triều Châu TQ để kiếm tiền....Châu đã không vì Tổ quốc, một đất nước đã sinh ra Châu đã là một tội lỗi, không những thế Châu đã biến mình thành kẻ bội bạc, có thể nói đất nước này chỉ được hưởng cái danh hão của NBC Mà thôi

Đã không giúp gì cho đất nước, nhưng Châu lại mắc bệnh công thần, u mê về cia gọi nền tự do dân chủ Mỹ nên Châu hay lên cơn Ngao Toán, thường xuyên nhìn về tổ quốc với lời lẽ hằn học của kẻ vô ơn, bênh vực kẻ chống phá chính quyền, biến mình thành kẻ bất nghĩa lẫn bất trung, Châu bôi nhọ chính quyền, xúc phạm lãnh tụ của dân tộc đó là anh linh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Có thể nói Châu giỏi Toán nhưng ngẫn về chính trị....Châu là kẻ có tài nhưng không có đức! Cả dân tộc này thất vọng về Châu vì thế học giỏi như Châu để làm gì?



Yêu nước ST.

 Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự cho con người


Thời gian qua, có nhiều quan điểm sai trái, thù địch xuất hiện cho rằng, sự ra đời tư tưởng và chế độ xã hội chủ nghĩa là một sai lầm của lịch sử. Rằng, không cần có chủ nghĩa xã hội thì con người vẫn có ấm no, tự do, hạnh phúc(?!) Đây thực chất là quan điểm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, phủ nhận bước tiến kiên quyết và tất yếu của lịch sử nhân loại. Bởi lẽ, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự cho con người.


Ấm no, tự do, hạnh phúc là mong muốn, khát vọng của con người từ khi con người xuất hiện trên trái đất. Tuy vậy, có thể nói, từ khi xã hội loài người được hình thành cho đến nay, chưa có giai đoạn nào loài người được thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc.


Giai đoạn xã hội chưa thành văn - xã hội nguyên thủy, mặc dù chưa xuất hiện giai cấp, áp bức, bóc lột, con người hoàn toàn bình đẳng nhưng không có ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi lẽ, thời kỳ này, sức sản xuất chưa phát triển nên con người chưa thể hiện được vai trò của mình trong lao động sản xuất, chiếm lĩnh tự nhiên. Năng suất lao động thấp, của cải làm ra chưa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao và phong phú, nên con người chưa thể có no ấm.


Mặt khác, từ khi loài người xuất hiện, con người luôn mong muốn khẳng định định vị trí, vai trò của mình trong sự phát triển thế giới. Tuy vậy, trong thời kỳ đầu của lịch sử, khả năng hiểu biết của con người còn hạn chế, nên con người chưa nắm được các quy luật của tự nhiên. Con người gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Người nguyên thuỷ không nắm được quy luật tự nhiên, chưa hiểu biết về chính mình nên đã nảy sinh tâm lý sợ hãi, sự phụ thuộc, bị chi phối, mất đi vai trò chủ thể, tính chủ động, tích cực của chính mình. Con người thậm chí còn không dám tác động, chinh phục, cải biến tự nhiên. Khi tôn giáo xuất hiện, niềm tin tôn giáo xuất hiện, làm tăng thêm sự phụ thuộc vào những lực lượng xa lạ bên ngoài con người. Nếu hiểu tự do là nhận thức được các quy luật của cái tất yếu thì con người thời kỳ này chưa thể có tự do.


Không có ấm no, không có tự do thì con người không thể có hạnh phúc. Nói cách khác, con người chỉ hạnh phúc nếu có cuộc sống no ấm, được làm những gì mình muốn, thoát khỏi sự phụ thuộc, sự chi phối, khẳng định được vai trò chủ thể của mình trong xã hội.


Khi đồ sắt xuất hiện (khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN), làm cho sức sản xuất phát triển mạnh mẽ. Con người ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong thế giới, chinh phục được giới tự nhiên, tạo ra nhiều của cải để thoả mãn nhu cầu. Tuy nhiên, của cải dư thừa làm xuất hiện chế độ tư hữu. Chế độ tư hữu xuất hiện làm xuất hiện những tập đoàn người có lợi ích đối kháng nhau, do sự khác nhau về địa vị của họ trong hệ thống sản xuất xã hội, khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, và khác nhau về phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng. Những tập đoàn đó là những giai cấp trong xã hội. Đối kháng lợi ích giữa những giai cấp dẫn đến những cuộc đấu tranh giai cấp. Xã hội có giai cấp đầu tiên là xã hội chiếm hữu nô lệ (xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VIII TCN). Ph.Ăngghen viết: “toàn bộ lịch sử đã qua đều là lịch sử đấu tranh giai cấp”.


Sự biến đổi căn bản nhất của xã hội loài người từ khi có giai cấp đó là xuất hiện tình trạng áp bức, nô dịch giữa người với người. Những người có quyền năng không chỉ chiếm đoạt của cải của cộng đồng tạo nên sự bất bình đẳng, bất công xã hội,mà còn nô dịch lao động của người khác. Lúc này, đa số những người bị chiếm đoạt, bị áp bức, nô dịch không thể có ấm no, tự do và hạnh phúc. Những điều này chỉ thuộc về thiểu số người trong xã hội.


Từ xã hội chiếm hữu nô lệ, trải qua chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa, điều này cũng không thay đổi. Ấm no, tự do, hạnh phúc vẫn thuộc về số ít giai cấp thống trị, đó là địa chủ, quý tộc, tư sản. Đa số các giai cấp lao động, bị áp bức vẫn không có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.


Năm 1844, trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844, C.Mác viết: trong xã hội tư bản, “Người công nhân sản xuất ra càng nhiều của cải, sức mạnh và khối lượng sản phẩm của anh ta ngày càng tăng thì anh ta càng nghèo. Người công nhân ngày càng tạo ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thành một hàng hóa càng rẻ mạt. Thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trị thì thế giới con người càng mất giá trị”. 


