Thứ Năm, 28 tháng 9, 2023

Cảnh giác với những thủ đoạn xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam

 

Trong chiến lược chống phá Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tập trung vào chống phá Đảng, chế độ và hệ tư tưởng. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí đang là một mục tiêu xuyên tạc, bôi nhọ của chúng.

Gần đây, nhiều hãng thông tấn, báo chí nước ngoài và không ít trang web trong và ngoài nước rêu rao rằng: ở Việt Nam “Không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”; “Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do internet”; Hà Nội “bắt bớ nhiều blogger”... Điển hình như: Báo cáo nhân quyền thế giới hàng năm của Anh, Úc; Nghị quyết của Nghị viện EU; Báo cáo thường niên, thông cáo báo chí của các tổ chức quốc tế; Báo cáo của tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), của tổ chức Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ)... Trong báo cáo năm nay, mặc dù không thể không thừa nhận Việt Nam đã có “tiến bộ về dân chủ, nhân quyền”, nhưng vẫn xuyên tạc tình hình, vu cáo Nhà nước vi phạm “tự do báo chí”, “đàn áp, bắt giữ trái phép các blogger”... Họ cố tình đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tự do báo chí để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền hòng hạ thấp uy tín nước ta trên trường quốc tế.

Những thủ đoạn, mưu đồ chống phá của chúng, trước hết là xuyên tạc khái niệm tự do báo chí; viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về tự do báo chí, nhưng cố tình lờ đi những quy định và điều khoản nghĩa vụ kèm theo rồi tán phát qua internet, mạng xã hội làm cho nhiều người hiểu lầm rằng “tự do báo chí” là một quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào. Bằng nhiều hình thức khác nhau, các đối tượng còn tác động đến Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên,... với nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Một số phần tử còn tác động vào các chính khách cực đoan trong Quốc hội Mỹ, Anh, Canađa,… tổ chức điều trần, hội thảo, xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam nhằm tác động Liên hợp quốc ra nghị quyết bất lợi đối với nước ta. Trên lĩnh vực báo chí, một số đối tượng còn thành lập các câu lạc bộ, các diễn đàn trên mạng dưới chiêu bài “tự do ngôn luận, tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Luật Báo chí của Việt Nam (2016) quy định: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; có nhiệm vụ, quyền hạn: tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân. Luật báo chí cũng có những quy định cấm báo chí không được đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền, lực lượng vũ trang; gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế; đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, v.v.

Cho đến nay, hành lang pháp luật về báo chí của Nhà nước ta đã đầy đủ với tư duy mới về quyền con người, bảo đảm đầy đủ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, bao gồm cả tự do internet, mạng xã hội./.

Thứ Tư, 27 tháng 9, 2023

Hồi ức lính tò te: Hai lần ăn sắn luộc

Lần 1 : Ở Lưu Quang Làng lúc đó là tân binh. Cả nhóm tôi đều người cùng xã cùng tiểu đội ngủ cùng một nhà. 

 Chủ nhà là anh Trịnh Hồng Thiện người Sán Dìu bộ đội phục viên. 


 Chủ nhật, cả nhóm kéo nhau sang xóm khác mua sắn để dằn bụng chống móm chờ bữa trưa. Chị chủ trẻ có 2 con một trai một gái rồi mà vẫn làm mòn con mắt cánh lính chúng tôi lắm. Chị đi vào góc nhà lui cui chọn sắn ngon bán cho một rổ. Bóc vỏ rửa sắn rồi 

chị luộc ngay cho cánh háu ăn, mau đói một nồi to cời cả vung. Sắn bở tung, ăn nghẹn cả họng. Biết cánh tôi ăn sắn với gì không. Để tăng số lượng sắn vào bụng phải có thứ kích thích vị giác chứ. Vậy là ko hề e ngại, chúng tôi xin chị tý nước mắm pha với dấm dầm tỏi ớt chỉ thiên cay xè chấm cho ngon miệng. Chỉ có vậy mà mấy tay lính trẻ cũng đẩy hết gần một nồi to no phưỡn bụng. Ăn xong, cả nhóm lang thang lên cái đồi đầy cây xanh kề sau lưng xóm chơi. Có quê leo lên cây cao ngắm bốn xung quanh rồi thích thú hú hét như con trẻ. Thông cảm cho, dân đồng bãi sông cái - Hồng Hà lần đầu tiên biết núi đồi, biết dãy Tam Đảo mà lỵ Trên cao nhìn dãy núi cao chạy dài lởm chởm như răng cưa khổng lồ không lồ, ba ngọn nhọn xanh đen có mây trắng vờn quanh ai mà chả thích chẳ hứng rồi hân hoan 

reo lên như con trẻ. 

 Đoán chừng đến giờ cơm trưa là rủ nhau về chờ kẻng cơm. Lính trẻ có khác. Mới ấn vào bụng từng ấy sắn mà khi ngồi xuống ăn cơm nhanh vèo một phát,cơm canh hết sạch, đứng lên mặt vẫn buồn buồn. 

 Ngày thường, các A thường tự rèn tập đội ngũ, nghiêm nghỉ, mốt hai. Tới giờ giải lao lại cử một quê lên xóm trên mua sắn luộc nhanh rồi chén trước lúc nghỉ tập để ăn trưa. 

 Ở với hai anh hơn tuổi đã có vợ con nên các anh bợm lắm. Anh Đ ( mới mất ở 75 tuổi ) nói với chúng tôi : Chị chủ bán sắn có chồng đi B đã 2 năm rồi, trông nhuận sắc đáo để. Giọng nói, vẻ mặt biểu hiện sự khao khát của người đàn ông xa vợ ko dấu diếm. Thánh thế !

 Trú quân ở Lưu Quang Làng lúc đó chẳng có hàng quà bánh nào cả. Cũng không biết chợ cách làng bao xa nên gần tháng chúng tôi chỉ loanh quanh làng thôi. Xa nhất là lên trường bắn lao động 1 ngày để

chuẩn bị đón ông tướng nào về thăm mà có được gặp đâu. Vậy nên chỉ có bài sắn luộc là đưa đi đưa lại vẫn không hề chán. Tuổi ăn tuổi lớn có khác, cái gì vào dạ dày là tiêu hoá phăng phăng như lũ quét, lũ ống bây giờ. 

 Câu nói, chân đồng vai sắt bụng thần tiên chính là chỉ đám lính trẻ chứ ai vào đây tranh giải nhất được.

BÀI HỌC TỪ NGƯỜI THẦY DẠY VÕ

“Phần lớn hạnh phúc hay bất hạnh được quyết định bởi tính cách của bạn chứ không phụ thuộc vào hoàn cảnh” - Martha Washington

Một cậu bé 10 tuổi quyết định học môn võ Judo cho dù cánh tay trái của cậu đã mất trong một tai nạn xe hơi. Cậu theo học Judo với một võ sư Nhật.

Vì tin rằng mình đã học tập rất chuyên cần và tiến bộ nên cậu vô cùng thắc mắc tại sao sau ba tháng tập luyện mà thầy chỉ dạy cho mình mỗi một thế võ duy nhất.

Cuối cùng, không kiên nhẫn nổi nữa, cậu bé hỏi thầy:

- Thưa thầy, chẳng lẽ con không thể học được các thế võ khác sao?

Ông trả lời:

- Đây là thế võ duy nhất thầy dạy con, cũng chính là thế võ duy nhất mà con cần phải học.

Tuy không hiểu hết lời thầy nhưng tin tưởng ở thầy, cậu bé tiếp tục tập luyện.

Nhiều tháng sau, lão sư phụ dẫn cậu đến tham dự một cuộc thi Judo. Cậu bé rất ngạc nhiên khi thấy mình thắng dễ dàng trong hai trận đầu.

Trận thứ ba khó khăn hơn nhưng sau một hồi, đối phương mất kiên nhẫn trong các đòn tấn công, cậu bé đã khéo léo sử dụng thế võ và chiến thắng. Vẫn chưa hết ngạc nhiên vì thành công của mình, cậu tự tin bước vào trận chung kết.

Lần này, đối thủ của cậu là một võ sinh cao lớn, to khỏe và dày dặn kinh nghiệm hơn. Vào trận không lâu, cậu bé đã liên tiếp trúng đòn và hoàn toàn bị đối phương áp đảo. Hết hiệp đầu, sợ cậu bé bị thương, trọng tài ra hiệu kết thúc trận đấu sớm nhưng người thầy của cậu không đồng ý:

Cứ để cậu bé tiếp tục. - Võ sư yêu cầu.

Ngay sau khi trận đấu bắt đầu lại, đối phương phạm phải sai lầm nghiêm trọng: anh ta coi thường đối thủ và mất cảnh giác. Ngay lập tức cậu bé dùng thế võ duy nhất của mình quật ngã đối phương và khóa chặt anh ta trên sàn.

Cậu bé đã đoạt chức vô địch.

Trên đường về, hai thầy trò ôn lại các thế đánh trong từng trận đấu. 

Lúc này cậu bé mới thu hết can đảm nói ra cái điều ám ảnh trong đầu mình bấy lâu nay:

- Thưa thầy, làm sao con có thể trở thành vô địch chỉ với một thế võ như thế?

Con chiến thắng vì hai lý do. Người thầy trả lời.

- Lý do thứ nhất con gần như đã làm chủ được một trong những cú đánh hiểm và hiệu quả nhất của môn võ này. Lý do thứ hai, cách duy nhất mà đối thủ của con phá được thế võ đó là họ phải giữ chặt cánh tay trái của con lại

- Mà con lại không có tay trái.

Đôi khi, một điểm yếu của ai đó lại trở thành điểm mạnh vững chãi nhất của họ. Có ưu điểm là một điều tốt nhưng nếu có thể biến khuyết điểm thành lợi thế lại càng là một điều kỳ diệu hơn. Hãy tin vào chính mình, bạn có thể làm tất cả!

“Hãy biến nghịch cảnh thành cơ hội giúp bạn đạt được những điều tốt đẹp hơn.”

LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN THẠC: MỘT CUỘC ĐỜI ĐẸP NHƯ ĐÓA HOA

Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, tác giả của cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi 20”. Đồng đội thường hay gọi vui anh Thạc là “cứ rảnh là lại viết”, vì anh Thạc rất mê viết, cứ mỗi khi dừng hành quân là anh lại viết. Học giỏi văn và đam mê viết lách là vậy, nhưng anh Thạc lại thi đỗ khoa Toán Cơ của Đại học Tổng hợp. Như chúng hay nói vui là “giỏi văn nhất lớp Toán”, còn anh Thạc thì vừa giỏi nhất lớp toán, vừa giỏi nhất miền Bắc luôn vì trước đó, anh Thạc cũng đạt giải nhất miền Bắc môn văn. 


Chàng trai Nguyễn Văn Thạc nhập ngũ vào tháng 9/1971 và hy sinh chưa đầy một năm sau đó, vào ngày 30/07/1972 trong trận Thành cổ Quảng Trị. Hình tượng chàng trai Nguyễn Văn Thạc ngoài đời được dùng để xây dựng nhân vật Thăng do diễn viên Tô Tuấn Dũng thủ vai trong bộ phim Mùi Cỏ Cháy.


Ngoài đời, anh Thạc là người lính thông tin bị trúng mảnh đạn cắt nát động mạch đùi, anh được đồng đội cấp cứu nhưng máu cứ chảy, anh yếu dần nhưng vẫn tỉnh. Trước khi hy sinh, anh nói bạn bè: “Mình tỉnh thế này tức là sắp chết rồi... Chỉ tiếc là không còn chiến đấu được nữa... bao dự định còn dang dở”. Trong chiến tranh, vị trí thông tin là vị trí thường bị quân thù nhắm vào nhiều nhất. Anh Nguyễn Văn Thạc vừa chiến đấu vị trí bị nhắm nhiều ở trong trận đánh ác liệt nhất.


Còn trong phim, nhân vật Thăng cũng là người lính thông tin, anh Thăng hy sinh khi sửa chữa đường dây tín hiệu bị hỏng, khi sửa xong, điện đài vừa nối được thì anh bị giặc bắn vào ngực, anh ôm ngực và ngã xuống dòng Thạch Hãn… 


Tất cả những gì anh viết trong những chặng đường hành quân được tập hợp thành cuốn sách “Mãi mãi tuổi 20”, được tái bản hơn 10 lần với hơn 300 ngàn bản in.


Một trong những trích dẫn hay nhất trong cuốn sách: “Một bông hoa không cạnh tranh với bông hoa khác, nó chỉ đơn giản là bung nở thôi”. Trích dẫn này là nguồn cảm hứng cho ca sĩ Tạ Quang Thắng sáng tác ra bài hát “Sống như những đóa hoa” nói về tình yêu cuộc đời, sống đẹp tỏa sáng và khát khao cống hiến. 


"Và tôi sống như đóa hoa này, tỏa ngát hương thơm cho đời

Sống với nỗi khát khao rằng được hiến dâng cho cuộc đời..."


Chủ quyền Tổ quốc

Ngày 23-24 tháng 9 mới đây, Liên Đoàn Billiard Trung Quốc (CBSA) thực hiện buổi triển lãm Carom 3 băng tại Thượng Hải với khách mời là những cơ thủ hàng đầu thế giới như Trần Quyết Chiến, Tayfun Tasdemir (Thổ Nhĩ Kỳ), Dick Jaspers (Hà Lan) và Cho Myung-woo (Hàn Quốc).


Đối với Carom 3 băng, đây là một cơ hội để tạo ra bước phát triển đột phá. Bản thân các cơ thủ khách mời chắc chắn nhận thức được vấn đề này, họ đang là những con người thực hiện bước ngoặt lịch sử, trình diễn những tuyệt kỹ võ học để thu phục sự hứng thú của đất nước chủ nhà, hướng đến mục đích tạo dựng cộng đồng 3C mạnh mẽ chưa từng có.


Tuy vậy, trong buổi phát sóng trực tiếp trận đấu giữa Dick Jaspers và Trần Quyết Chiến, xuất hiện hình ảnh không phù hợp về toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, ngay lập tức cơ thủ Việt Nam ra quyết định ngừng chuyến lưu đấu, trở về quê hương trong buổi tối cùng ngày.


Thể thao vốn tách biệt với chính trị, sắc tộc cũng như tôn giáo. Động thái quyết liệt và dứt khoát của anh Quyết Chiến và ban huấn luyện đã nhận được sự đồng thuận của tất cả khán giả nước nhà, cần hiểu rõ hơn hành động rời giải này đã đi ngược với lợi ích cá nhân của cơ thủ, chính vì thế mới thấy được giá trị lớn lao của quyết định gây dậy sóng này.


Sự phi lý của luận điệu xuyên tạc “thơ cách mạng kháng chiến chỉ là thơ minh họa chính trị”

Thơ cách mạng Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1946-1975) đã thể hiện niềm tự hào dân tộc, tự hào về truyền thống vẻ vang của ông cha ta trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó là những tác phẩm bám sát lịch sử chiến đấu hào hùng của quân dân ta, là bản anh hùng ca bất diệt. Tuy nhiên, vẫn có những người cố ý phủ nhận, xuyên tạc giá trị thơ cách mạng kháng chiến thế kỷ 20 và cho rằng đó chỉ là “thơ minh họa chính trị”. Luận điệu đó vừa phi lý, vừa phi nghĩa nên cần phải phê phán, bác bỏ.


