Thứ Tư, 4 tháng 10, 2023

BẠN CẦN BIẾT: TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ!

     Đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là đoàn kết trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và đoàn kết trong các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đoàn kết quốc tế là nhân tố bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội cũng như thắng lợi của công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế chứa đựng nhiều nội dung phong phú, rộng lớn; được thể hiện một cách rõ ràng, nhất quán, kiên định qua nhận thức, quan điểm và hành động của Người. Đáng chú ý một số điểm như sau:

Thứ nhất, đoàn kết quốc tế là một đòi hỏi khách quan, một vấn đề có tính nguyên tắc, là chiến lược xuyên suốt, nhất quán và có vai trò, vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng Việt Nam.

Tiếp bước con đường đi ra thế giới của các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh; rút kinh nghiệm từ thất bại của những phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược đầu thế kỷ XX; nhờ những trải nghiệm trong thời gian sinh sống, lao động ở nước ngoài; qua hoạt động với tư cách đảng viên Đảng Xã hội Pháp, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, và nhất là nhận được nguồn cổ vũ lớn từ thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh là người đầu tiên và duy nhất xác định rõ ràng nền tảng, nhân tố quan trọng cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là đoàn kết, hội nhập với thế giới.

Trong quan điểm của Người, thân phận bất hạnh của đa số “người bị bóc lột”, người lao động nghèo ở các nước là cơ sở chính hình thành nên “tình hữu ái”, sự đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới; đoàn kết quốc tế là yếu tố quan trọng làm nên sức mạnh của cách mạng giải phóng dân tộc nói chung và cách mạng ở Việt Nam nói riêng.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm rõ ràng về mục tiêu của đoàn kết quốc tế. Đó là, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp, vì quốc gia, dân tộc và vì nền hòa bình của khu vực và trên thế giới. Với Hồ Chí Minh, “sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới… Sự đoàn kết quốc tế có một ý nghĩa to lớn với chúng tôi”.

Thứ ba, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết quốc tế, để thực sự tạo nên sức mạnh, phải được xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản: 1) không phân biệt, bình đẳng, cùng có lợi; 2) tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; 3) phải phát huy tinh thần “tự lực cánh sinh”, dựa vào sức của mình là chính; 4) có lý, có tình. Trong Lời tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Chính phủ các nước trên thế giới ngày 14-1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới”. Người khẳng định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hòa bình”. Đây là thông điệp về hòa bình, hợp tác, hữu nghị, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhau của nhân dân Việt Nam với thế giới. Đây cũng là tư duy, tầm nhìn vượt thời đại của Hồ Chí Minh.

Thứ tư, đoàn kết quốc tế, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề tập hợp lực lượng là rất quan trọng. Lực lượng đoàn kết quốc tế, theo tư tưởng của Người, rất phong phú song tập trung chủ yếu vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình, dân chủ thế giới. Hồ Chủ tịch đã thành công khi gắn cuộc đấu tranh vì độc lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng để tập hợp và tranh thủ được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đồng thời, trong việc mở rộng lực lượng đoàn kết quốc tế, Người còn xác định rõ vai trò quan trọng của các quốc gia láng giềng, các nước lớn.

Có thể khẳng định, tư tưởng về đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những định hướng, nền tảng, cơ sở lý luận quan trọng cho việc hoạch định và thực thi đường lối, chính sách đối ngoại Việt Nam, là ánh sáng soi đường của đối ngoại Việt Nam./.
Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC VỚI HÌNH THỨC MỚI TRONG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUÂN CÔNG

 

Pháp luân công (PLC) còn có tên gọi khác là Pháp luân đại pháp do Lý Hồng Chí (sinh năm 1952 tại Cát Lâm, Trung Quốc) lập ra năm 1992. PLC không phải tôn giáo, không có giáo lý, giáo luật, cấu trúc tổ chức, nhà cầu nguyện…


Thời gian qua, bên cạnh việc sử dụng các hình thức tuyên truyền, lôi kéo người tham gia PLC như trực tiếp tán phát tờ rơi, tặng đĩa CD, sách, quà tặng qua bưu điện... thì hiện nay các đối tượng PLC còn sử dụng hình thức mới là gửi kèm "quà tặng" (đồ vật liên quan đến PLC) cho khách đặt mua hàng online. Với hình thức trên, sau khi chốt đơn hàng các đối tượng sẽ nhắn tin đường link về PLC và gửi "quà tặng" kèm theo hàng hóa được đặt mua, gồm một số đồ vật như: Chuỗi nhựa hình bông sen (dạng móc khóa) có gắn miếng nhựa mika có ghi chữ: “PHÁP LUÂN ĐẠI PHÁP HẢO”, dòng chữ tượng hình, đường link, tài liệu tuyên truyền về PLC.


Khuyến cáo người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện rõ bản chất của PLC, kịp thời phát hiện, trình báo với lực lượng Công an khi phát hiện người có hành vi truyền bá PLC trên địa bàn.

KỶ NIỆM 10 NĂM NGÀY ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP QUA ĐỜI (04/10/2013-04/10/2023)!

         Ngày này 10 năm trước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần, hưởng thọ 103 tuổi. Ngày tiễn đưa Đại tướng, người dân cả nước khóc nghẹn tiễn đưa Đại tướng về đất Mẹ. 

Suốt 10 năm qua, những bài báo tỏ bày tình cảm kính yêu và tiếc thương vô vàn của người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế dành cho Đại tướng vẫn tiếp nối.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng liên tục trên 80 năm, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Là người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là Đại tướng đầu tiên và Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí được nhân dân yêu mến, kính trọng, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Tên tuổi và sự nghiệp của ông đã không chỉ được khắc ghi trong lịch sử dân tộc mà còn lừng danh thế giới và luôn ngời sáng mãi trong lòng dân…
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG!

     Ngày 02/10, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng!

"Kính thưa Trung ương;
Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,
Trong không khí hân hoan, phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân ta trước những kết quả, thành tích về các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng - an ninh; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; đặc biệt là về một loạt những hoạt động đối ngoại quan trọng, sôi động, được dư luận trong nước và quốc tế rất quan tâm, hôm nay Ban Chấp hành Trung ương khai mạc Hội nghị toàn thể lần thứ tám của khóa XIII với nhiều nội dung rất cơ bản và quan trọng.

Cụ thể là Trung ương sẽ bàn và cho ý kiến kết luận về các vấn đề sau: (1) Tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023, kế hoạch năm 2024; Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2024 - 2026 và lộ trình thực hiện chế độ tiền lương mới. (2) Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020. (3) Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. (4) Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. (5) Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. (6) Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; và một số vấn đề quan trọng khác.

Trước hết, tôi xin được thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các đại biểu tham dự Hội nghị và xin gửi tới các đồng chí lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí,
Theo Quy chế làm việc, Văn phòng Trung ương Đảng đã gửi tài liệu để các đồng chí nghiên cứu trước. Sau đây, tôi xin phát biểu một số ý kiến, có tính chất gợi mở, nêu vấn đề mong được các đồng chí quan tâm trong quá trình nghiên cứu, thảo luận, xem xét, quyết định.

1. Về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023 - 2024
Việc Trung ương xem xét, cho ý kiến về các vấn đề kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023 - 2024 được đặt trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ, khó khăn, thách thức nhiều hơn, lớn hơn so với thời cơ, thuận lợi và so với dự báo, đã ảnh hưởng tiêu cực, rất nặng nề đối với việc triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.

Trong khi ở trong nước, chúng ta vẫn phải tiếp tục đối mặt với "tác động kép" từ các yếu tố tiêu cực bên ngoài đối với nền kinh tế có độ mở cao như nước ta, và những tồn tại, hạn chế, yếu kém nội tại, kéo dài từ lâu của nền kinh tế tiếp tục bộc lộ rõ và gay gắt hơn trong quá trình khắc phục hậu quả của đại dịch COVID-19.

Đề nghị các đồng chí Trung ương nghiên cứu thật kỹ Tờ trình và các Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ, tập trung thảo luận, phân tích sâu những đặc điểm nổi bật của năm 2023, làm rõ những kết quả đã đạt được; những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, những khó khăn, vướng mắc phải giải quyết, những thách thức phải tiếp tục vượt qua; chỉ ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan và bài học kinh nghiệm; dự báo những khả năng, những tình huống sắp tới, trước hết là từ nay đến cuối năm 2023 và năm 2024 với tinh thần thật sự khách quan, toàn diện.

Chú ý đến những khó khăn, hạn chế đã và sẽ phải đối mặt như: Kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc do phải chịu nhiều áp lực từ thị trường nước ngoài; thị trường tài chính - tiền tệ, bất động sản, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp còn khó khăn và tiềm ẩn rủi ro; hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động trong nhiều lĩnh vực gặp khó khăn; sức chống chịu của doanh nghiệp bị bào mòn sau đại dịch COVID-19; một số cơ chế, chính sách, quy định của pháp luật chậm được bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hoặc chưa được thực hiện nghiêm minh; một bộ phận cán bộ sợ trách nhiệm, sợ sai, đùn đẩy, né tránh giải quyết công việc thuộc thẩm quyền; tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn phức tạp...

Từ đó, xác định rõ ràng, đúng đắn những quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, một số chỉ tiêu cơ bản, quan trọng và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của những tháng còn lại của năm 2023 và cho năm 2024; trong đó có sự cần thiết, đúng đắn của việc thực hiện chế độ tiền lương mới từ ngày 01/7/2024.

2. Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội
Trong 10 năm qua, đất nước ta đã phát triển, đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, thể hiện ngày càng rõ tính ưu việt của Chế độ ta: Kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển ổn định và hài hòa hơn; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trên mọi miền đất nước được nâng lên; Việt Nam là một quốc gia đi đầu trong việc giảm nghèo, thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc.

Các chính sách xã hội không ngừng được hoàn thiện, từng bước nâng cao chất lượng, mức hỗ trợ và mở rộng diện bao phủ theo hướng công bằng, tiến bộ, tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, cơ bản bảo đảm an sinh của người dân theo quy định của Hiến pháp.

Thực hiện tốt chính sách ưu đãi và tôn vinh đối với người có công. Thể chế thị trường lao động từng bước được hoàn thiện; việc làm cho người lao động cơ bản được bảo đảm. Hệ thống y tế, giáo dục, an sinh và trợ giúp xã hội tiếp tục được kiện toàn và mở rộng.

Quy mô, năng lực, chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu được nâng lên; công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện. Nguồn lực thực hiện chính sách xã hội được Nhà nước ưu tiên đầu tư, gắn với đẩy mạnh xã hội hoá, thu hút sự tham gia của toàn xã hội...

Tuy nhiên, chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội vẫn còn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém, và nhìn chung chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.

Để thực hiện được mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ do Đại hội XIII của Đảng đề ra, chúng ta cần tập trung thảo luận làm rõ, tạo sự thống nhất cao về nhận định, đánh giá tình hình, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; sự cần thiết, đúng đắn của việc ban hành Nghị quyết mới của Trung ương về vấn đề đặc biệt quan trọng này.

Từ đó, phân tích, dự báo một cách có cơ sở khoa học về bối cảnh tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ mới; xác định rõ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách xã hội đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân trong thời kỳ mới.

3. Về tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Báo cáo tổng kết, Tờ trình và dự thảo Nghị quyết mới của Trung ương đã được chuẩn bị công phu, nghiêm túc trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp các báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề, kết quả khảo sát, hội thảo, lấy ý kiến của các địa phương, cơ quan, đơn vị, các chuyên gia, nhà khoa học, và tiếp thu ý kiến chỉ đạo trực tiếp của tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư để hoàn thiện.

Trong đó, đã phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện những kết quả, thành tựu đã đạt được, những hạn chế, khuyết điểm còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; đồng thời phân tích, dự báo bối cảnh tình hình mới; từ đó đề xuất quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, yêu cầu và chủ trương chính sách cần phải triển khai thực hiện trong thời kỳ mới theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Đề nghị các đồng chí Trung ương và các đại biểu tham dự Hội nghị nghiên cứu thật kỹ, phát biểu, thảo luận thật sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến cụ thể, sát hợp với tình hình.

Chú ý phân tích, làm rõ, tạo sự thống nhất cao về bối cảnh tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ mới, sự phát triển và thay đổi về nhu cầu, lợi ích của các giai tầng xã hội hiện nay; những kết quả, thành tựu chủ yếu cần tiếp tục được phát huy; những hạn chế, khuyết điểm cần sớm được khắc phục, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm được rút ra, và chủ trương, chính sách tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ đó, cho ý kiến về sự cần thiết, đúng đắn của việc ban hành Nghị quyết mới và những nội dung chủ yếu của dự thảo Nghị quyết về "Tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Bối cảnh tình hình mới đòi hỏi chúng ta phải quan tâm xây dựng, phát triển và phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò, vị trí và sự đóng góp của đội ngũ trí thức nước nhà - Nguyên khí của quốc gia.

4. Về xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới
Như chúng ta đều biết, trong mọi thời đại và ở bất cứ quốc gia nào, đội ngũ trí thức luôn luôn là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia, dân tộc.

Thế giới ngày nay đã, đang và sẽ đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức mới đan xen đối với sự phát triển nhanh và bền vững dưới tác động của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trí tuệ nhân tạo và một số thành tựu công nghệ mới có khả năng thay thế con người trên một số lĩnh vực, tạo ra khối lượng thông tin, tri thức khổng lồ và những hiệu ứng làm thay đổi cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, con người và lối sống.

Bối cảnh tình hình mới đòi hỏi chúng ta phải quan tâm xây dựng, phát triển và phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò, vị trí và sự đóng góp của đội ngũ trí thức nước nhà - Nguyên khí của quốc gia, đáp ứng yêu cầu chủ động, tích cực tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đề nghị Trung ương nghiên cứu thật kỹ các tài liệu, tập trung thảo luận, cho ý kiến đánh giá khách quan, toàn diện tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức, chỉ ra những kết quả chủ yếu đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; phân tích, dự báo bối cảnh tình hình mới; từ đó đề ra quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục đẩy mạnh xây dựng đội ngũ trí thức; chú ý kế thừa những nội dung còn nguyên giá trị của Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, và bổ sung, phát triển những nội dung mới, phù hợp với thời kỳ mới.

5. Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Cách đây 10 năm, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với sự đổi mới tư duy mạnh mẽ và có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp mang tính đột phá, khả thi cao.

Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết quan trọng này là việc làm hết sức cần thiết để Trung ương phân tích, đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống tình hình và đề ra các chủ trương, chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực đã và đang có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường.

Đề nghị các đồng chí tập trung phân tích, đánh giá thật khách quan, toàn diện những kết quả đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và phân tích nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu. Chỉ rõ những mục tiêu, quan điểm, phương châm, tư tưởng chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp nào đã được thực tế kiểm nghiệm là đúng đắn, cần tiếp tục kiên trì, nghiêm túc thực hiện.

Đồng thời, cần phân tích thật thấu đáo bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế, thấy rõ những biến đổi sâu sắc, diễn biến phức tạp, khó lường và dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới để kịp thời bổ sung, phát triển một số quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và điều chỉnh một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cho phù hợp với tình hình mới.

Tập trung làm rõ những thuận lợi, cơ hội cần nắm bắt, những khó khăn, thách thức phải vượt qua để chủ động từ sớm, từ xa, trong mọi tình huống đều bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, cho ý kiến góp ý hoàn thiện dự thảo Nghị quyết mới của Trung ương về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tổng Bí thư đề nghị Trung ương phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự khách quan, công tâm, thể hiện chính kiến của mình đối với Tờ trình và dự kiến Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

6. Về quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV
Như chúng ta đều biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"; và thực hiện lời dạy của Bác, Đảng ta lâu nay luôn luôn xác định: Cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ; công tác cán bộ được coi là khâu then chốt trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng.

Và trong công tác cán bộ thì việc quy hoạch cán bộ là khâu mở đầu, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là cơ sở để làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ.

Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt đó của công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, ngày 07/7/2023 vừa qua, căn cứ vào quy chế làm việc và Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27/12/2021 của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ, Bộ Chính trị đã ban hành Kế hoạch số 17-KH/TW về xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031, trong đó xác định rõ các quan điểm, nguyên tắc; mục đích yêu cầu; tiêu chuẩn; số lượng và cơ cấu; đối tượng và độ tuổi; quy trình giới thiệu, phê duyệt quy hoạch và hồ sơ nhân sự; số lượng phát hiện, giới thiệu đưa vào quy hoạch...

Thời gian qua, trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của các cấp uỷ, tổ chức đảng trong toàn hệ thống chính trị, Ban Chỉ đạo xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã khẩn trương, nghiêm túc phối hợp với các cơ quan chức năng ở Trung ương rà soát, thẩm định, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, cho định hướng hoàn thiện thêm một bước dự kiến quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV để trình Trung ương xem xét, cho ý kiến tại Hội nghị lần này.

Đề nghị các đồng chí phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự khách quan, công tâm, thể hiện chính kiến của mình đối với Tờ trình và dự kiến Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Thưa các đồng chí,
Hội nghị Trung ương lần này xem xét, quyết định nhiều vấn đề trọng đại, phức tạp, nhạy cảm, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII từ nay đến hết nhiệm kỳ. Đề nghị Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị phát huy trí tuệ, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, cho ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn"./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "7 DÁM" CHÍNH LÀ QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ!

     Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã có chỉ đạo rất sâu sắc về công tác cán bộ: “...Chúng ta phải chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội theo tinh thần “7 dám”: “Dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới, sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”.
Tôi thấy, đây chính là quan điểm, phương châm, mục tiêu, tiêu chuẩn đối với công tác cán bộ nói chung, cán bộ Quân đội nói riêng xuyên suốt quy trình tuyển chọn, đào tạo, rèn luyện, thử thách, bố trí, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ hiện nay và trong tương lai. Đây cũng là một cách cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ: “Đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau là việc rất cần thiết và rất quan trọng”. Công tác cán bộ phải có vai trò quyết định trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên”... Tuy nhiên, theo tôi cần phải làm rõ và cụ thể hóa tinh thần “7 dám” cụ thể như sau:
"Dám nghĩ” phải thể hiện được cái tâm, cái tầm, cái trí của cán bộ. Nghĩ vì lợi ích chung của tập thể, của xã hội; suy nghĩ tích cực để có sáng kiến mới, hiệu quả chứ không phải “dám nghĩ" để đạt được lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy tùy cấp thì “dám nghĩ” đến chiến lược, sách lược mang tính định hướng dài hạn của một cơ quan, đơn vị, của địa phương, ngành... Cán bộ cấp thừa hành thì “dám nghĩ” đến sáng kiến đề xuất biện pháp, cách thức tổ chức thực hiện hiệu quả nhất.

“Dám nói” thể hiện được cái dũng của cán bộ, trên cơ sở những điều “dám nghĩ” tích cực. Tuy nhiên, “dám nói” nghĩa là phải nói đúng nơi, đúng lúc, đúng thời điểm, đúng người cần nghe, nói trên tinh thần xây dựng, nói để phản biện xã hội để đạt được cái thống nhất chứ không phải đụng đâu nói đó, nói một cách tùy tiện, nói để thỏa mãn cái tôi.

“Dám làm” là thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của cán bộ, đó cũng là thước đo bản lĩnh, năng lực triển khai thực hành nhiệm vụ được giao của cán bộ. Đối với cán bộ lãnh đạo thì “dám làm” là năng lực xây dựng kế hoạch, chương trình hành động với các biện pháp tổ chức thực hiện khoa học, hợp lý, chính xác, phát huy được sức mạnh tập thể.
Đối với cán bộ thừa hành “Dám làm” là khả năng vận dụng linh hoạt cơ sở vật chất, tinh thần để thực hiện ý định của cấp trên một cách nhanh chóng, hiệu quả trên tinh thần phát huy năng lực cá nhân cũng như khả năng phối hợp nhóm, mưu trí sáng tạo, chủ động, linh hoạt trong quá thực hiện nhiệm vụ được giao, nâng cao khả năng hoàn thành nhiệm vụ, biến lý luận thành hiện thực cách mạng. 

“Dám làm” còn phải được hiểu là phải làm đúng, làm đủ và hoàn thành nhiệm vụ được giao trên cơ sở khoa học, có sự tư duy tích cực, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ... khác với dám làm liều, làm ẩu, làm cho qua việc, làm đối phó với cấp trên, làm chỉ vì lợi ích nhóm, lợi cá nhân.

"Dám chịu trách nhiệm” chính là bản lĩnh chính trị của cán bộ, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp. “Dám chịu trách nhiệm” còn là sự thể hiện năng lực dám tiếp nhận phê bình, đóng góp từ tập thể, kể cả từ cấp dưới để điều chỉnh, bổ sung biện pháp chỉ huy điều hành phù hợp với thực tế và chịu trách nhiệm đến cùng với quyết định của mình.
Trong tình hình hiện nay, “Dám chịu trách nhiệm” còn là năng lực “dám từ chối”, “dám nói không” với tiêu cực.

“Dám đổi mới, sáng tạo” là sự đánh giá năng lực tổng hợp nền tảng tri thức khoa học với bản lĩnh chính trị tư tưởng của cán bộ. Đổi mới và sáng tạo là xu thế tất yếu khách quan của sự phát triển. Cán bộ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững chắc, nắm chắc xu thế phát triển sẽ mạnh dạn dám đổi mới, sáng tạo.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ: “Cán bộ phải vừa hồng vừa chuyên”. Đổi mới, sáng tạo trên cơ sở định hướng xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. “Dám đổi mới, sáng tạo” còn có thể hiểu là dám đổi mới về cách nghĩ, cách làm, dám thay đổi tư duy bảo thủ, tiêu cực; dám sáng tạo là cách thức vận dụng tri thức mới ứng dụng vào quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác.

“Dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”: Quá trình đổi mới, thực hiện nhiệm vụ hiện nay, việc gặp phải những khó khăn, thử thách là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, yêu cầu cán bộ phải “Dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung” là thước đo thực sự đối với bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo đối với cán bộ các cấp, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo điều hành. Thực sự chỉ những cán bộ qua rèn luyện, thử thách mới có thể đánh giá được. Đó là sự tổng hợp những cái “Dám” đã nêu ở trên.
Chính vì vậy, công tác cán bộ phải được quan tâm ngay từ khi tuyển dụng, tạo điều kiện để thử thách rèn luyện, trải qua quá trình “lửa thử vàng, gian nan thử sức” để tuyển chọn cán bộ vừa hồng vừa chuyên. Tránh trường hợp quy hoạch, phát triển thần tốc diện cán bộ “5C” như ở một số địa phương vừa qua./.


Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC, CHỦ ĐỘNG PHÁT HIỆN, NGĂN CHẶN, ĐẤU TRANH VỚI CÁC “HỘI NHÓM YÊU ĐỒ LÍNH VNCH"!

     Hiện nay, trên mạng xã hội xuất hiện một số hội nhóm thường xuyên đăng tải hình ảnh trang phục lính Việt Nam cộng hòa.
Các thành viên nhóm tự hào khi sở hữu những món đồ “độc”, “lạ” là những món đồ lính Mỹ, ngụy đã qua sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. Xuất xứ, lai lịch của món đồ, chủ nhân cũ của món đồ càng “oanh liệt” có nhiều thành tích chống Cộng, gi.ết hại dân lành… thì lại càng có giá trị sưu tập.
Mượn danh “hội yêu đồ lính”, các thành viên ngông nghênh đi khắp nơi, ngang nhiên đưa lên mạng xã hội hình ảnh của mình trong các sắc phục lính từ mũ nồi đỏ, mũ nồi xanh, đến biệt động, thủy quân lục chiến… Hoặc lôi nhau vào rừng dựng cảnh vác súng, đánh trận, bị thương… rồi cắt ghép minh họa cho các bài hát ca ngợi “quân lực Việt Nam Cộng hòa”. Đây là một trong những hoạt động cổ súy, kích động hận thù, gợi lại nỗi đau chiến tranh.
Việc diễn “thời trang lính Việt Nam Cộng hòa” lại ẩn chứa nhiều âm mưu thâm hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình”, việc trên đây giúp cho các đối tượng phản động phổ biến hình ảnh mặc đồ lính Việt Nam Cộng hòa và đăng tải trên mạng xã hội, người dân yêu màu áo lính nhưng thiếu hiểu biết lịch sử, biến đây thành một trào lưu cho một bộ phận mù quáng thiếu hiểu biết. Sau khi đã khơi gợi sự đam mê và cuốn theo trào lưu này, không ít người từ đam mê quần áo lính sẽ có cái nhìn thiện cảm về lính Việt Nam Cộng hòa, xóa nhòa ranh giới của một đội quân đã một thời chống lại Tổ quốc mình.
Vì vậy, mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động nhận diện, phát hiện và cùng ngăn chặn, đấu tranh với những hoạt động, hành vi phản cảm, gây bức xúc dư luận xã hội, phẫn nộ nêu trên./.


Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: VỤ VIỆT Á "CỰU BỘ TRƯỞNG Y TẾ NGUYỄN THANH LONG BỊ TRUY TỐ NHẬN 2,25 TRIỆU USD"!

         Ngày 30/9, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành cáo trạng truy tố 38 bị can trong vụ Công ty Việt Á nâng khống giá kit xét nghiệm Covid-19.

Trong đó có nhiều bị can giữ chức vụ cao như: hai cựu Ủy viên Trung ương, cựu Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long và Chu Ngọc Anh; cựu Ủy viên Trung ương, cựu Bí thư tỉnh Hải Dương Phạm Xuân Thăng; ông Nguyễn Văn Trịnh, trợ lý Phó Thủ tướng; ông Phạm Công Tạc, cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ...

Ngoài ông Nguyễn Thanh Long, có 5 người khác bị cáo buộc nhận hối lộ gồm: Nguyễn Huỳnh, cựu thư ký của ông Long; Phạm Duy Tuyến, cựu Giám đốc CDC Hải Dương; Trịnh Thanh Hùng, cựu Vụ phó thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ; Nguyễn Minh Tuấn và Nguyễn Nam Liên, là hai cựu Vụ trưởng của Bộ Y tế.

Phan Quốc Việt - Chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Công ty Việt Á - bị truy tố hai tội danh đưa hối lộ và vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Cấp phó của Việt là Vũ Đình Hiệp cũng bị truy tố hai tội danh này.

Cơ quan truy tố cáo buộc, để được tham gia nghiên cứu đề tài, kinh doanh kit xét nghiệm, cấp số đăng ký lưu hành sản phẩm, hiệp thương giá, bị can Việt đã đưa hối lộ 106 tỉ đồng, trong đó có 3 triệu USD và 4 tỉ đồng (tổng 82 tỉ đồng) cho 6 quan chức.

Lợi nhuận thu được từ việc nâng khống giá kit xét nghiệm, tổng giám đốc Việt Á đã dùng số tiền rất lớn để chi hối lộ, "lót tay" cho nhiều người là lãnh đạo, cán bộ của một số bộ ngành. 

Trong đó, cựu Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long bị cáo buộc nhận hối lộ nhiều nhất, lên đến 2,25 triệu USD./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: XIN HỎI NHỮNG NHÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ, VĂN HOÁ HUẾ ĐANG NHĂM NHE “RỬA MẶT, CHẠY TỘI” CHO ĐÁM VUA QUAN BÁN NƯỚC NHÀ NGUYỄN, CÁC VỊ TRẢ LỜI SAO KHI UNESCO NHẬN XÉT VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH?

     Xin hỏi các ông Phan Thanh Hải, Phan Văn Mãi, Nguyễn Văn Nên, các ông tôn vinh Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt há chẳng phải các ông đang phản bội tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh hay sao?

Nếu việc làm của các ông đúng thì Lịch sử Việt Nam sai, Chủ tịch Hồ Chí Minh sai, Nhân Dân VN sai & cả UNESCO cũng sai luôn sao???

Nghị quyết của UNESCO đánh giá: 
“Sự đóng góp về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực Văn hóa, Giáo dục và Nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của Nhân Dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của các Dân tộc trong việc khẳng định bản sắc Dân tộc của mình và tiêu biểu cho sư hiểu biết lẫn nhau".

- HỒ CHÍ MINH LÀ MỘT VĨ NHÂN CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM & THẾ GIỚI, CON NGƯỜI TIÊU BIỂU CỦA VĂN HOÁ DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ NHÂN LOẠI TRONG THỜI ĐẠI MỚI: 
“Tôi đã hình dung ra được một rất cách cụ thể... dân tộc An Nam đáng yêu, một Dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét những gì thái quá. 

Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị... Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới".

Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ Văn hóa, không phải Văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai".

Hơn 80 năm đã trôi qua, ngày càng chứng minh rõ cái nhìn nhạy bén và nhận xét tài tình của nhà báo Xô viết.

Chúng ta ngày càng thấy Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng Dân tộc và Danh Nhân Văn hóa Kiệt xuất, không chỉ kết tinh những thành tựu của quá khứ, không chỉ thể hiện đỉnh cao của trí tuệ và tâm hồn thời đại mà còn báo hiệu qua chính bản thân mình những phẩm chất tiêu biểu cho nền Văn hóa ngày mai”.

- Nghị quyết 24C/18.65 của Đại hội đồng UNESCO về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

P/s: Các ông có dám công khai phản bác nhận định của Chủ tịch Hồ Chí minh về Nguyễn Ánh & đám cận thần của tên hôn quân vô đạo này không?

Yêu cầu các ông trả lời công khai cho Nhân Dân về vấn đề này!





Yêu nước ST.

XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO THANH NIÊN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động mạnh mẽ đến toàn xã hội, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Trước những tác động đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm xây dựng văn hóa ứng xử cho thanh niên trên không gian mạng.


Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu. Không gian mạng là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Với đặc điểm nổi trội là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn, internet, mạng xã hội trở thành môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin, đem lại những lợi ích to lớn, từng bước khẳng định vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội. Đồng thời, tác động một cách trực tiếp, làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi cá thể, qua đó tác động đến sự phát triển của toàn xã hội. Tuy nhiên, internet, mạng xã hội cũng bộc lộ những mặt trái, những tác động tiêu cực đối với đời sống văn hóa xã hội, nhất là nhận thức, thái độ, hành vi của thế hệ trẻ.


Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, mỗi người đều có thể dễ dàng truy cập internet, mạng xã hội. Điều đó vừa tạo thuận lợi cho việc tiếp thu, chia sẻ thông tin, tình cảm, học hỏi, giao lưu văn hóa,… nhưng đồng thời cũng ẩn chứa những nguy cơ, hệ lụy tiêu cực khi người sử dụng không biết khai thác, tiếp nhận, xử lý, chia sẻ thông tin. Trong khi, mạng xã hội của chúng ta chưa được quản lý triệt để, có rất nhiều “rác” thông tin gây ảnh hưởng đến tâm lý, nhân cách và cả phong cách sống của người sử dụng, nhất là thế hệ trẻ.


Trong thời gian gần đây, văn hóa ứng xử của thanh niên trên không gian mạng đang là vấn đề xã hội đáng quan tâm, bởi một bộ phận thanh niên có những phát ngôn, bình luận “thiếu văn hóa”, không phù hợp với đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của Việt Nam… gây bất bình trong dư luận xã hội. Đáng lo ngại hơn là lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tuyên truyền, đăng tải những nội dung, thông tin xấu, độc… Qua đó, nhằm cổ vũ cho tạo tư tưởng thực dụng, suy nghĩ ích kỷ, lối sống không lành mạnh, coi trọng vật chất, quen hưởng thụ ở một bộ phận thanh niên. Thủ đoạn này còn hình thành ở số ít thanh niên thái độ thờ ơ, bàn quan với những biểu hiện sai trái trong cuộc sống, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án; thái độ vô cảm về chính trị, thiếu trách nhiệm với cộng đồng. Nếu không ngăn chặn kịp thời, sẽ dần dẫn đến tình trạng “khô Đảng, nhạt Đoàn”, phai nhạt lý tưởng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ở một bộ phận thanh niên.


Thực tế trên đặt ra yêu cầu có tính khách quan là cần chú trọng xây dựng văn hóa ứng xử cho thanh niên trên không gian mạng hiện nay. Theo đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, nhà trường, gia đình và toàn xã hội cần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, chính trị cho thanh viên. 


Mọi hoạt động thông tin tuyên truyền, giáo dục phải hướng đến mục tiêu không ngừng bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng, tinh thần cảnh giác để giới trẻ luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; luôn có thái độ, hành vi đúng đắn khi tham gia vào môi trường không gian mạng. Công tác giáo dục, tuyên truyền phải làm rõ âm mưu của các thế lực thù địch trong sử dụng internet, mạng xã hội để tác động đến tâm lý thanh niên; làm rõ các thủ đoạn đã, đang và sẽ được các thế lực thù địch sử dụng để lôi kéo, kích động thanh thiếu niên; khuyến cáo giới trẻ, đặc biệt thanh niên cảnh giác trước thông tin trên internet, mạng xã hội.


Coi trọng cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; khắc phục tình trạng nhiễu thông tin dẫn đến hoang mang, nảy sinh tư tưởng tiêu cực. Đối với thanh niên, mọi công tác liên quan đến học tập, rèn luyện cần được công khai, minh bạch; tạo mọi điều kiện để thanh thiếu niên hoàn thành chương trình học tập, rèn luyện theo cấp học. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, người đứng đầu các nhà trường, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, gia đình cần thực hiện tốt vai trò xây dựng môi trường văn hóa, là chủ thể hướng dẫn, uốn nắn các hành vi ứng xử của thanh niên, tổ chức duy trì, quản lý hoạt động giáo dục, đào tạo, rèn luyện kỹ năng sống cho thanh niên. Qua đó, giúp thanh thiếu niên có cái nhìn toàn diện, đầy đủ, sâu sắc; có lý tưởng phấn đấu rõ ràng, bản lĩnh chính trị vững vàng; có khả năng phát hiện, phân biệt đúng - sai, tốt - xấu,...


Đặc biệt, cần nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng cho thanh niên. Đây là vấn dề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trước khi “về với thế giới người hiền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” [1]; “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [2]. Do vậy, cấp ủy, chính quyền các cấp, nhà trường, gia đình và toàn xã hội cần thường xuyên quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện thế hệ thanh niên có đủ đức, tài, niềm tin, khát vọng để xứng đáng với vị thế, trọng trách cao cả của mình đối với dân tộc và Tổ quốc. Đây là trách nhiệm không riêng của ai, mà là trách nhiệm chung của các ngành, các cấp và toàn xã hội.


Cùng với đó, cần tăng cường công tác quản lý hệ thống mạng xã hội, ngăn chặn, xử lý nghiêm những hành vi “lệch chuẩn văn hóa”. Các cơ quan chức năng cần kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức tuyên truyền nội dung, thông tin xấu độc, “lệch chuẩn văn hóa”. Đẩy mạnh tuyên truyền Luật an ninh mạng và các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tham gia mạng xã hội để nâng cao ý thức, trách nhiệm của thanh niên. Coi trọng định hướng, hướng dẫn cho thanh niên cách thức khai thác, phân loại, sử dụng thông tin trên mạng hiệu quả; gắn với tuyên truyền, lan tỏa những nội dung thông tin tích cực, những biểu hiện nhân văn, văn hóa trên internet, mạng xã hội theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Từ đó, góp phần xây dựng cho thanh niên cách ứng xử có văn hóa trên không gian mạng, tránh được những ảnh hưởng tiêu cực từ internet và mạng xã hội./.


