Kết quả thực hiện phát huy dân chủ xã hội chủ
nghĩa sau hơn 30 năm đổi mới của đất
nước ta.
Đại hội VI
của Đảng (năm 1986) đã nêu lên bốn bài học lớn, trong đó có bài học: “Trong
toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”,
xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao
động”(1). Văn kiện Đại hội nhấn mạnh “xóa bỏ nhận thức sai
lầm coi công tác quần chúng chỉ là biện pháp để tổ chức, động viên nhân dân
thực hiện các chủ trương, chính sách. Đối với những chủ trương có quan hệ trực
tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa phương phải
trưng cầu ý kiến nhân dân trước khi quyết định”. Nội dung phát huy dân chủ tiếp
tục được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng từ khóa VII đến khóa X đề cập rõ
nét.
Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt
chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân...
Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp...
Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê
phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân...”(2). Đến
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (tháng 1-2016), vấn đề phát huy
dân chủ được khẳng định trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: “Tiếp tục
tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đảng cầm quyền, xác định rõ mục đích
cầm quyền, phương thức cầm quyền, nội dung cầm quyền, điều kiện cầm quyền; vấn
đề phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền; các nguy cơ
cần phải phòng ngừa đối với đảng cầm quyền”(3).
Về phát
huy dân chủ trong Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội (năm
1991) xác định: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và
tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự
nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới,
tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững
truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật
trong sinh hoạt đảng.
Đảng ta và
Bác Hồ luôn xác định thực hành dân chủ trong Đảng có ý nghĩa quyết định đối với
phát triển dân chủ trong tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị gắn với
dân chủ hóa toàn bộ đời sống xã hội, có dân chủ mới có đồng thuận xã hội, có
đồng thuận xã hội mới tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Nội dung phát
huy dân chủ được Đảng ta quy định rất rõ, bảo đảm thật sự tự do tư tưởng trong
sinh hoạt đảng, khuyến khích và tôn trọng sự suy nghĩ độc lập, sáng tạo, thảo
luận, tranh luận dân chủ nhằm phát huy trí tuệ của toàn Đảng, của từng cán bộ,
đảng viên trong việc chuẩn bị các nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết.
Trong đại hội đảng các cấp, trong các hội nghị của Đảng, mỗi đảng viên đều có
quyền thảo luận, bàn bạc, tham gia các công việc của Đảng, phê bình, chất vấn
các cán bộ, đảng viên khác, được trình bày hết ý kiến của mình, có quyền bảo
lưu ý kiến hoặc đề xuất ý kiến lên các cơ quan cấp trên cho đến Đại hội đại
biểu toàn quốc của Đảng. Các nghị quyết, quyết định của tổ chức đảng được thảo
luận tập thể và biểu quyết theo đa số. Việc bầu cử trong Đảng đều được tiến
hành dân chủ theo nguyên tắc bỏ phiếu kín, không gò ép, áp đặt... Đặc biệt,
trong các nhiệm kỳ gần đây, việc thực hành dân chủ trong Đảng tiếp tục được bổ
sung bằng những quy chế, quy định chặt chẽ hơn, như quy định Bộ Chính trị báo
cáo công việc và hoạt động của mình trước mỗi kỳ họp của Ban Chấp hành Trung
ương, ban thường vụ báo cáo công việc và hoạt động của mình trước mỗi kỳ họp
cấp ủy, cấp ủy báo cáo trước tổ chức đảng hoặc cơ quan bầu ra mình; quy định
thời gian tiến hành tự phê bình và phê bình, tổ chức quần chúng phê bình và bỏ
phiếu tín nhiệm cán bộ, đảng viên từ cơ quan cao nhất đến tổ chức cơ sở.
Việc phát
huy dân chủ trong các tổ chức nhà nước có nhiều chuyển biến, tiến bộ. Quốc
hội có những đổi mới quan trọng, từ bầu cử đại biểu Quốc hội đến hoàn thiện về
cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động, làm tốt hơn chức năng lập pháp, công
tác giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Quốc hội hoạt
động ngày càng dân chủ, hiệu quả. Để nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật,
Quốc hội đã có nhiều hình thức để lấy ý kiến góp ý, như tổ chức hội thảo, tọa
đàm, phát phiếu...
Trước và
sau mỗi kỳ họp Quốc hội đều tổ chức tiếp xúc cử tri để nắm bắt tâm tư, nguyện
vọng, kiến nghị của cử tri cả nước. Sau tiếp xúc đều tổng hợp, phân tích những
kiến nghị xác đáng để yêu cầu Chính phủ chỉ đạo giải quyết theo thẩm quyền.
Nhiều khóa gần đây, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp của
Quốc hội, hội đồng nhân dân thật sự sôi nổi, dân chủ, phát huy được trách nhiệm
của đại biểu, được nhân dân cả nước ghi nhận. Định kỳ, Quốc hội, hội đồng nhân
dân tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội, hội đồng
nhân dân bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín. Phát huy dân chủ của Chính phủ tiếp
tục có những đổi mới trong hoạch định chính sách, quản lý vĩ mô, chỉ đạo điều
hành tổ chức thực hiện. Ý thức, trách nhiệm thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ
trương, nghị quyết của Đảng thành các văn bản pháp luật được đề cao. Đặc biệt,
chính quyền các cấp đã có nhiều tiến bộ trong tổ chức tiếp dân, đối thoại với
công dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Đối với công
tác tổ chức cán bộ diện quản lý theo phân cấp của Đảng đều được tập thể ban cán
sự đảng thảo luận dân chủ, bỏ phiếu kín và quyết định theo đa số. Các cơ quan
lập pháp, hành pháp, tư pháp đều tạo điều kiện và phát huy chức năng tuyên
truyền, định hướng dư luận của các phương tiện truyền thông, như báo viết, báo
nói, báo hình, báo mạng...
Phát huy
dân chủ trong các tổ chức chính trị - xã hội cũng có nhiều tiến bộ rõ, thể chế
thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa.
Nhiều văn bản tạo cơ sở pháp lý phát huy quyền làm chủ của các tầng lớp nhân
dân được Quốc hội thông qua, như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công
đoàn, Luật Thanh niên, Luật Trưng cầu ý dân... Những bảo đảm dân chủ về quyền
và nghĩa vụ, lợi ích, trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội được luật hóa cụ
thể hơn và từng bước thực hiện có kết quả; nhiều chủ trương, biện pháp đã phát
huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân, đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa xã
hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 34/PT/UBTVQH, ngày
20-4-2007, “Về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”,
Nghị định số 04/NĐ/CP, ngày 24-1-2013, “Về thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan
hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập”, Nghị định số
60/NĐ-CP, ngày 19-6-2013, “Quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật
Lao động về thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc” đã
góp phần tích cực vào quá trình phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hiện nay,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội đang tích cực thực
hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng
chính quyền trong sạch, vững mạnh. Trước các kỳ họp Quốc hội và hội đồng nhân
dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tập hợp khá đầy đủ các kiến nghị của
các tổ chức thành viên, ý kiến của cử tri cả nước để phản ánh đến Quốc hội; hội
đồng nhân dân các cấp đã thường xuyên giám sát chính quyền trong việc tiếp thu
và giải quyết các kiến nghị chính đáng của đoàn viên, hội viên, cử tri.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét