Thứ Tư, 4 tháng 10, 2023
BẠN CẦN BIẾT: TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ!
CẢNH GIÁC VỚI HÌNH THỨC MỚI TRONG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUÂN CÔNG
Pháp luân công (PLC) còn có tên gọi khác là Pháp luân đại pháp do Lý Hồng Chí (sinh năm 1952 tại Cát Lâm, Trung Quốc) lập ra năm 1992. PLC không phải tôn giáo, không có giáo lý, giáo luật, cấu trúc tổ chức, nhà cầu nguyện…
Thời gian qua, bên cạnh việc sử dụng các hình thức tuyên truyền, lôi kéo người tham gia PLC như trực tiếp tán phát tờ rơi, tặng đĩa CD, sách, quà tặng qua bưu điện... thì hiện nay các đối tượng PLC còn sử dụng hình thức mới là gửi kèm "quà tặng" (đồ vật liên quan đến PLC) cho khách đặt mua hàng online. Với hình thức trên, sau khi chốt đơn hàng các đối tượng sẽ nhắn tin đường link về PLC và gửi "quà tặng" kèm theo hàng hóa được đặt mua, gồm một số đồ vật như: Chuỗi nhựa hình bông sen (dạng móc khóa) có gắn miếng nhựa mika có ghi chữ: “PHÁP LUÂN ĐẠI PHÁP HẢO”, dòng chữ tượng hình, đường link, tài liệu tuyên truyền về PLC.
Khuyến cáo người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện rõ bản chất của PLC, kịp thời phát hiện, trình báo với lực lượng Công an khi phát hiện người có hành vi truyền bá PLC trên địa bàn.
KỶ NIỆM 10 NĂM NGÀY ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP QUA ĐỜI (04/10/2013-04/10/2023)!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "7 DÁM" CHÍNH LÀ QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ!
CẢNH GIÁC, CHỦ ĐỘNG PHÁT HIỆN, NGĂN CHẶN, ĐẤU TRANH VỚI CÁC “HỘI NHÓM YÊU ĐỒ LÍNH VNCH"!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: VỤ VIỆT Á "CỰU BỘ TRƯỞNG Y TẾ NGUYỄN THANH LONG BỊ TRUY TỐ NHẬN 2,25 TRIỆU USD"!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: XIN HỎI NHỮNG NHÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ, VĂN HOÁ HUẾ ĐANG NHĂM NHE “RỬA MẶT, CHẠY TỘI” CHO ĐÁM VUA QUAN BÁN NƯỚC NHÀ NGUYỄN, CÁC VỊ TRẢ LỜI SAO KHI UNESCO NHẬN XÉT VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH?
XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO THANH NIÊN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động mạnh mẽ đến toàn xã hội, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Trước những tác động đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm xây dựng văn hóa ứng xử cho thanh niên trên không gian mạng.
Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu. Không gian mạng là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Với đặc điểm nổi trội là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn, internet, mạng xã hội trở thành môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin, đem lại những lợi ích to lớn, từng bước khẳng định vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội. Đồng thời, tác động một cách trực tiếp, làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi cá thể, qua đó tác động đến sự phát triển của toàn xã hội. Tuy nhiên, internet, mạng xã hội cũng bộc lộ những mặt trái, những tác động tiêu cực đối với đời sống văn hóa xã hội, nhất là nhận thức, thái độ, hành vi của thế hệ trẻ.
Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, mỗi người đều có thể dễ dàng truy cập internet, mạng xã hội. Điều đó vừa tạo thuận lợi cho việc tiếp thu, chia sẻ thông tin, tình cảm, học hỏi, giao lưu văn hóa,… nhưng đồng thời cũng ẩn chứa những nguy cơ, hệ lụy tiêu cực khi người sử dụng không biết khai thác, tiếp nhận, xử lý, chia sẻ thông tin. Trong khi, mạng xã hội của chúng ta chưa được quản lý triệt để, có rất nhiều “rác” thông tin gây ảnh hưởng đến tâm lý, nhân cách và cả phong cách sống của người sử dụng, nhất là thế hệ trẻ.