ĐỪNG CỐ TÌNH XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG” CỦA VIỆT NAM

 


Sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm Việt Nam và việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, một số tổ chức, cá nhân thù địch phát tán nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc, đả kích đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Họ cho rằng Việt Nam đang “bài Trung, thoát Nga, ngả Mỹ”. Họ tiếp tục cho rằng chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không” của Đảng và Nhà nước Việt Nam là sai lầm, nếu tiếp tục kiên định chính sách này Việt Nam sẽ “bị cô lập” trong cộng đồng quốc tế.

Chúng ta chẳng lạ gì luận điệu đã cũ rích này. Lâu nay, trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, đối ngoại là lĩnh vực trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động nhằm vào để chống phá. Không chỉ phủ nhận những thành tựu của công tác đối ngoại mà bằng nhiều thủ đoạn, họ mưu toan gia tăng tán phát những thông tin sai lệch, xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam; kích động chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước đối tác, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng; phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam; hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Cần phải khẳng định rằng những luận điệu ấy là vô căn cứ, trắng trợn xuyên tạc đường lối đối ngoại và chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam. Nhưng dù bằng luận điệu, chiêu trò gì chăng nữa các tổ chức, cá nhân thù địch cũng không thể xuyên tạc được sự thật. Những gì đã và đang diễn ra trong quan hệ ngoại giao nói chung và đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nói riêng đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái đó.

Quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Việt Nam chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. 

Thực tiễn đã chứng minh chủ trương, chính sách đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với đường lối đối ngoại của đất nước, phù hợp với lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc cũng như tình hình thực tiễn của Việt Nam. Quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Bài học “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”… vẫn còn nguyên giá trị. Từ thực tiễn lịch sử, Việt Nam cho rằng bảo vệ Tổ quốc phải bằng sức mạnh nội lực, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại chứ không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự hay hiệp ước quân sự nào và càng không thể trông chờ, ỷ lại vào bất cứ một quốc gia nào. Sẽ là không phù hợp và sai lầm nếu Việt Nam ngả theo bất cứ phe nào, phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ. Việt Nam không “bài” nước này, “thoát” nước nọ, “ngả” nước kia mà luôn kiên trì phương châm là bạn với tất cả các nước, theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, công lý và lẽ phải, bảo vệ Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ) và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. 

Từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược hơn ai hết Việt Nam hiểu rõ sự khốc liệt của chiến tranh. Việt Nam không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác. Bởi nếu làm như vậy thì rất dễ biến đất nước mình trở thành mục tiêu tiến công của các thế lực thù địch, khó tránh khỏi nguy cơ bị lôi kéo vào xung đột, chiến tranh. Mặt khác, Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình. Với Việt Nam quốc phòng tối ưu là không phải tiến hành chiến tranh. Việc không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác còn thể hiện rõ thiện chí của Việt Nam trong việc giữ gìn, xây dựng và thúc đẩy hoà bình trên thế giới.

Trong giải quyết các vấn đề của quan hệ quốc tế, nhất là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực mà phải trên cơ sở quán triệt và thực hiện tốt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập, tự chủ... bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chủ trương và cách giải quyết đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân cũng như toàn xã hội, được dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ.

Thực tiễn đã chứng minh chủ trương, chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không” là giải pháp hiệu quả để Việt Nam bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc. Công tác đối ngoại quốc phòng của Việt Nam những năm qua không ngừng mở rộng và thúc đẩy mạnh mẽ. Công tác đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng giữ vai trò tiên phong trong việc tạo lập quan hệ và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa mọi nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao nhà nước với 193 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng với hơn 100 nước và tổ chức quốc tế, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ và tất cả các nước lớn là đối tác chủ chốt, quan trọng. Từ tháng 6-2014 đến nay, Việt Nam đã cử 533 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia gìn giữ hòa bình LHQ và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Đảng, Nhà nước, nhân dân ghi nhận, đồng tình ủng hộ và LHQ cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Những thành quả đó góp phần khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đối ngoại quốc phòng được thúc đẩy mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực phù hợp với nhu cầu, khả năng của Việt Nam cũng như các đối tác và được xác định là phương thức hữu hiệu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Một trong những kênh đối ngoại quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam đó là đối ngoại quốc phòng… 

Thực tế đó đã chứng tỏ chẳng những không hề bị cô lập, mà ngược lại quan hệ đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng của Việt Nam ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả. Điều đó mở ra cơ hội thuận lợi để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và quốc phòng Việt Nam trên trường quốc tế.

Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại được Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Như vậy có thể thấy chủ trương, chính sách đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng, minh bạch, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế chung của thế giới. Những gì được Đảng Cộng sản Việt Nam nêu trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII thêm một lần nữa khẳng định việc thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là hoàn toàn đúng đắn và Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện chính sách này trong những năm tiếp theo.

Nếu ai đó nói rằng Việt Nam “bài”, “thoát” nước này, “ngả” theo nước kia, chính sách quốc phòng “bốn không” là “sai lầm”, Việt Nam sẽ “bị cô lập” nếu kiên trì thực hiện chính sách này… thì đó là hành động cố tình xuyên tạc, bịa đặt nhằm động cơ chính trị và mưu đồ đen tối. Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh, phản bác, loại bỏ những luận điệu sai trái, vô căn cứ ấy ra khỏi đời sống trong nước và quan hệ hợp tác quốc tế.

                                                                   

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI LÀM ĐẦU TÀU GƯƠNG MẪU

 

Thực tế cách mạng Việt Nam luôn chứng minh vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ vai trò, vị trí quan trọng của mình, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu cao ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần gương mẫu để dẫn dắt, lôi cuốn quần chúng cùng gắng sức thực hiện nhiệm vụ cách mạng chung của Đảng, của đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ cách mạng rất vinh quang, nhưng cũng hết sức nặng nề, khó khăn, đòi hỏi phải có nỗ lực cao của cán bộ, đảng viên. Ngày 8 - 6 - 1959, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Khu Việt Bắc, Người nêu rõ: “Cải tạo xã hội cũ xấu xa trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Muốn làm được sự nghiệp ấy, các cán bộ, đảng viên… cần có ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa cao, một lòng một dạ phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội”. Người đề nghị cán bộ, đảng viên phải luôn nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, luôn tích cực vươn lên hàng đầu, gương mẫu về đạo đức cách mạng cũng như trong công tác, học tập.

Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần thực hiện nghiêm túc sự gương mẫu ở mọi lúc, mọi nơi, thật sự làm gương cho quần chúng nhân dân noi theo”. Người yêu cầu: “Người đảng viên - dù trong công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng… mà muốn làm cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Ngày 10 - 2 - 1967, nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây, Người dạy cán bộ, đảng viên “phải làm đầu tàu, gương mẫu. Muốn làm gương mẫu thì điều quan trọng nhất là các chú từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết thật sự, làm sao tự mình nêu gương”, đồng thời giáo dục cho cán bộ, đảng viên “giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng, làm cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”.

Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh sự gương mẫu của cán bộ các cấp. Ngày 16 - 1 - 1966, tại Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12, Người yêu cầu các đồng chí lãnh đạo cần phải gương mẫu, cần phải đồng cam cộng khổ, quan tâm đến đời sống của cán bộ, của nhân dân.