Trong xã hội tư bản, người lao động mất tự do trong lao động, trong cuộc sống: “Con người (công nhân) chỉ cảm thấy mình hành động tự do trong khi thực hiện những chức năng động vật của mình -ăn, uống, sinh con đẻ cái, nhiều lắm là trong chuyện ở, chuyện trang sức…, - còn trong những chức năng con người của anh ta thì anh ta cảm thấy mình chỉ còn là con vật. Cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người, còn cái có tính người thì biến thành cái vốn có của súc vật”.


Trong tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân ở Anh (1844 - 1845), Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc cuộc cách mạng công nghiệp, nội dung kinh tế và hậu quả xã hội của nó cũng như những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Bằng những chứng cứ sinh động của cuộc sống và những tài liệu phong phú của chính quyền tư sản, Ph.Ăngghen đã vẽ nên bức tranh hiện thực của cuộc đời những người lao động. Ông viết: “Tính tham lam bỉ ổi của giai cấp tư sản đã tạo nên bao nhiêu là bệnh tật! Phụ nữ mất khả năng sinh đẻ, trẻ con tàn tật, đàn ông yếu đuối xanh xao, nhiều người tàn phế, toàn bộ nhiều thế hệ có nguy cơ bị diệt vong, bị kiệt sức và ốm yếu, - mà tất cả chỉ là để nhét cho đầy túi của giai cấp tư sản!”.


C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là chế độ tư hữu hoàn bị nhất. Vì vậy, các giai cấp lao động trong xã hội tư bản bị bóc lột triệt để nhất. Không chỉ áp bức, nô dịch lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã mở rộng sự áp bức, nô dịch ở các nước thuộc địa trên phạm vi quốc tế; bóc lột giữa tư bản và lao động nói chung. “Cùng với giai cấp tư sản, chế độ tư hữu cũng sẽ bị sụp đổ, và thắng lợi của giai cấp công nhân sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự thống trị giai cấp và đẳng cấp”.


Đến thời kỳ chủ nghĩa đế quốc, đa số nhân dân lao động thế giới không có ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, mong muốn có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc tiếp tục là khát vọng của nhân loại. Tuy nhiên,trong thời kỳ này,cuộc đấu tranh của các giai cấp bị áp bức, bóc lột đã giành được những thắng lợi to lớn. Cách mạng tháng Mười năm 1917 đã mở ra thời đại mới - thời đại đấu tranh, giải phóng cho khát vọng của nhân loại, để xây dựng chế độ xã hội - chế độ xã hội hướng đến sự giải phóng và phát triển toàn diện con người, hiện thực hoá khát vọng ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại.


Chế độ xã hội chủ nghĩa, sau là chế độ cộng sản chủ nghĩa xoá bỏ chế độ tư hữu - tức là xoá bỏ sự khác nhau về địa vị của các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất xã hội, xoá bỏ sự khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và xoá bỏ sự khác nhau về sự thụ hương lợi ích xã hội, tạo cơ sở thực hiện sự công bằng, bình đẳng cho mọi người trong xã hội.


Theo lý tưởng cộng sản, mọi đối kháng giai cấp trong xã hội cộng sản sẽ mất đi. Vì vậy, công cụ chuyên chính của các giai cấp thống trị là nhà nước sẽ mất đi, theo đó sẽ không còn áp bức, nô dịch giai cấp. Khi áp bức giai cấp bị xoá bỏ thì tình trạng nô dịch dân tộc sẽ mất đi.


C.Mác và Ph.Ăngghen từng nói: áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc; nên hãy xoá bỏ tình trạng giai cấp này đi áp bức giai cấp khác thì tình trạng dân tộc này đi áp bức giai cấp khác sẽ mất đi. Khi áp bức dân tộc không còn thì dân tộc được tự do. Con người trong xã hội đó được giải phóng thực sự. Mặt khác, khi con người được giải phóng, không bị giới hạn bởi những điều kiện ràng buộc, con người có thể phát huy tối đa mọi khả năng của mình, khẳng định tốt nhất những năng lực bản chất của mình. Khi đó con người có thể tạo ra của cải với năng suất rất cao, đáp ứng mọi nhu cầu của mình. Nghĩa là con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.


Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.


Đến hôm nay, chủ nghĩa xã hội mới đang trong quá trình xây dựng, cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa giành được thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi thế giới. Tuy nhiên, như C.Mác khẳng định: “chủ nghĩa cộng sản là hình thức kiên quyết của tương lai sắp đến”. “Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Bởi đó là con đường duy nhất đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân lao động và cả xã hội loài người./.



 KỶ NIỆM VỚI ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH 


Trong cuộc đời công tác, tôi may mắn nhiều lần được gặp gỡ, làm việc với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.


Năm 1948, hưởng ứng Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tổng Tư lệnh phát động Phong trào thi đua “Gây cơ sở, phá kỷ lục”. Trên địa bàn Liên khu 4, ngành quân giới chủ trương phát động Phong trào thi đua “Phá kỷ lục của Ngô Văn Phú”. Ngô Văn Phú là thợ tiện trẻ của ngành quân giới Liên khu 4, anh có thành tích đạt năng suất tiện măng xông (manchon)-một loại tiện ống ren để nối hai ống lại với nhau-tới 366%.