Trong thời gian gần đây, văn hóa ứng xử của thanh niên trên không gian mạng đang là vấn đề xã hội đáng quan tâm, bởi một bộ phận thanh niên có những phát ngôn, bình luận “thiếu văn hóa”, không phù hợp với đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của Việt Nam… gây bất bình trong dư luận xã hội. Đáng lo ngại hơn là lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tuyên truyền, đăng tải những nội dung, thông tin xấu, độc… Qua đó, nhằm cổ vũ cho tạo tư tưởng thực dụng, suy nghĩ ích kỷ, lối sống không lành mạnh, coi trọng vật chất, quen hưởng thụ ở một bộ phận thanh niên. Thủ đoạn này còn hình thành ở số ít thanh niên thái độ thờ ơ, bàn quan với những biểu hiện sai trái trong cuộc sống, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án; thái độ vô cảm về chính trị, thiếu trách nhiệm với cộng đồng. Nếu không ngăn chặn kịp thời, sẽ dần dẫn đến tình trạng “khô Đảng, nhạt Đoàn”, phai nhạt lý tưởng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ở một bộ phận thanh niên.
Thực tế trên đặt ra yêu cầu có tính khách quan là cần chú trọng xây dựng văn hóa ứng xử cho thanh niên trên không gian mạng hiện nay. Theo đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, nhà trường, gia đình và toàn xã hội cần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, chính trị cho thanh viên.
Mọi hoạt động thông tin tuyên truyền, giáo dục phải hướng đến mục tiêu không ngừng bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng, tinh thần cảnh giác để giới trẻ luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; luôn có thái độ, hành vi đúng đắn khi tham gia vào môi trường không gian mạng. Công tác giáo dục, tuyên truyền phải làm rõ âm mưu của các thế lực thù địch trong sử dụng internet, mạng xã hội để tác động đến tâm lý thanh niên; làm rõ các thủ đoạn đã, đang và sẽ được các thế lực thù địch sử dụng để lôi kéo, kích động thanh thiếu niên; khuyến cáo giới trẻ, đặc biệt thanh niên cảnh giác trước thông tin trên internet, mạng xã hội.
Coi trọng cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; khắc phục tình trạng nhiễu thông tin dẫn đến hoang mang, nảy sinh tư tưởng tiêu cực. Đối với thanh niên, mọi công tác liên quan đến học tập, rèn luyện cần được công khai, minh bạch; tạo mọi điều kiện để thanh thiếu niên hoàn thành chương trình học tập, rèn luyện theo cấp học. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, người đứng đầu các nhà trường, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, gia đình cần thực hiện tốt vai trò xây dựng môi trường văn hóa, là chủ thể hướng dẫn, uốn nắn các hành vi ứng xử của thanh niên, tổ chức duy trì, quản lý hoạt động giáo dục, đào tạo, rèn luyện kỹ năng sống cho thanh niên. Qua đó, giúp thanh thiếu niên có cái nhìn toàn diện, đầy đủ, sâu sắc; có lý tưởng phấn đấu rõ ràng, bản lĩnh chính trị vững vàng; có khả năng phát hiện, phân biệt đúng - sai, tốt - xấu,...
Đặc biệt, cần nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng cho thanh niên. Đây là vấn dề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trước khi “về với thế giới người hiền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” [1]; “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [2]. Do vậy, cấp ủy, chính quyền các cấp, nhà trường, gia đình và toàn xã hội cần thường xuyên quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện thế hệ thanh niên có đủ đức, tài, niềm tin, khát vọng để xứng đáng với vị thế, trọng trách cao cả của mình đối với dân tộc và Tổ quốc. Đây là trách nhiệm không riêng của ai, mà là trách nhiệm chung của các ngành, các cấp và toàn xã hội.