Sự phi lý của những luận điệu xuyên tạc thơ thời kháng chiến

Thời gian qua, trên nhiều trang mạng, diễn đàn, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và một số “nhà nghiên cứu” đã có nhiều ý kiến xuyên tạc, phủ nhận giá trị thơ cách mạng Việt Nam trong thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, làm tổn thương cả một thế hệ nhà thơ đã đóng góp tâm huyết, tài năng cho sự phát triển của nền văn học nước nhà, nhất là xúc phạm đến những nhà văn, nhà thơ đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.Theo họ, dòng thơ này ra đời “theo sự chỉ đạo, đặt hàng của Đảng mà không phải viết do cảm xúc, do tình người của nhà văn”; “là thứ thơ cổ động, không có giá trị gì về nghệ thuật”. Lại có kẻ cho rằng, thơ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là “quê mùa”, “tỉnh lẻ”, tác phẩm vì thế “không thể vươn tới cõi thẳm sâu trong thế giới tinh thần mà hầu hết là tả thực, vội vã, sống sượng, nên ít có tính tư tưởng, sức sống của tác phẩm như thế cũng èo uột và ngắn ngủi” (!?).

Những ý kiến, lập luận nêu trên vừa không dựa trên thực tiễn đời sống chiến đấu của quân dân ta trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, vừa là cái nhìn phiến diện, lệch lạc, hàm chứa mưu đồ xấu xa là phủ nhận những giá trị của thơ cách mạng kháng chiến thế kỷ 20, sâu xa hơn là phủ nhận toàn bộ giá trị nền văn học nghệ thuật cách mạng nước nhà.  

Thơ cách mạng “vị nhân sinh”, vì sứ mệnh cao cả là giải phóng dân tộc

Thơ là sự thổ lộ tình cảm sâu sắc được thăng hoa, lắng đọng qua cảm xúc thẩm mỹ, làm lay động và mang lại cảm xúc cho người đọc. Với chức năng “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”, thơ chân chính luôn hướng tới cái đẹp để ca ngợi, nuôi dưỡng, bồi đắp những giá trị chân-thiện-mỹ cho con người. Theo nhà phê bình văn học Nga V.Belinsky (1811-1848): “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật. Phục vụ cuộc sống, phục vụ con ng­ười là mục đích lớn nhất của thơ chân chính”. Lãnh tụ V.I.Lenin cũng cho rằng: “Nghệ thuật thuộc về nhân dân. Nghệ thuật phải bắt rễ sâu xa trong lòng đông đảo quần chúng lao động. Nó phải được quần chúng đó hiểu và yêu thích. Nó phải tập hợp được tình cảm, tư tưởng, ý chí của quần chúng đó, nâng họ lên. Nó phải thức tỉnh những nghệ sĩ trong quần chúng và phát triển các nghệ sĩ đó”.

Trong lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm thì cuộc sống, số phận mỗi người dân tất yếu phải gắn chặt với vận mệnh của đất nước. Trong hoàn cảnh đó, lương tâm và trách nhiệm đặt ra tiếng nói của mỗi thi sĩ phải hòa chung với tiếng nói chung của dân tộc, thể hiện tình cảm của quảng đại quần chúng nhân dân lao động, biết đau chung cùng nỗi đau của người dân nô lệ, biết yêu thương, cảm mến và tôn vinh với những con người đã xả thân vì nghĩa lớn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”. Vì vậy, dù có những đặc trưng, đặc thù thế nào đi chăng nữa thì từ sự nhận thức, phản ánh của mình, nhà thơ vẫn phải nhằm mục đích góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu đặt ra của thời đại. Do đó, trong thời kỳ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, trước cảnh mất nước lầm than, nhân dân ta “một cổ hai tròng”, đây là “lửa thử vàng” để xem dòng thơ nào, tác giả nào thực sự “vị nhân sinh”, gắn bó với vận mệnh dân tộc, đất nước.

Trong những thời khắc trọng đại, yêu cầu nghệ thuật của thơ được tự giác kết hợp với yêu cầu chính trị, với nhiệm vụ lịch sử của đất nước. Thử hỏi thời kỳ đó, những tiếng thở dài “Không rên xiết là thơ vô ý nghĩa” hay “Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ/ Một đôi người u uất nỗi chơi vơi” liệu có đại diện cho tiếng nói cả dân tộc không? Chắc chắn là không!

Hiển nhiên rằng, thơ không còn con đường nào khác ngoài con đường “bay theo đường dân tộc đang bay” và nhà thơ tự nguyện: “Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi/ Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu/ Tôi sống với cuộc đời chiến đấu/ Của triệu người yêu dấu gian lao” (Xuân Diệu). Lịch sử thời kỳ ấy đặt ra cho mỗi nhà thơ, mỗi bài thơ đều thể hiện ý thức trách nhiệm với nhân dân, chủ động dùng thơ như một vũ khí tinh thần trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Nhà thơ trước hết phải là một công dân, đồng thời cũng là một chiến sĩ để những tác phẩm của mình phục vụ tốt nhất cho mục tiêu đấu tranh giành độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Thơ cách mạng kháng chiến của chúng ta đã làm tròn sứ mệnh vẻ vang đó. Thế nên, ai đó cho rằng, thơ thời kỳ này không có giá trị là một nhận định hàm hồ, thiếu nhân văn, xuyên tạc, nếu không muốn nói là thái độ vô ơn bạc nghĩa, có dụng ý xấu.

Không thể phủ nhận giá trị to lớn, cao đẹp của thơ cách mạng

Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã cuốn hút đông đảo nhà thơ giàu năng lực sáng tác và đầy tâm huyết tham gia sứ mệnh giải phóng dân tộc. Thế hệ nhà thơ từ trước cách mạng như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Anh Thơ... đã được ánh sáng của Đảng “thay đổi đời tôi, thay đổi thơ tôi” để sáng tác các tác phẩm thơ phục vụ cách mạng. Thế hệ nhà thơ nối tiếp là Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn... rồi đến Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Thanh Hải, Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Anh Ngọc, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Vương Trọng, Hoàng Nhuận Cầm, Giang Nam, Lâm Thị Mỹ Dạ... Còn có nhiều nhà thơ đã anh dũng hy sinh quên mình vì nghĩa lớn và tác phẩm của họ đã trở thành bất tử trong dòng chảy thơ ca cách mạng của dân tộc.

Từ thực tế chiến trường khốc liệt, những câu chuyện cao đẹp, giàu tính nhân văn, những tấm gương chiến đấu hy sinh anh dũng đã tác động mạnh đến những tâm lý, tình cảm của mỗi tác giả để họ sáng tạo nên những bài thơ có giá trị sâu sắc. Sứ mệnh thiêng liêng cao cả của nhà thơ đã hòa vào dòng người “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Khao khát của nhà thơ là được đến với “biển lớn cuộc đời”. Không có sự hy sinh nào lớn lao, cao cả hơn sự hy sinh cho đất nước mình, dân tộc mình: “Ôi! Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi, Tổ quốc! Nếu cần, ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông” (Chế Lan Viên)...