Chúng tôi đến gặp anh Nguyễn Chí Thanh, khi đó là Bí thư Liên khu ủy Liên khu 4, để xin ý kiến chỉ đạo. Anh nhắc: “Phải khảo sát kỹ trước khi phát động, vì lý do gì mà Ngô Văn Phú có được sự tăng năng suất như vậy. Nên gặp công nhân tiện trực tiếp sản xuất để bàn bạc về ngày phát động, cách thức tiến hành, quyết tâm thi đua”. Và anh Thanh yêu cầu: “Phong trào thi đua phá kỷ lục của Ngô Văn Phú phải là quả bộc phá, phá tan mọi lô cốt bảo thủ, khơi dòng cho năng suất phát triển!”. Từ sự chỉ đạo của Bí thư Nguyễn Chí Thanh, Phong trào thi đua “Phá kỷ lục của Ngô Văn Phú” trong ngành quân giới Liên khu 4 phát triển mạnh, cuốn hút nhiều tầng lớp công nhân lao động tham gia, tạo được năng suất cao trong sản xuất quốc phòng.


Năm 1953, trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, anh Thanh đến dự khai mạc lớp chỉnh quân của Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức ở Việt Bắc. Tham gia lớp học này còn có chị Nguyễn Thị Cúc (phu nhân Đại tướng Nguyễn Chí Thanh); Võ Cương, trợ lý kiêm bác sĩ của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, ra Việt Bắc công tác và hai chiến sĩ quốc tế, trong đó có một chiến sĩ người Đức, một chiến sĩ người Nhật Bản có tên là Nguyễn Chí Hùng, lấy họ của anh Nguyễn Chí Thanh. Tôi cũng là học viên tham dự khóa học này. Giữa giờ giảng, anh Thanh dừng lại và gọi đồng chí Lương Ngọc Trác, nhạc sĩ, cũng là học viên của lớp, đề nghị “cầm càng cho lớp hát một bài tạo khí thế để rồi học tiếp”. Việc ấy đã giúp chúng tôi học thêm được phương pháp tạo khí thế, sự hứng khởi cho người học, người nghe mỗi khi chúng tôi có dịp đi thuyết trình một vấn đề gì đó.


Năm 1963, tôi và một số cán bộ ngành hậu cần Quân đội được đi nghỉ dưỡng ở Đồ Sơn. Ở đoàn an dưỡng mấy hôm, chúng tôi được chỉ huy đoàn thông báo sau khi ăn sáng xong, làm công tác chuẩn bị để đón Đại tướng Nguyễn Chí Thanh về nói chuyện tại đơn vị. Đúng giờ, anh Thanh đến, mặc quân phục kiểu đại cán, đeo quân hàm Đại tướng ở ve áo. Nói chuyện với cán bộ, nhân viên xong, anh lên xe về Hải Phòng tiếp tục công việc. Đây là lần cuối cùng tôi được gặp và nghe Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói chuyện. Ngày 6-7-1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đột ngột từ trần. Trong lễ tang Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, chúng tôi được cấp quân phục, mũ mềm thống nhất để vào hội trường tiễn biệt anh./.



 TỈNH TÁO TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU KÍCH ĐỘNG VỀ TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG HIỆN NAY


     Thời gian gần đây, trước những phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, nhất là vấn đề Biển đông, đã xuất hện những tâm trạng lo lắng… Trong khi đa số các ý kiến trong và ngoài nước ủng hộ phương thức đấu tranh hòa bình, đúng đắn của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, thì một số các phần tử cực đoan và một số người dân do bị kích động nên có những tư tưởng, phát ngôn mang tính phê phán, thậm chí bác bỏ đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay. Điển hình là ngày 07/8/2023, trên trang blog BBC Tiếng Việt tán phát bài "“Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào?" nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng và chủ trương giải quyết tranh chấp để bảo vệ chủ quyền biển, đảo; kích động, gây chia rẽ mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Philippies; Việt Nam - Trung Quốc, vậy đằng sau những câu hỏi nêu trên là gì?

     Trước hết khẳng định: Luận điệu “Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào?" là sự kích động nằm trong âm mưu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và Philippines. Hai nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Philippines được thiết lập ngoại giao vào ngày 12/7/1976 sau khi kết thúc chiến tranh lạnh. Cùng với việc mở rộng chính sách đối ngoại của Việt Nam, quan hệ giữa hai nước đã ấm lên và phát triển không ngừng trên nhiều lĩnh vực và trước thềm hội nghị APEC 2015 ở Manila, Chính phủ hai nước đã ký kết thoả thuận nâng cấp mối quan hệ lên tầm đối tác chiến lược. Đối với Trung Quốc, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, núi liền núi, sông liền sông, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa và thể chế chính trị, tình cảm hữu nghị giữa hai nước đã được xây dựng qua nhiều thế hệ; đến nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác bình đẳng đôi bên cùng có lợi. Cùng với đó, những năm gần đây, hai nước đã có những đàm phán, ký kết và thỏa thuận là kiên trì giải quyết hòa bình vấn đề Biển đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển đông; 

     Thực tế cũng cho thấy, mặc dù Trung Quốc đã từng có những động thái xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nhưng Đảng, Nhà nước ta đã kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; điều này đã và đang được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ. Ngày 06/4/2023, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi phóng viên đề nghị cho biết quan điểm của Việt Nam về việc giải quyết các bất đồng trong vấn đề Biển Đông, Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: Là quốc gia luôn kiên định với lập trường giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, Việt Nam ủng hộ việc các nước có thể cùng nhau hợp tác giải quyết bất đồng trong vấn đề Biển Đông trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các nước được xác định bởi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, đóng góp tích cực, thiết thực vào việc duy trì hoà bình, ổn định, trật tự pháp lý trên biển, an toàn và tự do hàng hải và hàng không, thúc đẩy phát triển bền vững biển và đại dương. Với chủ trương trên, Việt Nam luôn sẵn sàng cùng các quốc gia liên quan đàm phán, giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ do lịch sử để lại, đóng góp tích cực cho quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước, cũng như hoà bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

     Như vậy, luận điệu “Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào?" chính là sự khiêu khích, bởi quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề Biển Đông đã rõ ràng, chứng tỏ họ không có tinh thần xây dựng đất nước, mà thực chất là đang kích động bạo lực, kích động chiến tranh và làm xấu đi quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước láng giềng.

     Đề nghị mọi người hết sức cảnh giác, nhận rõ đây là âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đồng thời, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; phát huy tinh thần đoàn kết, truyền thống dân tộc, yêu chuộng hòa bình, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng bằng tất cả sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, bằng tình cảm yêu nước thiết tha và trí tuệ thông minh, sáng suốt, tỉnh táo của chính bản thân mình, không nghe theo sự kích động của các phần tử xấu, có như vậy mới góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

     


HỌC BÁC - THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, KHÔNG XA HOA LÃNG PHÍ!

     Trong những lần sinh nhật của mình, Bác Hồ luôn từ chối những lễ nghi phiền phức, không muốn tốn kém thời giờ, tiền bạc của Nhân dân, điều đó thể hiện đức tính khiêm tốn, giản dị, cần kiệm, liêm chính, những phẩm chất đáng quý của người công bộc, “đầy tớ” của Nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Bác Hồ trở nên cao đẹp và sáng ngời trong lòng nhân dân Việt Nam và bè bạn quốc tế.
“Hôm nay đồng bào cho tôi nhiều hoa bánh. Những thứ đó đáng giá cả. Nhưng xin đồng bào nghĩ đến các đồng bào nghèo khó, hơn là hao phí cho tôi". Chỉ riêng những dòng cảm xúc chân tình, giản dị mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với đồng bào nhân dịp kỷ niệm ngày sinh nhật Người (ngày 19-5-1946) cũng đã để lại cho chúng ta bài học sâu sắc về sự khiêm tốn, tiết kiệm và tinh thần yêu nước thương dân của vị lãnh tụ kính yêu. 
Những năm sau đó, vì không muốn tốn kém thời giờ, tiền bạc của Nhân dân trong lúc đời sống và cuộc chiến đấu của Nhân dân còn khó khăn, gian khổ… Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình. Những lẵng hoa tươi đẹp, những món quà các nơi gửi đến, Bác đều dặn chuyển tặng cho các đơn vị bộ đội, công an, thanh niên xung phong hay các cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua... Vào những dịp kỷ niệm sinh nhật, Bác tranh thủ đi thăm các nơi, Bác muốn dành thời gian để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân, để chia sẻ, cổ vũ các ngành, các đoàn thể, các địa phương và từng cá nhân hăng say lao động, lập thành tích thi đua trong chiến đấu, lao động, sản xuất… Đó không chỉ là tác phong sâu sát mà còn là thái độ “yêu dân, kính dân”, “gắn bó máu thịt với Nhân dân”. Và chắt lọc từ những câu chuyện tưởng là nhỏ ấy, chúng ta thấy được bao nhiêu điều lớn lao để suy nghĩ, để học tập và làm theo Bác.
Trong việc cưới, việc tang..., chúng ta không nên tổ chức linh đình làm tốn kém thời gian, công sức, tiền bạc của người thân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp..., có như vậy việc học tập và làm theo Bác về thực hành tiết kiệm, không xa hoa, lãng phí mới thực sự đi vào cuộc sống./.
Yêu nước ST.

NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG TRÊN MÔI TRƯỜNG MẠNG XÃ HỘI!

     Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong bối cảnh hiện nay là vô cùng khó khăn và phức tạp, bởi sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngày càng diễn ra tinh vi, khó lường, khó nhận diện hơn. Đặc biệt, với sự bùng nổ của cách mạng 4.0, sự phát triển của mạng xã hội với số lượng người dùng khổng lồ đã trở thành công cụ hữu ích, được các đối tượng thù địch sử dụng triệt để nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, chống phá Đảng và Nhà nước, cản trở việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây bất ổn chính trị - xã hội, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta.
Có thể thấy rằng, sự tấn công, chống phá của các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ dừng lại, và hoạt động của chúng được tiến hành ngày một tinh vi, xảo quyệt, có tổ chức và mục đích rõ ràng. Trong khi đó, “việc dự báo, nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và định hướng dư luận xã hội có lúc chưa kịp thời. Kết quả thực hiện một số chủ trương của Đảng về quản lý báo chí, truyền thông, xuất bản, in-tơ-nét, mạng xã hội chưa đáp ứng yêu cầu”. Cùng với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chạy theo lối sống thực dụng. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là một nhiệm vụ cấp bách để phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của mạng xã hội đến đời sống tinh thần của nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay. 
Xác định rõ vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên môi trường mạng xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm tăng cường năng lực quản trị an ninh mạng, trong đó có các nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25-10-2013 của BCH Trung ương Đảng khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị khoá XII về Chiến lược an ninh mạng quốc gia; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28-9-2018 của Bộ Chính trị khoá XII về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới… Trong những năm tiếp theo, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, bên cạnh những thuận lợi sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó lường, làm xuất hiện những khó khăn, thách thức mới. Các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng những khó khăn đó để đẩy mạnh quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam. 
Để phát huy thế mạnh cũng như ngăn ngừa, khắc phục những mặt tiêu cực của mạng xã hội, cần phải nhìn nhận đúng về mạng xã hội ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực, nhận diện và quản lý những tác nhân gây ảnh hưởng để có phương thức ứng xử phù hợp với tinh thần chủ động, tích cực, linh hoạt, an toàn, hiệu quả. Chú trọng tăng cường các biện pháp tuyên truyền nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức, trách nhiệm khi tham gia các nền tảng mạng xã hội cho người dùng. Tiếp tục thực hiện tốt Luật An ninh mạng năm 2018, Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam (của Hội Nhà báo Việt Nam), Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội (theo Quyết định số 874/QĐ-BTTTT, ngày 17-6-2021, của Bộ Thông tin và Truyền thông). Đặc biệt, giáo dục định hướng giá trị để người dân khi sử dụng mạng xã hội, trong đó hết sức quan tâm đến lực lượng thanh, thiếu niên - là lực lượng tích cực nhất trên các mạng xã hội có ý thức cảnh giác, chủ động kiểm chứng thông tin để nhận diện đúng - sai, nâng cao “sức đề kháng” để có thể bảo vệ những giá trị của bản thân, của cộng đồng và dân tộc trước những thông tin không chính xác, dung tục, phản cảm, thông tin có ý đồ xấu.
Kịp thời xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng mạng xã hội phát tán thông tin sai lệch, có nội dung xấu, độc, sai sự thật về Đảng, Nhà nước và chế độ. Có biện pháp ngăn chặn, triệt phá, vô hiệu hóa các thông tin xấu, độc, sai sự thật trên các nền tảng mạng xã hội.
Mở các diễn đàn, hội, nhóm, tạo ra lực lượng bảo vệ đông đảo chiếm ưu thế trên không gian mạng. Xây dựng hình ảnh, video clip về các nội dung tích cực để giành thế chủ động, kịp thời, hiệu quả. Không để chúng lợi dụng mạng xã hội tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia mạng xã hội phải giữ vai trò là lực lượng nòng cốt đăng tải, chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực và xem đây là giải pháp thường xuyên, lâu dài./.
Theo: Tạp chí Xây dựng Đảng.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUY ĐỊNH VỀ XIN LỖI VÀ PHỤC HỒI QUYỀN LỢI CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG, ĐẢNG VIÊN BỊ KỶ LUẬT OAN!