Là Người cha thân yêu của Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tình cảm, tâm huyết để giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là về tinh thần gương mẫu. Tháng 3 - 1948, trong “Thư gửi Hội nghị quân y”, Người viết: “từ việc lớn đến việc nhỏ, cán bộ đều phải làm kiểu mẫu. Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện quân lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại, mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm gương”. Đến ngày 29 - 1 - 1957, khi nói chuyện với các đại biểu quân đội, thương binh và quân nhân phục viên nhân dịp Tết Đinh Dậu, Người căn dặn: “Trong Quân đội cách mạng, cán bộ phải làm gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”.

Tư tưởng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên đã và đang được toàn Đảng, từng cán bộ, đảng viên, đoàn viên ta quán triệt, thực hiện tích cực và hiệu quả. Đảng đã có nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp để phát huy tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đoàn viên. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thành tích, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm, tồn tại: “Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên. Công chức, viên chức chưa gương mẫu” và “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…”. 

Để khắc phục tình trạng trên, Đảng xác định phải có chủ trương, giải pháp đồng bộ, hiệu quả, đặc biệt là phát huy cao nhất vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định: phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trong đó, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Đảng viên tự giác nêu gương để qua đó khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu của mình và tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng phát triển. Đảng cũng có nhiều biện pháp tích cực để tạo thuận lợi cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên phát huy được hiệu quả nhất sự tiên phong, gương mẫu của mình. Như việc khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm đã được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra: “Có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ những cán bộ, đảng viên có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”.

Tình hình cách mạng trong giai đoạn mới đã và đang đỏi hỏi cán bộ, đảng viên cần thật sự tự giác tăng cường rèn luyện phấn đấu, nêu cao tinh thần tiên phong gương mẫu thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, được tổ chức vào ngày 9 - 12 - 2021: “Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu, người chủ trì phải gương mẫu, tự giác làm trước (ngay sau Hội nghị này, không phải chờ đợi gì cả); căn cứ vào Nghị quyết, Kết luận và  Quy định lần này, nghiêm túc tự phê bình, kiểm điểm, tự soi lại mình, đơn vị mình, gia đình mình, cái tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình. Mọi đảng viên đều phải làm như vậy, chứ không phải chỉ đứng ngoài mà “phán”, hoặc “ chờ xem”, coi như vô can”.

Làm được như vậy, chúng ta sẽ góp phần xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ CON ĐƯỜNG DUY NHẤT ĐÚNG CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 


Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và Nhân dân đã được lịch sử chứng minh là lựa chọn đúng đắn, nhờ đó mà cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành chính quyền về tay Nhân dân, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, rồi thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.


Ấy vậy mà gần đây, vẫn có những giọng điệu lạc lõng của những kẻ chống phá đòi Đảng và Nhân dân ta phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn và đi theo con đường khác, vì họ cho rằng: Đó là “con đường sai lầm, dẫn dân tộc đến đường cùng, ngõ cụt”; “Chủ nghĩa xã hội tồn tại vì một mục đích duy nhất: quyền lực cho những kẻ thống trị”; “Con đường XHCN mà nhân dân Việt Nam đang đi là trái với quá trình lịch sử – tự nhiên” và “ĐCSVN còn coi đi lên CNXH làm mục tiêu thì đại hội nào cũng sẽ giống đại hội nào”… Thực chất đây là những luận điệu sai trái, “lập lờ đánh lận con đen”, cố tình xuyên tạc con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.


Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, là khát vọng của dân tộc và Nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường duy nhất của cách mạng Việt Nam vì độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân. Hơn 93 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đồng thời cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; qua đó, lập nên những chiến công oanh liệt, những thắng lợi vẻ vang và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.


Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tích cực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, dự báo đúng tình hình; kịp thời đề ra đường lối đổi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực tiễn khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Việt Nam là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của thời đại. Những thành tựu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện công cuộc đổi mới của Việt Nam không những được Nhân dân ta ghi nhận, mà còn được cộng động quốc tế đánh giá cao. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đánh giá: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội… Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước”.


Như vậy, với những thành tựu to lớn mà chúng ta đạt được trên tất cả các lĩnh vực trong công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua là bằng chứng của sự vươn lên, khẳng định việc xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hôi chủ nghĩa là vô cùng đúng đắn. Đó cũng là minh chứng sinh động để chúng ta bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các phần tử chống đối, thù địch, cơ hội chính trị.

ĐỜI TẦM GỬI

 


Nếu chỉ vì miếng cơm manh áo, chỉ vì danh lợi thuần túy mà “sống nhờ, sống gửi, sống bám” vào người khác, vào tập thể thì chẳng khác nào một đời tầm gửi.


Trong thế giới thực vật, có một loại cây muốn tồn tại phải suốt đời đeo bám, ký sinh vào cây khác, đó là tầm gửi. “Ký sinh” có nghĩa là sống nhờ vả, phó thác. Tầm gửi suốt đời phải “ăn nhờ ở đậu” cây chủ mới có chất dinh dưỡng để sinh tồn.


Từ số phận của loại tầm gửi “sống gửi thác nhờ” mà người đời liên tưởng đến những kẻ sống dựa dẫm, ỷ lại, ăn theo nói leo, đeo bám vào người khác, vào tập thể mới có thể tồn tại, dung thân. Những kẻ tầm gửi thời nay biểu hiện dưới muôn hình muôn vẻ: Thô thiển có, lươn lẹo có, tinh vi có, nhợt nhạt có, buông xuôi có.


Với những kẻ thô thiển, đi đâu, ở chỗ nào họ cũng “đánh bóng” bản thân bằng cách luôn tỏ ra là người giao thiệp rộng rãi, quan hệ với nhiều VIP trong xã hội. Họ thích khua môi múa mép, thao thao bất tuyệt rằng “Tôi quen biết ông X, chơi thân với bà Y, quan hệ mật thiết với anh Z”. Ông X, bà Y, anh Z là những người nếu không có quyền cao chức trọng được nhiều người biết đến, thì cũng là những người nắm giữ các công việc có thể mang lại lợi ích, “lộc chùa” cho người khác, trong đó có bản thân họ. 


Với những kẻ lươn lẹo, họ chẳng bao giờ sống thực với chính mình. Đối với cấp trên, họ thường thể hiện sự nhún nhường, khúm núm, “một dạ, hai vâng” và luôn biết “chọn thời, lựa vận” để tâng bốc, bỡ đợ từng lời ăn tiếng nói của bề trên. Với đồng nghiệp, đồng cấp, họ thực hiện phương châm “im lặng là vàng”, “gió chiều nào che chiều ấy”, thích vuốt ve, nuông chiều để lấy lòng người khác. Cách sống dè dặt, bạc nhược đó cũng không ngoài mục đích được nhiều người “chở che, đùm bọc” để dễ bề tiến thân hay kiếm chác, thu vén lợi lộc cho cá nhân.


Với những kẻ tinh vi, họ không bao giờ dám bộc lộ cá tính bản thân trong tập thể. Thấy đúng họ không những không bảo vệ mà còn giả vờ như “không nghe, không biết”; thấy sai không những không dám phê phán, mà còn tìm cách tránh xa vì sợ đấu tranh thì “không sứt đầu cũng mẻ tai”, chẳng dại gì mà tự liên lụy đến mình. Kiểu sống khư khư giữ bản thân như thế có thể được tiếng là chan hòa, nhưng thực chất đó là một thứ sống “dựa hơi” vào tập thể để mà tồn tại.