Cùng với đó, cần tăng cường công tác quản lý hệ thống mạng xã hội, ngăn chặn, xử lý nghiêm những hành vi “lệch chuẩn văn hóa”. Các cơ quan chức năng cần kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức tuyên truyền nội dung, thông tin xấu độc, “lệch chuẩn văn hóa”. Đẩy mạnh tuyên truyền Luật an ninh mạng và các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tham gia mạng xã hội để nâng cao ý thức, trách nhiệm của thanh niên. Coi trọng định hướng, hướng dẫn cho thanh niên cách thức khai thác, phân loại, sử dụng thông tin trên mạng hiệu quả; gắn với tuyên truyền, lan tỏa những nội dung thông tin tích cực, những biểu hiện nhân văn, văn hóa trên internet, mạng xã hội theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Từ đó, góp phần xây dựng cho thanh niên cách ứng xử có văn hóa trên không gian mạng, tránh được những ảnh hưởng tiêu cực từ internet và mạng xã hội./.
ĐỪNG CỐ TÌNH XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG” CỦA VIỆT NAM
Sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm Việt Nam và việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, một số tổ chức, cá nhân thù địch phát tán nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc, đả kích đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Họ cho rằng Việt Nam đang “bài Trung, thoát Nga, ngả Mỹ”. Họ tiếp tục cho rằng chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không” của Đảng và Nhà nước Việt Nam là sai lầm, nếu tiếp tục kiên định chính sách này Việt Nam sẽ “bị cô lập” trong cộng đồng quốc tế.
Chúng ta chẳng lạ gì luận điệu đã cũ rích này. Lâu nay, trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, đối ngoại là lĩnh vực trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động nhằm vào để chống phá. Không chỉ phủ nhận những thành tựu của công tác đối ngoại mà bằng nhiều thủ đoạn, họ mưu toan gia tăng tán phát những thông tin sai lệch, xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam; kích động chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước đối tác, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng; phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam; hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Cần phải khẳng định rằng những luận điệu ấy là vô căn cứ, trắng trợn xuyên tạc đường lối đối ngoại và chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam. Nhưng dù bằng luận điệu, chiêu trò gì chăng nữa các tổ chức, cá nhân thù địch cũng không thể xuyên tạc được sự thật. Những gì đã và đang diễn ra trong quan hệ ngoại giao nói chung và đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nói riêng đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái đó.
Quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Việt Nam chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Thực tiễn đã chứng minh chủ trương, chính sách đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với đường lối đối ngoại của đất nước, phù hợp với lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc cũng như tình hình thực tiễn của Việt Nam. Quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Bài học “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”… vẫn còn nguyên giá trị. Từ thực tiễn lịch sử, Việt Nam cho rằng bảo vệ Tổ quốc phải bằng sức mạnh nội lực, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại chứ không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự hay hiệp ước quân sự nào và càng không thể trông chờ, ỷ lại vào bất cứ một quốc gia nào. Sẽ là không phù hợp và sai lầm nếu Việt Nam ngả theo bất cứ phe nào, phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ. Việt Nam không “bài” nước này, “thoát” nước nọ, “ngả” nước kia mà luôn kiên trì phương châm là bạn với tất cả các nước, theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, công lý và lẽ phải, bảo vệ Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ) và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
Từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược hơn ai hết Việt Nam hiểu rõ sự khốc liệt của chiến tranh. Việt Nam không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác. Bởi nếu làm như vậy thì rất dễ biến đất nước mình trở thành mục tiêu tiến công của các thế lực thù địch, khó tránh khỏi nguy cơ bị lôi kéo vào xung đột, chiến tranh. Mặt khác, Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình. Với Việt Nam quốc phòng tối ưu là không phải tiến hành chiến tranh. Việc không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác còn thể hiện rõ thiện chí của Việt Nam trong việc giữ gìn, xây dựng và thúc đẩy hoà bình trên thế giới.
Trong giải quyết các vấn đề của quan hệ quốc tế, nhất là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực mà phải trên cơ sở quán triệt và thực hiện tốt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập, tự chủ... bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chủ trương và cách giải quyết đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân cũng như toàn xã hội, được dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ.
Thực tiễn đã chứng minh chủ trương, chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không” là giải pháp hiệu quả để Việt Nam bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc. Công tác đối ngoại quốc phòng của Việt Nam những năm qua không ngừng mở rộng và thúc đẩy mạnh mẽ. Công tác đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng giữ vai trò tiên phong trong việc tạo lập quan hệ và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa mọi nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao nhà nước với 193 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng với hơn 100 nước và tổ chức quốc tế, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ và tất cả các nước lớn là đối tác chủ chốt, quan trọng. Từ tháng 6-2014 đến nay, Việt Nam đã cử 533 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia gìn giữ hòa bình LHQ và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Đảng, Nhà nước, nhân dân ghi nhận, đồng tình ủng hộ và LHQ cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Những thành quả đó góp phần khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đối ngoại quốc phòng được thúc đẩy mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực phù hợp với nhu cầu, khả năng của Việt Nam cũng như các đối tác và được xác định là phương thức hữu hiệu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Một trong những kênh đối ngoại quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam đó là đối ngoại quốc phòng…
Thực tế đó đã chứng tỏ chẳng những không hề bị cô lập, mà ngược lại quan hệ đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng của Việt Nam ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả. Điều đó mở ra cơ hội thuận lợi để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và quốc phòng Việt Nam trên trường quốc tế.
Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại được Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
Như vậy có thể thấy chủ trương, chính sách đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng, minh bạch, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế chung của thế giới. Những gì được Đảng Cộng sản Việt Nam nêu trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII thêm một lần nữa khẳng định việc thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là hoàn toàn đúng đắn và Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện chính sách này trong những năm tiếp theo.
Nếu ai đó nói rằng Việt Nam “bài”, “thoát” nước này, “ngả” theo nước kia, chính sách quốc phòng “bốn không” là “sai lầm”, Việt Nam sẽ “bị cô lập” nếu kiên trì thực hiện chính sách này… thì đó là hành động cố tình xuyên tạc, bịa đặt nhằm động cơ chính trị và mưu đồ đen tối. Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh, phản bác, loại bỏ những luận điệu sai trái, vô căn cứ ấy ra khỏi đời sống trong nước và quan hệ hợp tác quốc tế.
CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI LÀM ĐẦU TÀU GƯƠNG MẪU
Thực tế cách mạng Việt Nam luôn chứng minh vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ vai trò, vị trí quan trọng của mình, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu cao ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần gương mẫu để dẫn dắt, lôi cuốn quần chúng cùng gắng sức thực hiện nhiệm vụ cách mạng chung của Đảng, của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ cách mạng rất vinh quang, nhưng cũng hết sức nặng nề, khó khăn, đòi hỏi phải có nỗ lực cao của cán bộ, đảng viên. Ngày 8 - 6 - 1959, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Khu Việt Bắc, Người nêu rõ: “Cải tạo xã hội cũ xấu xa trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Muốn làm được sự nghiệp ấy, các cán bộ, đảng viên… cần có ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa cao, một lòng một dạ phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội”. Người đề nghị cán bộ, đảng viên phải luôn nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, luôn tích cực vươn lên hàng đầu, gương mẫu về đạo đức cách mạng cũng như trong công tác, học tập.
Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần thực hiện nghiêm túc sự gương mẫu ở mọi lúc, mọi nơi, thật sự làm gương cho quần chúng nhân dân noi theo”. Người yêu cầu: “Người đảng viên - dù trong công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng… mà muốn làm cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Ngày 10 - 2 - 1967, nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây, Người dạy cán bộ, đảng viên “phải làm đầu tàu, gương mẫu. Muốn làm gương mẫu thì điều quan trọng nhất là các chú từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết thật sự, làm sao tự mình nêu gương”, đồng thời giáo dục cho cán bộ, đảng viên “giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng, làm cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”.
Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh sự gương mẫu của cán bộ các cấp. Ngày 16 - 1 - 1966, tại Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12, Người yêu cầu các đồng chí lãnh đạo cần phải gương mẫu, cần phải đồng cam cộng khổ, quan tâm đến đời sống của cán bộ, của nhân dân.
Là Người cha thân yêu của Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tình cảm, tâm huyết để giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là về tinh thần gương mẫu. Tháng 3 - 1948, trong “Thư gửi Hội nghị quân y”, Người viết: “từ việc lớn đến việc nhỏ, cán bộ đều phải làm kiểu mẫu. Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện quân lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại, mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm gương”. Đến ngày 29 - 1 - 1957, khi nói chuyện với các đại biểu quân đội, thương binh và quân nhân phục viên nhân dịp Tết Đinh Dậu, Người căn dặn: “Trong Quân đội cách mạng, cán bộ phải làm gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”.
Tư tưởng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên đã và đang được toàn Đảng, từng cán bộ, đảng viên, đoàn viên ta quán triệt, thực hiện tích cực và hiệu quả. Đảng đã có nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp để phát huy tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đoàn viên. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thành tích, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm, tồn tại: “Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên. Công chức, viên chức chưa gương mẫu” và “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…”.
Để khắc phục tình trạng trên, Đảng xác định phải có chủ trương, giải pháp đồng bộ, hiệu quả, đặc biệt là phát huy cao nhất vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định: phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trong đó, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Đảng viên tự giác nêu gương để qua đó khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu của mình và tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng phát triển. Đảng cũng có nhiều biện pháp tích cực để tạo thuận lợi cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên phát huy được hiệu quả nhất sự tiên phong, gương mẫu của mình. Như việc khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm đã được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra: “Có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ những cán bộ, đảng viên có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”.
Tình hình cách mạng trong giai đoạn mới đã và đang đỏi hỏi cán bộ, đảng viên cần thật sự tự giác tăng cường rèn luyện phấn đấu, nêu cao tinh thần tiên phong gương mẫu thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, được tổ chức vào ngày 9 - 12 - 2021: “Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu, người chủ trì phải gương mẫu, tự giác làm trước (ngay sau Hội nghị này, không phải chờ đợi gì cả); căn cứ vào Nghị quyết, Kết luận và Quy định lần này, nghiêm túc tự phê bình, kiểm điểm, tự soi lại mình, đơn vị mình, gia đình mình, cái tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình. Mọi đảng viên đều phải làm như vậy, chứ không phải chỉ đứng ngoài mà “phán”, hoặc “ chờ xem”, coi như vô can”.
Làm được như vậy, chúng ta sẽ góp phần xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ CON ĐƯỜNG DUY NHẤT ĐÚNG CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và Nhân dân đã được lịch sử chứng minh là lựa chọn đúng đắn, nhờ đó mà cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành chính quyền về tay Nhân dân, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, rồi thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Ấy vậy mà gần đây, vẫn có những giọng điệu lạc lõng của những kẻ chống phá đòi Đảng và Nhân dân ta phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn và đi theo con đường khác, vì họ cho rằng: Đó là “con đường sai lầm, dẫn dân tộc đến đường cùng, ngõ cụt”; “Chủ nghĩa xã hội tồn tại vì một mục đích duy nhất: quyền lực cho những kẻ thống trị”; “Con đường XHCN mà nhân dân Việt Nam đang đi là trái với quá trình lịch sử – tự nhiên” và “ĐCSVN còn coi đi lên CNXH làm mục tiêu thì đại hội nào cũng sẽ giống đại hội nào”… Thực chất đây là những luận điệu sai trái, “lập lờ đánh lận con đen”, cố tình xuyên tạc con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, là khát vọng của dân tộc và Nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường duy nhất của cách mạng Việt Nam vì độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân. Hơn 93 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đồng thời cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; qua đó, lập nên những chiến công oanh liệt, những thắng lợi vẻ vang và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tích cực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, dự báo đúng tình hình; kịp thời đề ra đường lối đổi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực tiễn khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Việt Nam là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của thời đại. Những thành tựu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện công cuộc đổi mới của Việt Nam không những được Nhân dân ta ghi nhận, mà còn được cộng động quốc tế đánh giá cao. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đánh giá: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội… Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước”.
Như vậy, với những thành tựu to lớn mà chúng ta đạt được trên tất cả các lĩnh vực trong công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua là bằng chứng của sự vươn lên, khẳng định việc xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hôi chủ nghĩa là vô cùng đúng đắn. Đó cũng là minh chứng sinh động để chúng ta bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các phần tử chống đối, thù địch, cơ hội chính trị.
ĐỜI TẦM GỬI
Nếu chỉ vì miếng cơm manh áo, chỉ vì danh lợi thuần túy mà “sống nhờ, sống gửi, sống bám” vào người khác, vào tập thể thì chẳng khác nào một đời tầm gửi.
Trong thế giới thực vật, có một loại cây muốn tồn tại phải suốt đời đeo bám, ký sinh vào cây khác, đó là tầm gửi. “Ký sinh” có nghĩa là sống nhờ vả, phó thác. Tầm gửi suốt đời phải “ăn nhờ ở đậu” cây chủ mới có chất dinh dưỡng để sinh tồn.
Từ số phận của loại tầm gửi “sống gửi thác nhờ” mà người đời liên tưởng đến những kẻ sống dựa dẫm, ỷ lại, ăn theo nói leo, đeo bám vào người khác, vào tập thể mới có thể tồn tại, dung thân. Những kẻ tầm gửi thời nay biểu hiện dưới muôn hình muôn vẻ: Thô thiển có, lươn lẹo có, tinh vi có, nhợt nhạt có, buông xuôi có.
Với những kẻ thô thiển, đi đâu, ở chỗ nào họ cũng “đánh bóng” bản thân bằng cách luôn tỏ ra là người giao thiệp rộng rãi, quan hệ với nhiều VIP trong xã hội. Họ thích khua môi múa mép, thao thao bất tuyệt rằng “Tôi quen biết ông X, chơi thân với bà Y, quan hệ mật thiết với anh Z”. Ông X, bà Y, anh Z là những người nếu không có quyền cao chức trọng được nhiều người biết đến, thì cũng là những người nắm giữ các công việc có thể mang lại lợi ích, “lộc chùa” cho người khác, trong đó có bản thân họ.
Với những kẻ lươn lẹo, họ chẳng bao giờ sống thực với chính mình. Đối với cấp trên, họ thường thể hiện sự nhún nhường, khúm núm, “một dạ, hai vâng” và luôn biết “chọn thời, lựa vận” để tâng bốc, bỡ đợ từng lời ăn tiếng nói của bề trên. Với đồng nghiệp, đồng cấp, họ thực hiện phương châm “im lặng là vàng”, “gió chiều nào che chiều ấy”, thích vuốt ve, nuông chiều để lấy lòng người khác. Cách sống dè dặt, bạc nhược đó cũng không ngoài mục đích được nhiều người “chở che, đùm bọc” để dễ bề tiến thân hay kiếm chác, thu vén lợi lộc cho cá nhân.
Với những kẻ tinh vi, họ không bao giờ dám bộc lộ cá tính bản thân trong tập thể. Thấy đúng họ không những không bảo vệ mà còn giả vờ như “không nghe, không biết”; thấy sai không những không dám phê phán, mà còn tìm cách tránh xa vì sợ đấu tranh thì “không sứt đầu cũng mẻ tai”, chẳng dại gì mà tự liên lụy đến mình. Kiểu sống khư khư giữ bản thân như thế có thể được tiếng là chan hòa, nhưng thực chất đó là một thứ sống “dựa hơi” vào tập thể để mà tồn tại.
Với những kẻ nhợt nhạt, họ sống lắt lay như một cái bóng âm thầm trong tổ chức, cơ quan, đơn vị. Không bon chen, chẳng tranh đua, không ưa cả “phe này” lẫn “cánh nọ”, cứ tưởng họ sống biết điều, trung lập vì không đụng chạm đến ai, nhưng thực tế lối sống trung dung, hời hợt đó cũng là một kiểu ỷ lại, ký sinh vào tập thể!
Với những kẻ buông xuôi, họ cho mọi thứ như nước chảy bèo trôi, chẳng mấy khi quan tâm đến chuyện buồn vui của người khác, của tổ chức. Những người này có thể có công lao, thành tích trong quá khứ, nhưng thấy công việc, cuộc sống hiện thời không như mình mong muốn nên đâm ra chán nản, tự co cụm trong “cái tôi” nhỏ bé của mình rồi loay hoay hoài niệm theo kiểu “ăn mày dĩ vãng” và rơi vào chủ nghĩa “makeno” (mặc kệ nó). Những người lấy quá khứ “vang bóng một thời” như một thứ dây neo để bám vào tập thể rồi chờ đợi đến ngày nhận sổ lương hưu, tuy chưa phổ biến song cũng không còn là hiện tượng cá biệt.
Châm ngôn có câu “Cây thẳng bóng ngay, cây cong bóng vẹo” và “Sống chớ khom lưng, uốn gối, dập đầu”. Ai sống lom khom thì lưng dễ còng. Ai hay quỳ thì gối dễ trầy xước. Ai hay dập đầu thì cổ dễ nghẹo. Người nào mà không tự đứng trên đôi chân, không tự đi bằng chính đôi chân của mình thì mặt mày khó có thể ung dung ngẩng cao đầu trước thiên hạ. Nếu chỉ vì miếng cơm manh áo, chỉ vì danh lợi thuần túy mà “sống nhờ, sống gửi, sống bám” vào người khác, vào tập thể thì chẳng khác nào một đời tầm gửi.
Đã là đời tầm gửi chẳng bao giờ có tự do. Khi cây nhờ cậy bị gió bão làm thân gãy cành rơi thì tầm gửi cũng dễ rã rời, tan nát. Còn nếu cây chẳng may chết đi thì tầm gửi cũng tàn lụi theo. Đã là tầm gửi thì không thể có cuộc sống thực, bởi nó tồn tại theo sự tồn tại của “cây chủ” mà nó nhờ vả, ăn bám. Đời tầm gửi như thế, thật nhạt nhòa thay!
Cảnh giác chiêu trò lợi dụng vỏ bọc tôn giáo để hướng dẫn tín đồ đối phó với chính quyền
Với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước ta trong thời gian gần đây các thành
viên của tổ chức phản động lưu vong tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động thông qua nhóm “Người Thượng
vì Công lý (MSFJ)”.
Nhằm thực hiện âm mưu thành lập cái
gọi là “Nhà nước Đêga” hoặc “Nhà nước Đêga Cao nguyên” ở Đông Dương, tách
Tây Nguyên ra khỏi chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, biến Tây Nguyên thành khu vực
mất ổn định, vùng “tự trị”, tiến tới thành lập “nhà nước độc lập”. Những kẻ
chống phá đã lấy danh nghĩa “thúc đẩy hòa
bình và bảo vệ quyền con người của những người bị áp bức tại Tây Nguyên”, kích động mâu thuẫn để hình thành các “điểm nóng
xung đột”, làm mất ổn định an ninh, chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.
Trên trang Công an nhân dân online ngày 18/6/2023 có bài viết “Vạch trần bộ
mặt thật của nhóm “Người Thượng vì công lý - MSFJ””. Bài báo nêu rõ: Theo tài liệu Cơ quan An ninh Đắk Lắk,
nhóm “Người Thượng vì công lý - MSFJ” (Montagnards Stand For Justice) được
thành lập vào năm 2019 bởi các đối tượng phản động: Y Phic Hdok (sinh sống tại
Mỹ), Y Quynh Bdăp (sinh sống tại Thái Lan) cùng 15 đối tượng phản động, lưu
vong khác.
Để hoạt động, nhóm này đã lấy cái
danh mĩ miều là “thúc đẩy hòa bình và bảo vệ quyền con người của những người bị
áp bức tại Tây Nguyên”, nhưng thực chất Y Quynh Bdăp và nhóm MSFJ của hắn lại
thông qua trang mạng xã hội liên lạc, kích động những người thiếu hiểu biết
trong nước vi phạm pháp luật để chính quyền xử lý, từ đó, thu thập, sử dụng các
thông tin sai sự thật và xuyên tạc nhằm vu cáo Việt Nam phân biệt đối xử, đàn
áp người dân tộc và gia tăng hoạt động vận động, tranh thủ sự ủng hộ của các
nước, các tổ chức quốc tế nhằm mục đích vụ lợi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn
dân tộc…”
Với những chiêu bài trên cho thấy bọn
phản động lưu vong đang lợi dụng vào sự thiếu hiểu biết của quần chúng nhân dân
đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các phương tiện thông tin, các hoạt động
gây quỹ, các buổi hội họp bằng luận điệu xuyên tạc để tuyên truyền dụ dỗ, lôi
kéo, mua chuộc và lửa phỉnh đồng bào thiểu số để phục vụ mưu đồ phản động của
chúng. Về bản chất, hành động của nhóm Y
Quynh Bdăp này là tiếp tay cho đám phản động lưu vong người Mỹ đẩy người
dân tộc thiểu số Tây Nguyên vào chống phá chính quyền, biến họ thành “nạn
nhân”, “nhân chứng” tố cáo “vi phạm nhân quyền” của Nhà nước. Hành
động này chẳng khác nào bán rẻ đồng bào
mình cho chiêu bài của thế lực thù địch, nhằm tạo cớ can thiệp vào nội bộ Việt
Nam. Chính chúng là những kẻ núp danh “công lý” nhưng là vì động cơ vụ lợi, vì
toan tính đen tối mà bất chấp thủ đoạn, đẩy đồng bào mình vào tình cảnh vi phạm
pháp luật.
Thực tế cho
thấy Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt và có những chính sách
rất cụ thể về vấn đề dân tộc, tôn giáo Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Hiến pháp năm 2013 của
Việt Nam quy định cụ thể tại điều 24 rằng: “Mọi người có quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng
trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo”. Trên tinh thần đó, Nhà nước Việt
Nam luôn nhất quán chính sách tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người
dân thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng và đang nỗ lực bảo đảm tốt nhất
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bình đẳng giữa các tôn giáo.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 18-11-2016. Sau đó, Chính phủ đã ký ban hành
Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Ngoài ra, các lĩnh vực hoạt động khác có liên quan
đến tôn giáo như: giáo dục, đào tạo chức sắc tôn giáo; xây dựng, sửa chữa cơ sở
thờ tự tôn giáo; hoạt động từ thiện, bảo trợ xã hội đã được điều chỉnh tại một số luật có liên quan cho phù
hợp với các quy định về tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cùng với việc tạo điều kiện thuận
lợi để người dân thực hành tự do tín ngưỡng tôn giáo, Nhà nước khuyến khích và
tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế.
Việt Nam còn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động quan hệ quốc tế của
các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng.
Dân tộc, tôn giáo là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm
để tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, để giải quyết nhu cầu tín ngưỡng, hướng con người đến
các giá trị tốt đẹp. Không thể nào lợi dụng vỏ bọc tôn giáo để hướng dẫn tín đồ đối phó với chính
quyền, kêu gọi biểu tình, lập tôn giáo riêng, lập Nhà nước riêng, làm ảnh hưởng
tới lợi ích
an ninh quốc gia, dân tộc và quyền của
những người khác. Đó là hành vi cần phải ngăn chặn.

