     Ngày 18-8-2023, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trương Thị Mai đã ký ban hành Quy định số 117-QĐ/TW về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.

Quy định gồm 4 chương; quy định về nguyên tắc, trách nhiệm, trình tự, thủ tục xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Sau đây là nội dung chi tiết của Quy định này:

Chương I: QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
1. Phạm vi điều chỉnh
Quy định này quy định về nguyên tắc, trách nhiệm, trình tự, thủ tục xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
2. Đối tượng áp dụng
- Tổ chức đảng bị kỷ luật oan (bao gồm cả tổ chức đảng đã giải tán, giải thể, kết thúc hoạt động, thay đổi do chuyển giao, chia tách, sáp nhập về tổ chức).
- Đảng viên bị kỷ luật oan (bao gồm cả đảng viên không còn sinh hoạt đảng, đã qua đời, mất năng lực hành vi dân sự, toà án tuyên bố mất tích).
- Tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan (bao gồm cả tổ chức đảng giải quyết khiếu nại kỷ luật).
- Tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan (cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra có thẩm quyền giải quyết đối với quyết định của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan).
- Các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
1. Kỷ luật oan là việc tổ chức đảng, đảng viên không vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhưng tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận có vi phạm và thi hành kỷ luật.
2. Xin lỗi tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan là việc tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan tổ chức xin lỗi và cải chính công khai đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
3. Phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan là việc tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền phục hồi quyền lợi chính đáng, hợp pháp của tổ chức đảng, đảng viên.
Điều 3. Nguyên tắc
1. Thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải kịp thời, công khai, khách quan. Tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan chịu trách nhiệm tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
2. Chỉ thực hiện xin lỗi, phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan một lần khi có kết luận hoặc quyết định của cấp có thẩm quyền xác định kỷ luật oan.
3. Tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan phải chủ động, kịp thời báo cáo ban thường vụ cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp; phối hợp với tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên; quyết định bãi bỏ, thu hồi quyết định kỷ luật oan; xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên tham mưu, quyết định kỷ luật oan.
4. Trường hợp tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan đã giải tán, giải thể, kết thúc hoạt động, chuyển giao, chia tách, sáp nhập thì tổ chức đảng tiếp nhận hoặc tổ chức đảng cấp trên trực tiếp chịu trách nhiệm xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
5. Đảng viên bị kỷ luật oan đã qua đời, toà án tuyên bố mất tích, mất năng lực hành vi dân sự thì tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan tổ chức xin lỗi đối với thân nhân đảng viên. Khi toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc tuyên bố mất tích thì tổ chức đảng kỷ luật oan xem xét phục hồi quyền lợi cho đảng viên theo quy định.
6. Việc bồi thường về vật chất và các lợi ích hợp pháp cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan thực hiện theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 4. Căn cứ để xin lỗi và phục hồi quyền lợi
1. Kết luận hoặc quyết định của tổ chức đảng có thẩm quyền xác định tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
2. Kết luận, quyết định, bản án của cơ quan pháp luật xác định đảng viên bị điều tra, truy tố, xét xử oan dẫn đến tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan.
Điều 5. Trường hợp không thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi
Đảng viên bị kỷ luật oan không được xin lỗi và phục hồi quyền lợi trong các trường hợp:
1. Sau khi bị kỷ luật oan đã không giữ được tư cách, phẩm chất, tiêu chuẩn đảng viên hoặc vi phạm bị kỷ luật.
2. Nhận lỗi thay cho người khác dẫn đến bị kỷ luật oan.
3. Từ chối việc xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
4. Tự ý bỏ sinh hoạt đảng.
5. Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và trách nhiệm của đảng viên theo quy định tại Điều 8 Quy định này.