Với những kẻ nhợt nhạt, họ sống lắt lay như một cái bóng âm thầm trong tổ chức, cơ quan, đơn vị. Không bon chen, chẳng tranh đua, không ưa cả “phe này” lẫn “cánh nọ”, cứ tưởng họ sống biết điều, trung lập vì không đụng chạm đến ai, nhưng thực tế lối sống trung dung, hời hợt đó cũng là một kiểu ỷ lại, ký sinh vào tập thể!


Với những kẻ buông xuôi, họ cho mọi thứ như nước chảy bèo trôi, chẳng mấy khi quan tâm đến chuyện buồn vui của người khác, của tổ chức. Những người này có thể có công lao, thành tích trong quá khứ, nhưng thấy công việc, cuộc sống hiện thời không như mình mong muốn nên đâm ra chán nản, tự co cụm trong “cái tôi” nhỏ bé của mình rồi loay hoay hoài niệm theo kiểu “ăn mày dĩ vãng” và rơi vào chủ nghĩa “makeno” (mặc kệ nó). Những người lấy quá khứ “vang bóng một thời” như một thứ dây neo để bám vào tập thể rồi chờ đợi đến ngày nhận sổ lương hưu, tuy chưa phổ biến song cũng không còn là hiện tượng cá biệt.


Châm ngôn có câu “Cây thẳng bóng ngay, cây cong bóng vẹo” và “Sống chớ khom lưng, uốn gối, dập đầu”. Ai sống lom khom thì lưng dễ còng. Ai hay quỳ thì gối dễ trầy xước. Ai hay dập đầu thì cổ dễ nghẹo. Người nào mà không tự đứng trên đôi chân, không tự đi bằng chính đôi chân của mình thì mặt mày khó có thể ung dung ngẩng cao đầu trước thiên hạ. Nếu chỉ vì miếng cơm manh áo, chỉ vì danh lợi thuần túy mà “sống nhờ, sống gửi, sống bám” vào người khác, vào tập thể thì chẳng khác nào một đời tầm gửi.  


Đã là đời tầm gửi chẳng bao giờ có tự do. Khi cây nhờ cậy bị gió bão làm thân gãy cành rơi thì tầm gửi cũng dễ rã rời, tan nát. Còn nếu cây chẳng may chết đi thì tầm gửi cũng tàn lụi theo. Đã là tầm gửi thì không thể có cuộc sống thực, bởi nó tồn tại theo sự tồn tại của “cây chủ” mà nó nhờ vả, ăn bám. Đời tầm gửi như thế, thật nhạt nhòa thay!

Cảnh giác chiêu trò lợi dụng vỏ bọc tôn giáo để hướng dẫn tín đồ đối phó với chính quyền

Với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước ta trong thời gian gần đây các thành viên của tổ chức phản động lưu vong tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động thông qua nhóm “Người Thượng vì Công lý (MSFJ)”.

Nhằm thực hiện âm mưu thành lập cái gọi là “Nhà nước Đêga” hoặc “Nhà nước Đêga Cao nguyên” ở Đông Dương, tách Tây Nguyên ra khỏi chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, biến Tây Nguyên thành khu vực mất ổn định, vùng “tự trị”, tiến tới thành lập “nhà nước độc lập”. Những kẻ chống phá đã lấy danh nghĩa “thúc đẩy hòa bình và bảo vệ quyền con người của những người bị áp bức tại Tây Nguyên”, kích động mâu thuẫn để hình thành các “điểm nóng xung đột”, làm mất ổn định an ninh, chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Trên trang Công an nhân dân online ngày 18/6/2023 có bài viết “Vạch trần bộ mặt thật của nhóm “Người Thượng vì công lý - MSFJ””. Bài báo nêu rõ: Theo tài liệu Cơ quan An ninh Đắk Lắk, nhóm “Người Thượng vì công lý - MSFJ” (Montagnards Stand For Justice) được thành lập vào năm 2019 bởi các đối tượng phản động: Y Phic Hdok (sinh sống tại Mỹ), Y Quynh Bdăp (sinh sống tại Thái Lan) cùng 15 đối tượng phản động, lưu vong khác.

Để hoạt động, nhóm này đã lấy cái danh mĩ miều là “thúc đẩy hòa bình và bảo vệ quyền con người của những người bị áp bức tại Tây Nguyên”, nhưng thực chất Y Quynh Bdăp và nhóm MSFJ của hắn lại thông qua trang mạng xã hội liên lạc, kích động những người thiếu hiểu biết trong nước vi phạm pháp luật để chính quyền xử lý, từ đó, thu thập, sử dụng các thông tin sai sự thật và xuyên tạc nhằm vu cáo Việt Nam phân biệt đối xử, đàn áp người dân tộc và gia tăng hoạt động vận động, tranh thủ sự ủng hộ của các nước, các tổ chức quốc tế nhằm mục đích vụ lợi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc…”

 Với những chiêu bài trên cho thấy bọn phản động lưu vong đang lợi dụng vào sự thiếu hiểu biết của quần chúng nhân dân đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các phương tiện thông tin, các hoạt động gây quỹ, các buổi hội họp bằng luận điệu xuyên tạc để tuyên truyền dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc và lửa phỉnh đồng bào thiểu số để phục vụ mưu đồ phản động của chúng. Về bản chất, hành động của nhóm Y Quynh Bdăp này  tiếp tay cho đám phản động lưu vong người Mỹ đẩy người dân tộc thiểu số Tây Nguyên vào chống phá chính quyền, biến họ thành “nạn nhân”, “nhân chứng” tố cáo “vi phạm nhân quyền” của Nhà nước. Hành động này chẳng khác nào bán rẻ đồng bào mình cho chiêu bài của thế lực thù địch, nhằm tạo cớ can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Chính chúng là những kẻ núp danh “công lý” nhưng là vì động cơ vụ lợi, vì toan tính đen tối mà bất chấp thủ đoạn, đẩy đồng bào mình vào tình cảnh vi phạm pháp luật.

Thực tế cho thấy Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt và có những chính sách rất cụ thể về vấn đề dân tộc, tôn giáo Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định cụ thể tại điều 24 rằng: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Trên tinh thần đó, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chính sách tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng và đang nỗ lực bảo đảm tốt nhất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bình đẳng giữa các tôn giáo.

Luật Tín ngưỡngtôn giáo đã được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 18-11-2016. Sau đó, Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Ngoài ra, các lĩnh vực hoạt động khác có liên quan đến tôn giáo như: giáo dục, đào tạo chức sắc tôn giáo; xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự tôn giáo; hoạt động từ thiện, bảo trợ xã hội đã được điều chỉnh tại một số luật có liên quan cho phù hợp với các quy định về tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi để người dân thực hành tự do tín ngưỡng tôn giáo, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế. Việt Nam còn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng.

Dân tộc, tôn giáo là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm để tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, để giải quyết nhu cầu tín ngưỡng, hướng con người đến các giá trị tốt đẹp. Không thể nào lợi dụng vỏ bọc tôn giáo để hướng dẫn tín đồ đối phó với chính quyền, kêu gọi biểu tình, lập tôn giáo riêng, lập Nhà nước riêng, làm ảnh hưởng tới lợi ích an ninh quốc gia, dân tộc và quyền của những người khác. Đó là hành vi cần phải ngăn chặn.