Nghệ thuật của thơ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp nhiều thành tựu xuất sắc trong nền văn học Việt Nam. Ngôn từ của thơ thời kỳ này đã góp phần tạo cho thơ Việt Nam một tâm thế mới, sức thuyết phục, truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với công chúng để thể hiện tầm vóc cao đẹp của dân tộc và con người Việt Nam. Nhiều nhà thơ đã sử dụng bút pháp tinh tế: “Em là ai? Cô gái hay nàng tiên?” (Tố Hữu); “Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?” (Chế Lan Viên). Nhiều nhà thơ đã thổ lộ tình yêu đôi lứa luôn gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước: “Anh yêu em như yêu đất nước”, “Em đứng bên đường như quê hương/ Vai áo bạc quàng súng trường” (Nguyễn Đình Thi); “Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình/ Phải biết gắn bó và san sẻ/ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở/ Làm nên Đất Nước muôn đời...” (Nguyễn Khoa Điềm);  “Em chính là quê hương ta đó” (Lê Anh Xuân)...

Có thể khẳng định rằng, thơ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ mang đậm chất sử thi, trữ tình, phản ánh sâu sắc cuộc sống lao động, chiến đấu hào hùng của quân dân ta. Những cách tân nghệ thuật được thể hiện trên nhiều bình diện: Từ việc mở rộng hình thức câu thơ đến sự vận dụng ngôn ngữ thơ một cách linh hoạt, từ những đổi mới phong phú trong giọng điệu thơ đến việc tìm tòi những kiểu kết cấu mới cho thơ. Nó vừa kết hợp hài hòa giữa lý tưởng và hiện thực, giữa chất anh hùng ca và tính trữ tình, giữa truyền thống và tìm tòi sáng tạo của các nhà thơ cách mạng.

Vậy thì sao vẫn có người xuyên tạc “đổi trắng thay đen” để cho rằng thơ thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là thơ “minh họa chính trị” được!

Những kẻ xuyên tạc, chống phá đã cố tình lờ đi hay không hiểu rằng, thời kỳ này, văn học nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng đã vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. Nhà thơ đồng thời là một chiến sĩ, tác phẩm của họ trở thành vũ khí đắc lực góp phần cổ vũ cuộc chiến đấu gian khổ, hào hùng của quân dân cả nước. Các tác giả đã gắn bó với cuộc kháng chiến, được tôi luyện trong lửa đạn và nếm trải những gian lao, thử thách nơi trận mạc, cho nên, trong giai đoạn này, “chất thép” và “chất thơ” đã hòa quyện nhuần nhuyễn. Thơ cách mạng đã tới được những khái quát sâu sắc về đất nước, con người, về hiện tại và tương lai, về dân tộc và thời đại, về lương tâm, trách nhiệm và lẽ sống.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, trong 30 năm, thơ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đã phát triển cả về chất lượng và số lượng, trên cơ sở sự thống nhất hài hòa giữa nội dung và hình thức, giữa truyền thống và hiện đại. Nhất quán trong một quan niệm nghệ thuật tích cực, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, các nhà thơ không ngừng tìm tòi, sáng tạo, nhằm tạo dựng một nền thơ xứng đáng với tầm vóc của dân tộc, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Những đóng góp lớn lao của các nhà thơ chân chính và những giá trị nhân văn cao cả của thơ cách mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc là căn cứ thực tiễn và minh chứng sinh động để chúng ta phê phán, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận dòng thơ này.


CHỦ QUYỀN TỔ QUỐC LÀ TỐI THƯỢNG!

Trong trận đấu giữa cơ thủ Trần Quyết Chiến và Dick Jaspers trong giải giao hữu thành lập Liên Đoàn Billiards Carom Trung Quốc, nhà đài Thượng Hải đã cố tình lồng ghép hình ảnh đường lưỡi bò phi pháp vào sóng trực tiếp một cách vô cùng bất ngờ và không thông báo trước. Ngay khi nhận ra điều này, HLV Nguyễn Việt Hòa yêu cầu Trần Quyết Chiến phải lập tức bỏ giải để quay về Việt Nam để phản đối động thái vô lý, xuyên tạc chủ quyền Việt Nam cũng như không đúng với tinh thần thể thao. 


Trần Quyết Chiến đã hỏi có cần phải giải thích gì với ban tổ chức không? HLV dứt khoát “không cần!”. Và thế là anh rời khỏi giải và hiện đã có mặt ở Việt Nam. 


Chủ tịch Liên đoàn Billiards & Snookers Thế giới Farouk Barki có gửi thư điện tử mong muốn phía Việt Nam đưa ra một lý do “tế nhị” để giải thích với công chúng. Tuy nhiên, Trần Quyết Chiến đã trả lời rằng: “Đây là sự xuyên tạc đến chủ quyền Việt Nam và không thể dùng lý do gì khác!"

Truy thăng cấp hàm thượng úy cho đồng chí Đỗ Văn Tú, hy sinh trong khi làm nhiệm vụ

Chiều 24-9, thông tin từ Cục Tổ chức cán bộ, Bộ Công an cho biết, lãnh đạo Bộ Công an vừa ký quyết định truy thăng cấp bậc hàm đối với Trung úy Đỗ Văn Tú (sinh năm 1998), cán bộ Công an thị trấn An Bài, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.


Theo đó, sáng cùng ngày, Thượng tướng Trần Quốc Tỏ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định về việc truy thăng cấp bậc hàm từ Trung uý lên Thượng uý, kể từ ngày 24-9-2023 đối với đồng chí Đỗ Văn Tú, quê quán: Quỳnh Phụ, Thái Bình; cán bộ Công an thị trấn An Bài, Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.Đồng thời, cùng ngày, lãnh đạo Bộ Công an quyết định hỗ trợ gia đình đồng chí Đỗ Văn Tú 100 triệu đồng trích từ Quỹ Nghĩa tình đồng đội CAND.

Trước đó, khoảng 21 giờ 50 phút ngày 22-9, đồng chí Đỗ Văn Tú nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại ngõ 61, đường Phạm Như Trinh, Tổ 5, thị trấn An Bài về việc xuất hiện một đối tượng có hành vi trộm cắp tài sản. Đồng chí đang trong ca trực nên sau khi nhận được tin, đã báo cáo chỉ huy và được phân công xuống địa bàn để xác minh nguồn tin.

Trong quá trình xác minh, đồng chí Đỗ Văn Tú bất ngờ bị đối tượng dùng dao đâm gần chục nhát vào nhiều vị trí trên cơ thể, như vùng cổ, bụng, đùi và đặc biệt là vết đâm thấu tim, khiến đồng chí rơi vào tình trạng nguy kịch...

Công an tỉnh Thái Bình đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức tang lễ cho đồng chí Đỗ Văn Tú theo quy định của ngành; đồng thời, báo cáo lãnh đạo Bộ Công an xét thăng cấp bậc hàm từ Trung úy lên Thượng úy cho đồng chí.

Trước sự hy sinh trong khi làm nhiệm vụ của đồng chí Đỗ Văn Tú, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cũng đã quyết định truy tặng Huy hiệu "Tuổi trẻ dũng cảm" cho đồng chí.

Những giải pháp lớn về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

 

Những giải pháp lớn về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

Một là, tiếp tục phát huy dân chủ rộng rãi trong Đảng.

Để phát huy dân chủ trong Đảng đòi hỏi các cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa các quan điểm, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ; đồng thời, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về phát huy quyền làm chủ; giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; tạo điều kiện cần và đủ để nhân dân làm chủ thực chất, hiệu quả. Tiếp tục bổ sung các quy chế, quy định về dân chủ để thực hiện thống nhất trong toàn Đảng. Trước hết, quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Bổ sung quy định về phát huy dân chủ trong công tác cán bộ đi đôi với kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý cán bộ. Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, mọi quyết định về công tác cán bộ phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Công khai, minh bạch về chỉ tiêu, về kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ, thi nâng ngạch,  nâng  bậc,  xét  danh  hiệu  thi đua, xét nâng hạng; tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng, cơ cấu, quy trình luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử. Thực hiện bỏ phiếu kín đối với những nội dung cần biểu quyết trong công tác cán bộ, có quy chế cạnh tranh lành mạnh trong công tác cán bộ. Mỗi cán bộ đủ điều kiện, tiêu chuẩn trong diện quy hoạch đều có cơ hội như nhau để thể hiện phẩm chất, năng lực của mình trong tuyển dụng, tuyển chọn vào các chức danh lãnh đạo, quản lý. Thực hiện bầu cử có số dư, bổ nhiệm cán bộ có cạnh tranh, thông qua thi tuyển hoặc bảo vệ chương trình hành động. Đi đôi với phát huy dân chủ trong công tác cán bộ phải có quy định về kiểm soát, giám sát quan hệ lợi ích trong công tác cán bộ để công tác cán bộ thực sự khách quan, công tâm. Tiếp tục thực hiện tốt chế độ Bộ Chính trị báo cáo công việc và hoạt động của mình trước mỗi kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương; ban thường vụ báo cáo công việc và hoạt động của mình trước mỗi kỳ họp cấp ủy; cấp ủy báo cáo trước tổ chức đảng hoặc cơ quan bầu ra mình. Nâng cao chất lượng, hiệu quả quy định hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong sinh hoạt đảng, đưa hoạt động này thành chế độ nền nếp. Để thực hành dân chủ trong Đảng đòi hỏi mỗi đảng viên phải thực hiện nghiêm Quy định số 08-Qđi/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng”. Trong nhiều nội dung về nêu gương phải coi trọng nêu gương về thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở.

Hai là, Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ thành chính sách, pháp luật và tăng cường xây dựng, củng cố, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, thể chế hóa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” để thực hiện đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chính phủ. Bộ máy phải được tổ chức gọn nhẹ, rõ về chức năng, quyền hạn và trách nhiệm, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương phải tạo điều kiện để người dân tiếp cận, dễ đối thoại, dễ kiểm tra, giám sát; huy động được tài năng, trí tuệ, sáng tạo của người dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Nhà nước phải bảo đảm và phát huy được quyền làm chủ thực sự của người dân, nhất là quyền tham gia xây dựng chính quyền, lựa chọn người đại diện cho mình và quyền sở hữu tài sản hợp pháp. Mở rộng đối thoại giữa Nhà nước với người dân và doanh nghiệp bằng nhiều hình thức, tăng cường trách nhiệm giải trình và lắng nghe nhân dân. Tăng cường dân chủ ở cơ sở, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia công việc của Nhà nước một cách thiết thực, phù hợp. Các cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm chính sách, pháp luật được thực thi có hiệu quả. Tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện các thủ tục hành chính.

Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội phát huy vai trò, vị trí của mình theo quy định của Đảng và các văn bản pháp luật để thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội, nhất là những vấn đề liên quan đến phát huy dân chủ, đến quyền và lợi ích của các thành viên, đoàn viên, hội viên.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội của mình trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực phát huy dân chủ; vừa vận động, tập hợp, động viên các tầng lớp nhân dân, các đoàn viên, hội viên của mình thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, vừa tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Động viên đội ngũ nhân sĩ, trí thức, các chuyên gia, nhà khoa học tham gia góp ý xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, các đề án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước. Tập hợp kịp thời các đề xuất, kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, hội viên, của cử tri để phản ánh cho Đảng, Nhà nước xem xét lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết. Tham gia việc phát hiện, lựa chọn, giới thiệu những người đủ đức, đủ tài, thật sự xứng đáng làm đại biểu nhân dân trong Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, tăng cường chức năng giám sát có trọng tâm, trọng điểm đối với các cơ quan hành  chính  nhà  nước,  chính  quyền  các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Trong tình hình hiện nay cần tăng cường giám sát việc lãnh đạo và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, việc tổ chức tiếp công dân, đối thoại với công dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân đối với chính quyền các cấp. Tăng cường công tác giáo dục, nâng cao đạo đức công vụ và tinh thần trách nhiệm của công chức, viên chức với nhân dân.

Bốn là, phát huy vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy; chính quyền các cấp và các cơ quan, đơn vị của cả hệ thống chính trị về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh đẩy mạnh việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng, hiệu quả của việc phát huy dân chủ, chính là vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, đơn vị trong cả hệ thống chính trị. Ở đâu người đứng đầu có nhận thức sâu sắc, đầy đủ về quyền làm chủ của nhân dân, về thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và luôn luôn nêu gương về đạo đức, lối sống, về thượng tôn pháp luật thì ở đó dân chủ được thực hiện tốt. Từng đồng chí bí thư cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở, lãnh đạo chủ chốt các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, các cơ quan, đơn vị phải thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, công khai, minh bạch trong điều hành của chính quyền, đề cao vai trò, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, chống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các hành vi xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân. Trong thực tiễn việc lựa chọn và bố trí người đứng đầu có đức, có tài, biết vận dụng một cách sáng tạo những thành tựu của khoa học - công nghệ vào lãnh đạo, quản lý, biết tạo ra môi trường dân chủ để phát huy trí tuệ, sáng tạo, đóng góp của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là hết sức quan trọng gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị. Theo quy định của Đảng, người đứng đầu các cấp, các ngành phải định kỳ trực tiếp tiếp công dân, đối thoại với công dân; có như vậy mới nắm được và đủ thẩm quyền chỉ đạo giải quyết kịp thời những kiến nghị, đề xuất hợp pháp, chính đáng của nhân dân; đồng thời, chỉ đạo giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân, không để phát sinh các “điểm nóng”, vụ, việc phức tạp kéo dài.

Năm là, lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan truyền thông làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy dân chủ, tạo sự chuyển biến về nhận thức trong các tầng lớp nhân dân.

Báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phổ biến, truyên truyền sâu rộng các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhân dân rất quan tâm đến việc công khai các chế độ, chính sách liên quan trực tiếp đến nhân dân, như các chính sách an sinh xã hội (việc làm, lao động, tiền lương, trợ cấp, bảo hiểm...). Chính quyền các cấp phải công khai rộng rãi cho nhân dân biết các đề án quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, kết cấu hạ tầng, quy hoạch sử dụng đất đai... Công khai để nhân dân biết, góp ý và giám sát việc tổ chức thực hiện khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các cấp ủy đảng, chính quyền phát huy vai trò của báo chí, các phương tiện truyền thông đại chúng để phát động nhân dân đấu tranh mạnh mẽ chống tham nhũng, tiêu cực. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực của những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền mà không sử dụng vũ khí công luận, không phát huy được vai trò làm chủ của quần chúng thì khó có kết quả, hiệu quả. Từ đó, đấu tranh thực hiện dân chủ, kịp thời phê phán những biểu hiện cực đoan, lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, kích động, lôi kéo quần chúng phục vụ cho “lợi ích nhóm”, lợi ích cá nhân vị kỷ...; đồng thời, phải khắc phục, chấm dứt những việc làm mang tính dân chủ hình thức trên các lĩnh vực của đời sống xã hội./.

 

Thực trạng thực hiện phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay

 

Thực trạng thực hiện phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay:

Sau hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta đã nhận thức ngày càng sâu sắc hơn tầm quan trọng và vai trò của xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, khẳng định dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; đồng thời, nhận thức đầy đủ hơn về tính khách quan thực hiện dân chủ, nhất là các hình thức dân chủ trực tiếp trong tình hình mới.