Chương II: QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN
Điều 6. Trách nhiệm của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan
1. Cung cấp kịp thời, đầy đủ, trung thực thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến kỷ luật oan theo yêu cầu của tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan.
2. Xây dựng kế hoạch, tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan; phối hợp với các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có liên quan phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
3. Quyết định theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định bãi bỏ hoặc thu hồi quyết định kỷ luật oan, phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
4. Quyết định theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền kiểm điểm, xem xét trách nhiệm tổ chức, cá nhân tham mưu, quyết định kỷ luật oan.
5. Khi nhận được kết luận hoặc quyết định của tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan phải tổ chức hội nghị xin lỗi và phục hồi quyền lợi cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
Điều 7. Trách nhiệm của tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan
1. Xem xét, giải quyết theo thẩm quyền và ban hành kết luận hoặc quyết định xác định kỷ luật oan, gửi tổ chức, cá nhân liên quan.
2. Quyết định hoặc chỉ đạo tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan bãi bỏ quyết định kỷ luật oan và tổ chức xin lỗi, phục hồi quyền lợi cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
3. Quyết định hoặc đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền phục hồi quyền, lợi ích hợp pháp đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
4. Chỉ đạo kiểm điểm, xem xét trách nhiệm tổ chức, cá nhân tham mưu, quyết định kỷ luật oan.
5. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện kết luận, quyết định giải quyết, xác định kỷ luật oan; việc xin lỗi, phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
Điều 8. Quyền và trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan
1. Được yêu cầu (bằng văn bản) cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, kết luận, quyết định bị kỷ luật oan hướng dẫn việc xin lỗi và phục hồi quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Cung cấp kịp thời, đầy đủ, trung thực thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc thi hành kỷ luật oan theo yêu cầu của tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết, xác định kỷ luật oan.
3. Phối hợp thực hiện các trình tự, thủ tục có liên quan đến việc giải quyết kỷ luật oan.

Chương III: TỔ CHỨC XIN LỖI VÀ PHỤC HỒI QUYỀN LỢI
Điều 9. Thời hạn
1. Trong thời hạn 90 ngày, tính từ ngày cấp có thẩm quyền ban hành kết luận hoặc quyết định xác định tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan thì tổ chức đảng đã kỷ luật oan, các tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
2. Trường hợp bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh…) thì thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
Điều 10. Trình tự, thủ tục
1. Ngay sau khi ban hành kết luận, quyết định xác định việc kỷ luật oan thì tổ chức đảng phải gửi văn bản đến tổ chức, cá nhân liên quan theo quy định.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kết luận, quyết định của cấp có thẩm quyền thì tổ chức, đảng viên bị kỷ luật oan gửi văn bản đề nghị xin lỗi, phục hồi quyền lợi đến tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan.
3. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được kết luận, quyết định về việc đã kỷ luật oan thì tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan có trách nhiệm:
- Thông báo bằng văn bản đến tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan (hoặc thân nhân đảng viên) về việc tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
- Thu hồi, bãi bỏ quyết định kỷ luật oan; đồng thời gửi đến cơ quan, tổ chức nơi đảng viên đang công tác, sinh hoạt để thu hồi, xoá bỏ quyết định kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể đối với đảng viên (nếu có).
- Phục hồi quyền lợi hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền phục hồi quyền lợi của tổ chức, đảng viên bị kỷ luật oan.
4. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện phục hồi quyền lợi của tổ chức, đảng viên theo quy định.
Điều 11. Hình thức xin lỗi
1. Tổ chức hội nghị công khai xin lỗi tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
1.1. Chủ trì tổ chức hội nghị:
- Đại diện tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan.
- Tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan hoặc tổ chức đảng tiếp nhận chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hết nhiệm kỳ hoạt động của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan.
1.2. Nơi tổ chức hội nghị:
- Đối với tổ chức đảng bị kỷ luật oan: Tổ chức đảng bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì việc xin lỗi thực hiện tại tổ chức đảng đó; tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán thì thực hiện tại tổ chức đảng trực tiếp quản lý tổ chức đảng đó trước khi bị giải tán; tổ chức đảng đã kết thúc hoạt động, giải thể, chuyển giao, chia tách, sáp nhập thì thực hiện tại tổ chức đảng kế thừa, tiếp nhận tổ chức đảng đó.
- Đối với đảng viên bị kỷ luật oan: Đảng viên không giữ chức vụ thì việc xin lỗi thực hiện tại chi bộ đã hoặc đang quản lý đảng viên hoặc nơi cư trú; đảng viên là cấp uỷ viên, giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì thực hiện tại cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ trực tiếp quản lý đảng viên hoặc tổ chức đảng nơi đảng viên đó đã là thành viên; đảng viên đã qua đời, mất năng lực hành vi dân sự, toà án tuyên bố mất tích thì thực hiện tại tổ chức đảng đã hoặc đang quản lý đảng viên; đảng viên bị kỷ luật đã nghỉ việc, nghỉ hưu hoặc chuyển công tác, chuyển sinh hoạt đảng thì thực hiện tại tổ chức đảng đang quản lý đảng viên.
1.3. Thành phần hội nghị (tổ chức đảng tổ chức hội nghị xin lỗi căn cứ từng trường hợp quyết định) gồm:
- Đại diện tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan.
- Đại diện tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan hoặc tổ chức đảng được uỷ quyền
- Đại diện tổ chức đảng, đảng viên (hoặc thân nhân đảng viên) bị kỷ luật oan. Nếu tổ chức đảng bị kỷ luật oan đã giải tán, giải thể, kết thúc hoạt động, chuyển giao, chia tách, sáp nhập thì mời đại diện tổ chức đảng kế thừa, tiếp nhận tổ chức đảng đó.
- Đại diện tổ chức đảng đang quản lý đảng viên bị kỷ luật oan trong trường hợp đảng viên đã chuyển sinh hoạt đảng.
- Đại diện lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đảng viên bị kỷ luật oan và đang công tác; đại diện chi bộ nơi đảng viên cư trú.
1.4. Nội dung hội nghị:
- Công bố quyết định bãi bỏ quyết định kỷ luật oan; quyết định khôi phục hoạt động đối với tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán; quyết định phục hồi đảng tịch đối với đảng viên bị kỷ luật khai trừ hoặc bị xoá tên đảng viên do bị kỷ luật oan; quyết định phục hồi vị trí việc làm, chức danh, chức vụ lãnh đạo và các quyền lợi liên quan (nếu có).
- Chủ thể tổ chức xin lỗi ghi biên bản hội nghị và gửi báo cáo đến tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày kết thúc hội nghị.
2. Công bố công khai việc xin lỗi:
Tổ chức đã quyết định kỷ luật oan công bố nội dung xin lỗi gửi các tổ chức đảng trực thuộc; đăng công khai trên báo chí của địa phương, trang thông tin điện tử (nếu có) của cấp uỷ cơ quan, đơn vị nơi tổ chức đảng, đảng viên đã bị kỷ luật oan, nơi đang cư trú hoặc làm việc.
Điều 12. Phục hồi quyền lợi
1. Đối với tổ chức đảng:
- Tổ chức đảng bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo xem xét lại việc đánh giá phân loại hằng năm và nhiệm kỳ; xem xét việc xếp loại danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng định kỳ, đột xuất (nếu có).
- Tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán thì tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo việc thành lập lại, chỉ định nhân sự cấp uỷ lâm thời, chỉ đạo việc tổ chức đại hội cấp uỷ theo quy định (nếu có đủ điều kiện).
- Tổ chức đảng đã kết thúc hoạt động, giải thể, chuyển giao, chia tách, sáp nhập thì tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo việc xem xét, đánh giá phân loại hằng năm và nhiệm kỳ; xem xét lại xếp loại danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng định kỳ, đột xuất (nếu có) và thông báo cho tổ chức đảng kế thừa, tiếp nhận tổ chức đảng đó.
2. Đối với đảng viên:
- Đảng viên bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì được phục hồi lại các quyền lợi đã bị ảnh hưởng theo quy định (nhận xét, đánh giá, điều kiện quy hoạch, bổ nhiệm, nâng lương, khen thưởng…). Đảng viên bị kỷ luật cách chức hoặc cho thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm (nếu có)... thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ tiêu chuẩn, điều kiện, tình hình thực tế của cơ quan, địa phương, đơn vị để xem xét phục hồi chức vụ hoặc bố trí vào vị trí công tác, chức vụ tương đương.
- Đảng viên bị kỷ luật khai trừ hoặc đã ra khỏi Đảng thì tổ chức đảng có thẩm quyền phục hồi đảng tịch, phục hồi quyền đảng viên hoặc công nhận là đảng viên (nếu cá nhân có đơn). Tuổi đảng được tính liên tục trong cả thời gian bị kỷ luật oan (trường hợp bị kỷ luật khai trừ). Cơ quan, đơn vị căn cứ tình hình thực tế để bố trí vị trí công tác phù hợp, nếu không đủ tiêu chuẩn, điều kiện để bố trí công tác thì được nghỉ công tác và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định.
- Tổ chức đảng, cơ quan có thẩm quyền giải quyết, phục hồi quyền lợi hợp pháp cho đảng viên trong việc cử đi học tập, đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung quy hoạch, giới thiệu ứng cử, đề cử, bổ nhiệm, tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ, chức danh và phụ cấp lương (nếu có); phong, xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu thi đua, khen thưởng theo quy định.
3. Tổ chức đảng có thẩm quyền kịp thời chỉ đạo việc cải chính các thông tin kỷ luật trong hồ sơ, lý lịch của đảng viên.
Điều 13. Kinh phí thực hiện
Kinh phí tổ chức thực hiện xin lỗi tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan sử dụng từ nguồn kinh phí hoạt động của cấp uỷ, tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan.