Những hạn chế, bất cập cần khắc phục

Bên cạnh những ưu điểm, việc thực hiện phát huy dân chủ cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Nhận thức về dân chủ và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa còn hạn chế, chưa đầy đủ và hệ thống, chưa lý giải và làm sáng tỏ kịp thời nhiều vấn đề do thực tiễn đặt ra, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, kỷ cương; chưa coi trọng đúng mức phát triển các hình thức dân chủ trực tiếp. Hiện nay, vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức về dân chủ còn phiến diện, nhất là thực hành dân chủ trong Đảng. Có người cho rằng dân chủ trong Đảng thì đảng viên được tự do phát ngôn và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng quan điểm riêng của mình. Cá biệt, có người còn muốn tổ chức đảng chỉ như “câu lạc bộ”, được tranh luận, bàn cãi bất kỳ vấn đề gì, không tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ. Ngược lại, có một bộ phận đảng viên lại hiểu dân chủ trong Đảng một cách cứng nhắc, coi dân chủ như là phương tiện để đạt đến sự tập trung, không muốn đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới độc lập suy nghĩ, tìm tòi khoa học, đồng nhất khoa học với chính trị, đồng nhất ý kiến nghiên cứu, trao đổi với quan điểm, đường lối của Đảng. Một số người đối lập dân chủ với tập trung, tách rời việc phát huy sáng kiến, sáng tạo của đảng viên với việc thực hiện kỷ luật, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, để phát huy sáng kiến và tư duy độc lập của cán bộ, đảng viên cần có quy định về chế độ cung cấp, cập nhật thông tin thường xuyên cho cán bộ, đảng viên, bảo đảm quyền được thông tin của đảng viên. Là Đảng duy nhất cầm quyền, một số cán bộ, đảng viên không nhận thức đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ đã dẫn đến lạm quyền, bao biện, làm thay, độc đoán, gia trưởng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Đã có nhiều hình thức, phương pháp tổ chức lấy ý kiến nhân dân, nhất là ý kiến của đội ngũ chuyên gia, các nhà khoa học khi xây dựng văn bản pháp luật và một số đề án quan trọng khác, nhưng có một số đề án chưa làm tốt việc đó dẫn đến chất lượng văn bản pháp luật không cao, chưa được Quốc hội thông qua, như Đề án xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam, ba đặc khu kinh tế... Một số văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân chưa được xây dựng kịp thời, như Luật Giám sát và phản biện xã hội. Một số luật đã được ban hành, như Luật Trưng cầu ý dân là văn bản pháp luật quan trọng để nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, tăng cường đoàn kết và đồng thuận xã hội có hiệu lực từ ngày 1-7-2016, nhưng đến nay vẫn chưa được tổ chức triển khai thực hiện rộng rãi. Một số cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật chưa tốt, như trên các lĩnh vực quy hoạch, quản lý quy hoạch, quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, đền bù, giải phóng mặt bằng, tổ chức tái định cư...

Việc phát huy dân chủ ngoài xã hội còn nhiều hạn chế, một bộ phận nhân dân còn bức xúc, khiếu kiện phức tạp. Số lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến các cơ quan chức năng, như Ban Dân nguyện của Quốc hội, Thanh tra Chính phủ còn rất cao, nhưng tỷ lệ đơn, thư được giải quyết chưa được như mong muốn. Theo số liệu của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, tỷ lệ chính quyền không đối thoại với công dân và không dự các phiên tòa đều tăng qua từng năm. Từ năm 2015 đến 2017, kể từ khi Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực, cả nước có 11.180 quyết định hành chính và hành vi hành chính bị tòa án hủy toàn bộ hoặc một phần. Các nghị định và pháp lệnh về thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở tại một số nơi chưa được tổ chức thực hiện tốt. Những hạn chế, bất cập trên đây có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Về khách quan: Đổi mới là sự nghiệp to lớn, toàn diện, lâu dài và khó khăn, phức tạp, chưa có tiền lệ trong lịch sử. Tình hình thế giới, khu vực và sự chống phá của các thế lực thù địch tác động khá lớn vào quá trình phát huy dân chủ. Về chủ quan: Công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về thực hiện dân chủ trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và ngoài xã hội chưa được quan tâm đúng mức, chậm được lý giải và thể chế hóa đầy đủ về mặt nhà nước.

Nhà nước phải bảo đảm và phát huy được quyền làm chủ thực sự của người dân, nhất là quyền tham gia xây dựng chính quyền, lựa chọn người đại diện cho mình và quyền sở hữu tài sản hợp pháp. Mở rộng đối thoại giữa Nhà nước với người dân và doanh nghiệp bằng nhiều hình thức, tăng cường trách nhiệm giải trình và lắng nghe nhân dân. Tăng cường dân chủ ở cơ sở, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia công việc của Nhà nước một cách thiết thực, phù hợp

Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” để phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân. Việc nghiên cứu, dự báo sự biến động về số lượng, chất lượng, về tư tưởng các giai tầng xã hội để có các chủ trương, đường lối lãnh đạo phát huy dân chủ sát, đúng, hiệu quả hơn chưa chủ động. Nhận thức, phương pháp và cách thức chỉ đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong phát huy quyền làm chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, quyền dân sự còn những mặt hạn chế. Việc quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chưa thường xuyên, đúng mức nên còn một bộ phận vi phạm Quy chế Dân chủ ở cơ sở, không tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân.

 

Kết quả thực hiện phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa sau hơn 30 năm đổi mới của đất nước ta

 

Kết quả thực hiện phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa sau hơn 30 năm đổi mới của đất nước ta.

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã nêu lên bốn bài học lớn, trong đó có bài học: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân  dân  lao  động”(1).  Văn  kiện Đại  hội nhấn mạnh “xóa bỏ nhận thức sai lầm coi công tác quần chúng chỉ là biện pháp để tổ chức, động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách. Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa phương phải trưng cầu ý kiến nhân dân trước khi quyết định”. Nội dung phát huy dân chủ tiếp tục được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng từ khóa VII đến khóa X đề cập rõ nét.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân... Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp... Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân...”(2). Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (tháng 1-2016), vấn đề phát huy dân chủ được khẳng định trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: “Tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đảng cầm quyền, xác định rõ mục đích cầm quyền, phương thức cầm quyền, nội dung cầm quyền, điều kiện cầm quyền; vấn đề phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền; các nguy cơ cần phải phòng ngừa đối với đảng cầm quyền”(3).

Về phát huy dân chủ trong Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) xác định: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt đảng.

Đảng ta và Bác Hồ luôn xác định thực hành dân chủ trong Đảng có ý nghĩa quyết định đối với phát triển dân chủ trong tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị gắn với dân chủ hóa toàn bộ đời sống xã hội, có dân chủ mới có đồng thuận xã hội, có đồng thuận xã hội mới tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Nội dung phát huy dân chủ được Đảng ta quy định rất rõ, bảo đảm thật sự tự do tư tưởng trong sinh hoạt đảng, khuyến khích và tôn trọng sự suy nghĩ độc lập, sáng tạo, thảo luận, tranh luận dân chủ nhằm phát huy trí tuệ của toàn Đảng, của từng cán bộ, đảng viên trong việc chuẩn bị các nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết. Trong đại hội đảng các cấp, trong các hội nghị của Đảng, mỗi đảng viên đều có quyền thảo luận, bàn bạc, tham gia các công việc của Đảng, phê bình, chất vấn các cán bộ, đảng viên khác, được trình bày hết ý kiến của mình, có quyền bảo lưu ý kiến hoặc đề xuất ý kiến lên các cơ quan cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Các nghị quyết, quyết định của tổ chức đảng được thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số. Việc bầu cử trong Đảng đều được tiến hành dân chủ theo nguyên tắc bỏ phiếu kín, không gò ép, áp đặt... Đặc biệt, trong các nhiệm kỳ gần đây, việc thực hành dân chủ trong Đảng tiếp tục được bổ sung bằng những quy chế, quy định chặt chẽ hơn, như quy định Bộ Chính trị báo cáo công việc và hoạt động của mình trước mỗi kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương, ban thường vụ báo cáo công việc và hoạt động của mình trước mỗi kỳ họp cấp ủy, cấp ủy báo cáo trước tổ chức đảng hoặc cơ quan bầu ra mình; quy định thời gian tiến hành tự phê bình và phê bình, tổ chức quần chúng phê bình và bỏ phiếu tín nhiệm cán bộ, đảng viên từ cơ quan cao nhất đến tổ chức cơ sở.

Việc phát huy dân chủ trong các tổ chức nhà nước có nhiều chuyển biến, tiến bộ. Quốc hội có những đổi mới quan trọng, từ bầu cử đại biểu Quốc hội đến hoàn thiện về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động, làm tốt hơn chức năng lập pháp, công tác giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Quốc hội hoạt động ngày càng dân chủ, hiệu quả. Để nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật, Quốc hội đã có nhiều hình thức để lấy ý kiến góp ý, như tổ chức hội thảo, tọa đàm, phát phiếu...

Trước và sau mỗi kỳ họp Quốc hội đều tổ chức tiếp xúc cử tri để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri cả nước. Sau tiếp xúc đều tổng hợp, phân tích những kiến nghị xác đáng để yêu cầu Chính phủ chỉ đạo giải quyết theo thẩm quyền. Nhiều khóa gần đây, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp của Quốc hội, hội đồng nhân dân thật sự sôi nổi, dân chủ, phát huy được trách nhiệm của đại biểu, được nhân dân cả nước ghi nhận. Định kỳ, Quốc hội, hội đồng nhân dân tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín. Phát huy dân chủ của Chính phủ tiếp tục có những đổi mới trong hoạch định chính sách, quản lý vĩ mô, chỉ đạo điều hành tổ chức thực hiện. Ý thức, trách nhiệm thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng thành các văn bản pháp luật được đề cao. Đặc biệt, chính quyền các cấp đã có nhiều tiến bộ trong tổ chức tiếp dân, đối thoại với công dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Đối với công tác tổ chức cán bộ diện quản lý theo phân cấp của Đảng đều được tập thể ban cán sự đảng thảo luận dân chủ, bỏ phiếu kín và quyết định theo đa số. Các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đều tạo điều kiện và phát huy chức năng tuyên truyền, định hướng dư luận của các phương tiện truyền thông, như báo viết, báo nói, báo hình, báo mạng...

Phát huy dân chủ trong các tổ chức chính trị - xã hội cũng có nhiều tiến bộ rõ, thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa. Nhiều văn bản tạo cơ sở pháp lý phát huy quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân được Quốc hội thông qua, như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, Luật Trưng cầu ý dân... Những bảo đảm dân chủ về quyền và nghĩa vụ, lợi ích, trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội được luật hóa cụ thể hơn và từng bước thực hiện có kết quả; nhiều chủ trương, biện pháp đã phát huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân, đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa xã hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 34/PT/UBTVQH, ngày 20-4-2007, “Về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”, Nghị định số 04/NĐ/CP, ngày 24-1-2013, “Về thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập”, Nghị định số 60/NĐ-CP, ngày 19-6-2013, “Quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc” đã góp phần tích cực vào quá trình phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội đang tích cực thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Trước các kỳ họp Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tập hợp khá đầy đủ các kiến nghị của các tổ chức thành viên, ý kiến của cử tri cả nước để phản ánh đến Quốc hội; hội đồng nhân dân các cấp đã thường xuyên giám sát chính quyền trong việc tiếp thu và giải quyết các kiến nghị chính đáng của đoàn viên, hội viên, cử tri.

 

Phẩm chất của đội ngũ cán bộ với những yếu tố tác động thời kì đổi mới.

 Phẩm chất của đội ngũ cán bộ với những yếu tố tác động thời kì đổi mới. 

Hoạt động lãnh đạo, quản lý về thực chất là lao động trí óc, là hoạt động trí tuệ đòi hỏi ở người lãnh đạo, quản lý khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và sự quyết đoán khoa học, chính xác để có được những quyết sách, chiến lược, những giải pháp, bước đi khôn ngoan, sáng tạo nhằm thực hiện tốt mọi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình. Vì thế mọi quyết định của người lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị không được phạm sai lầm.

Với trọng trách của mình, những người chủ trì phải đồng thời giải quyết nhiều công việc, phải xử lý các mối quan hệ đa chiều, phức tạp, đan xen với nhau, nên ngoài kiến thức, vốn sống, kinh nghiệm, bản lĩnh, tính quyết đoán, tư duy của họ lại cần phải mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt mới mong công việc đạt hiệu quả cao. Muốn vậy, họ phải tiếp nhận và xử lý thông tin đa chiều nhanh nhạy, chính xác, phải có năng lực phân tích, tổng hợp và khái quát cao, các quyết định phải đưa ra kịp thời, chính xác. Tất cả những phẩm chất này không phải tự nhiên mà có được. Người lãnh đạo, quản lý phải kiên trì học tập, nghiên cứu suốt đời, học ở trường lớp, tự học, tự rèn, học nhân dân và học trong thực tiễn... Có như vậy, người lãnh đạo, quản lý mới "có một cái đầu trí tuệ”, nhìn mọi việc đều có tinh thần phê phán, nhìn nhận, suy xét đúng bản chất sự vật, dự báo xu hướng phát triển một cách có căn cứ, hợp quy luật. Họ còn phải là người có tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám khám phá cái mới. Đó cũng là điều cần thiết để biết tự phê bình và phê bình, biết thế nào là phải, trái, đúng, sai, biết tìm ra căn nguyên sai lầm và tìm cách khắc phục, biết nuôi dưỡng cái đức, cái tâm cho trong sáng, ngay thẳng và hữu ích.

Trong các nhân tố cấu thành tài năng của cán bộ lãnh đạo, quản lý thì tài dùng người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Dùng đúng người, xếp đúng việc thì thành công, dùng sai người, xếp sai việc thì hỏng việc dẫn đến thất bại. Muốn dùng người thì phải hiểu biết và tin người, hiểu biết công việc và tự bản thân có thể làm tốt việc đó. Điều quan trọng để hiểu biết một con người là phải có cái tâm, cái đức trong sáng, dám thừa nhận tài năng và đức độ của người khác, không đố kỵ, ghen ghét, không kèn cựa, dèm pha. Biết dùng người, phát huy được tài năng của con người sẽ củng cổ được tình đoàn kết của cơ quan, đơn vị - một yếu tố tối quan trọng để đưa công việc đến thành công.

Tìm được người có đầy đủ phẩm chất đạo đức và năng lực để tham gia bộ máy của Đảng và chính quyền

 

Sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cùng một lúc phải đồng thời làm nhiều việc. Một trong những đòi hỏi cấp bách hiện nay là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; nói một cách cụ thể là lúc này đất nước đang rất cần nhiều người có đức, có tài đứng ra đảm nhiệm những vị trí chủ trì, lãnh đạo, quản lý các cơ quan đơn vị, quyết tâm xoay chuyển tình hình, tạo ra sự phát triển mới, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới đi đến thành công.