Chương IV: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 14. Tổ chức thực hiện
- Các cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nghiên cứu, quán triệt và thực hiện nghiêm Quy định này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc và cần bổ sung, sửa đổi thì báo cáo Bộ Chính trị (qua Ủy ban Kiểm tra Trung ương) xem xét, quyết định.
- Ủy ban Kiểm tra Trung ương theo dõi, kiểm tra và hướng dẫn việc thực hiện Quy định; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Điều 15. Hiệu lực thi hành
Quy định này có hiệu lực từ ngày ký và được phổ biến đến chi bộ./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ!

Ngày này năm xưa: ngày 21 tháng 8!
“Chi bộ - sợi dây liên hệ giữa Đảng và quần chúng”.

Cách đây 103 năm, ngày 21-8-1920, báo cáo của mật thám Pháp ghi nhận Nguyễn Ái Quốc bị ốm phải vào Bệnh viện Cochin ở Paris điều trị.

Tháng 8-1923, báo Le Paria (Người cùng khổ) đăng bài “Ách áp bức không từ một chủng tộc nào” nhân sự kiện một phái viên của nước Nga xô viết bị bọn phát xít á.m s.át tại Thụy Sĩ, và việc một công nhân gốc Tuynidi ở Pháp bị cảnh sát g.iết. Tác giả bài báo lên án: “Tất cả những liệt sĩ của giai cấp công nhân... đều là những nạn nhân của một kẻ g.iết người: chủ nghĩa tư bản quốc tế. Và hương hồn của những người bị hy sinh này luôn tìm thấy nguồn an ủi cao cả nhất ở lòng tin vào sự nghiệp giải phóng những anh em của họ bị áp bức, không phân biệt chủng tộc hay xứ sở. Sau những bài học đau đớn này, những người bị áp bức ở tất cả các nước hẳn phải hiểu đâu là những người anh em thật sự và đâu là kẻ thù của họ”.

Ngày 21-8-1941, trên báo Việt Nam Độc lập, Nguyễn Ái Quốc vẽ và viết lời cổ động cho tờ báo: “Việt Nam Độc lập thổi kèn loa/ Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già/ Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta”.

Ngày 21-8-1942, cũng trên báo Việt Nam Độc lập đăng bài thơ tuyên truyền đường lối cách mạng của Việt Minh nhằm mục tiêu đoàn kết lực lượng toàn dân: “...Nước nhà giành lại nhờ tài sắt/ Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng/ Tổ chức tuyên truyền càng rộng rãi/ Tức là cách mệnh chóng thành công”.

Ngày 21-8-1946, trước nguy cơ tan vỡ của Hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi công hàm cho Chính Phủ Pháp đề nghị 2 bên cần trở lại tiếp tục đàm phán, nhưng phía Pháp trả lời: “Những sự khác nhau quá sâu xa giữa hai quan điểm về những vấn đề cơ bản làm cho Hội nghị không họp được, vì có họp cũng không đi đến kết quả nào”. Tuy vậy, cùng ngày, Bác vẫn tiếp tục gặp gỡ các chính khách như Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Marius Moutet, cựu Toàn quyền Đông Dương A.Varenne, ông Jean Santeny và trả lời báo Libération (Giải phóng)... nhằm cứu vãn tình hình.

Ngày 21-8-1952, trong bài báo “Kế hoạch gia đình” đăng trên báo Nhân Dân, Bác đề cập đến phong trào tăng gia sản xuất tiết kiệm đang được phát động, trong đó có việc hướng dẫn nhân dân xây dựng “kế hoạch gia đình”. Bài báo phê phán cách làm quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế, để đi đến kết luận: “Nói tóm lại, kế hoạch gia đình là một điều rất hay, rất tốt, ích nước lợi dân. Nhưng cán bộ phải biết chuẩn bị, giải thích, đánh thông tư tưởng giúp đồng bào tự giác tự động làm, tránh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, biết theo dõi, đôn đốc thì mới chắc thành công”.

Ngày 21-8-1953, trong bài báo có nhan đề “Chi bộ” đăng trên báo Cứu Quốc, Bác nêu rõ vai trò chi bộ “là sợi dây liên hệ giữa đảng với quần chúng..., luôn luôn tuyên truyền và tổ chức cho nhân dân hiểu và thực hiện chính sách của Đảng, luôn luôn chú ý đến tư tưởng và nhu cầu của nhân dân, luôn luôn quan tâm đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của nhân dân...”.

Ngày 21-8-1969, Bác ký sắc lệnh số 12/LCT ân xá và giảm án cho những phạm nhân thật thà hối cải, tích cực cải tạo nhân kỷ niệm lần thứ 24 Quốc khánh. Đây là văn bản pháp quy cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.
Theo sách: "Hành Trình Theo Chân Bác"!
Yêu nước ST.

ĐỜI ĐỜI TỔ QUỐC GHI CÔNG

Kính cẩn cúi đầu trước các anh

Những người con hoá thân  thành bất tử

Trong lịch sử nước nhà còn lưu giữ

Mãi trường tồn một quá khứ liệt oanh.


Biết bao người con trong thân áo mong manh

Khi ngã xuống máu anh hoà với đất

Mẹ mong con, Vợ gọi chồng khóc ngất

Hàng triệu mái nhà tan tác rất đớn đau...


Chiến tranh giờ đã lùi lại phía sau

Đất nước bình yên rực tươi màu cờ đỏ

Chẳng ai quên những nỗi đau còn đó

Luôn nhắc lòng xứng tỏ những hy sinh.


Tri ân máu xương đã đổi lấy hoà bình

Ghi sâu mãi những dáng hình bất tử

Cuộc chiến kia có thể thành quá khứ

Nỗi đau thì tô sáng chữ vinh quang! 


Thế hệ các anh đã sống vẻ vang

Những hy sinh cho vững vàng độc lập

Mỗi giọt máu từng rơi vào đất thấm

Đều rực màu tô đỏ sắc cờ bay...


Những thế hệ hưởng bình yên hôm nay

Nguyện gìn giữ đẹp trang dày lịch sử

Vươn mơ ước nhưng không quên quá khứ 

Quyết đồng lòng xây Tổ quốc khang trang..


Tháng 7 về khói hương giữa mênh mang

Nén trầm thơm quện lòng càng nhắc nhớ 

Hồn đất Mẹ vọng về như tiếng thở

Đất nước đời đời ghi lại ở trong tim.....


(Thơ sưu tầm).

# Trường Tồn 

BẮT ĐỐI TƯỢNG PHẢN ĐỘNG, SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC


          ✍ Nguyễn Hoàng Nam (SN 1982, trú tại xã Vĩnh Châu, TP Châu Đốc), bị bắt về hành vi “Phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.


         ✍ Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Hoàng Nam, lực lượng làm nhiệm vụ phát hiện thu giữ 7 điện thoại di động, 2 USB, 1 máy tính xách tay, hơn 300 trang tài liệu và 10 video clip có nội dung tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước và nhiều đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.


         ✍ Năm 2021, sau khi chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương, Nam không chịu làm ăn lương thiện mà tiếp tục lợi dụng không gian mạng, tạo nhiều tài khoản mạng xã hội để đăng tải, tán phát nhiều tài liệu, hình ảnh, video clip, thậm chí livestream để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương; gây chia rẽ, phá hoại chính sách đoàn kết tôn giáo, dân tộc; xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước...


        ⛔ Theo kết quả điều tra, Nam là đối tượng phản động, lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Mặc dù đã được các cấp chính quyền và lực lượng Công an tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhiều lần nhưng Nam không từ bỏ mà lại tiếp tục chống phá ngày càng quyết liệt.

#AKC

St# Trường Tồn