Trong chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” của Đảng, Nhà nước ta hiện nay, vấn đề nổi lên hàng đầu là tìm được người có đầy đủ phẩm chất đạo đức và năng lực để tham gia bộ máy của Đảng và chính quyền. Quần chúng nhân dân trông chờ vào người lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị; mong họ làm tốt chức năng mà Đảng và nhân dân đã trao cho. Tuy nhiên, hiện nay ở đây đó, trong một số cơ quan, đơn vị, người đứng đầu là cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa thật sự gương mẫu, thậm chí có những sai phạm về phẩm chất đạo đức như vướng vào chuyện tham nhũng, quan hệ bất chính, bất lương; phong cách làm việc thì độc đoán, chuyên quyền. Tất cả những điều đó mang lại cái hại rất lớn về danh dự, phẩm giá con người, làm mất niềm tin trong quần chúng nhân dân. Đáng tiếc là đi kèm với sự thoái hoá, biến chất về nhân cách, đạo đức của người chủ trì là sự giảm sút về vai trò lãnh đạo của cơ sở Đảng. Nhiều hiện tượng tiêu cực phát sinh, “phe phái” xuất hiện, làm cho  nội bộ mâu thuẫn, mất đoàn kết kéo dài, lòng người ly tán, cơ quan đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù trong xuyên tạc, bôi đen lịch sử là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân ta.

 

Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới toàn diện gắn xây dựng với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Do vậy, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trong cả nước và trong quân đội. Trước hết, cần nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, lịch sử truyền thống yêu nước và cách mạng, tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao niềm tin vững chắc của nhân dân vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước; nắm vững âm mưu, thủ đoạn hoạt động phá hoại của kẻ địch với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để chủ động phòng ngừa không để cho nó phát sinh, phát triển gây tác động xấu trong xã hội, quân đội.

Trang bị kiến thức, rèn luyện bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ, đảng viên và người dân khả năng “tự bảo vệ” chống sự xâm nhập phá hoại của các tư tưởng xấu độc làm cho nội bộ ta “'tự diễn biến “tự chuyển hóa” về lập trường quan điểm tư tưởng theo hướng tư bản chủ nghĩa. Phải phát huy cao nhất sức mạnh toàn dân để bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng -văn hóa. Trong giáo dục, tuyên truyền phải kịp thời cung cấp thông tin, lý lẽ để mỗi cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân có thể chủ động đấu tranh phản bác các thông tin xuyên tạc và quan điểm sai trái, của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị. Thông qua đấu tranh để khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng, của đường lối đổi mới là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định những giá trị tốt đẹp trong truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; vạch trần bản chất phản động phản văn hóa của các nội dung tuyên truyền xuyên tạc của địch. Thường xuyên làm tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác văn hóa - tư tưởng ở cơ sở, có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ tư tưởng - văn hóa làm nòng cốt trong công tác tuyên truyền, giáo dục trong nhân dân.

Kết hợp chặt chẽ giữa xây” và “chống”, xây dựng thế trận phòng, chống các hoạt động phá hoại của địch trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, hình thành mạng lưới tiến công các tư tưởng thù địch đang lan truyền trong xã hội, bảo đảm định hướng tư tưởng chính trị trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng góp phần xây dựng con người mới, nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

Toàn quân thực hiện tốt chính sách Quân đội và hậu phương Quân đội trong tình hình mới

 

Quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về chính sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội, toàn quân đã triển khai toàn diện, đồng bộ các giải pháp.

Công tác chính sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội là một trong những nội dung quan trọng của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội, nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và các đối tượng chính sách,... tạo động lực to lớn để xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhận thức rõ điều đó và trên cơ sở quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về chính sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội, những năm qua, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai toàn diện, đồng bộ các giải pháp đối với nhiệm vụ quan trọng này, đạt nhiều kết quả thiết thực.

Nổi bật là, các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đã chủ động bám sát thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ của Quân đội, phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, đề xuất với Đảng, Nhà nước ban hành, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản về chính sách đối với Quân đội, hậu phương Quân đội và người có công với cách mạng. Các chế độ, chính sách đối với quân nhân, công nhân và viên chức quốc phòng tại ngũ; chính sách thôi phục vụ tại ngũ, xuất ngũ; chính sách về tiền lương, phụ cấp, trợ cấp trong Quân đội; chế độ, chính sách đối với lực lượng mới thành lập, làm nhiệm vụ đặc thù, lực lượng làm nhiệm vụ trên địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,... được ban hành kịp thời, triển khai chặt chẽ, góp phần quan trọng trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh. Những tồn đọng chính sách sau chiến tranh đã được giải quyết một cách cơ bản, với khối lượng lớn, tạo hiệu ứng tốt trong ổn định tình hình chính trị - xã hội. Công tác tìm kiếm, cất bốc, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ thiếu thông tin được thực hiện đồng bộ, quyết liệt và đạt hiệu quả cao, góp phần xoa dịu những mất mát và nỗi đau chiến tranh, v.v.

Bên cạnh đó, ngành Chính sách Quân đội đã tích cực nghiên cứu, tham mưu giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị toàn quân thực hiện tốt chính sách xã hội trong Quân đội; chính sách đối với người mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh cần chữa trị dài ngày và các trường hợp hiếm muộn, vô sinh. Đồng thời, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội, nhất là các chế độ, chính sách đối với gia đình quân nhân, công nhân và viên chức quốc phòng tại ngũ; hỗ trợ gia đình các đối tượng làm nhiệm vụ nơi khó khăn, gian khổ, gia đình có quân nhân hy sinh, bị thương và tuyển dụng, giải quyết việc làm cho con thương binh nặng, vợ, con liệt sĩ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, thảm họa, cứu hộ, cứu nạn. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị thường xuyên đẩy mạnh các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc người có công, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; vận động đóng góp Quỹ Đền ơn đáp nghĩa; hỗ trợ thân nhân các liệt sĩ đang công tác trong Quân đội, các trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công; vận động xây tặng Nhà tình nghĩa; tặng sổ tiết kiệm cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, v.v.

Với tinh thần trách nhiệm cao, nghĩa tình đồng đội sâu sắc và trên cơ sở thấm nhuần truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, từ năm 2016 đến nay, các cơ quan, đơn vị toàn quân đã thẩm định, đề nghị Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trình Thủ tướng cấp Bằng Tổ quốc ghi công 513 trường hợp; ra quyết định cấp giấy chứng nhận thương binh, bệnh binh đối với 7.453 trường hợp; rà soát, hoàn thiện hơn 900.000 hồ sơ danh sách liệt sĩ phục vụ công tác xác minh, kết luận địa bàn, lập bản đồ tìm kiếm, quy tập; thực hiện tìm kiếm, quy tập 10.866 hài cốt liệt sĩ. Trong thực hiện chính sách hậu phương Quân đội, toàn quân đã trợ cấp khó khăn đột xuất cho 149.144 lượt đối tượng, giải quyết chính sách cho 2.324 đối tượng là quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng; hỗ trợ cho hàng trăm người hiếm muộn vô sinh; xây dựng 4.784 Nhà tình nghĩa và trao 3.558 sổ tiết kiệm tặng đối tượng chính sách; tuyển dụng, tạo việc làm cho 1.097 người là con thương binh nặng và vợ, con liệt sĩ hy sinh trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; nhận phụng dưỡng 2.867 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng,... với tổng giá trị lên đến hàng nghìn tỉ đồng, v.v. Những việc làm đó đã thiết thực góp phần động viên về vật chất, tinh thần đối với quân nhân, gia đình quân nhân và các đối tượng chính sách, tạo động lực, niềm tin trong xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.