Thứ Năm, 5 tháng 10, 2023

Tái diễn luận điệu xuyên tạc trong dịp Quốc khánh 2/9

 Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2/9 đã đi vào lịch sử dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam. Song hằng năm, vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, đi ngược lại niềm tự hào của toàn dân tộc, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội lại tăng cường hoạt động chống phá.

Các đối tượng sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh, bình luận với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về bản chất cách mạng, về giá trị và ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử này, tạo nên góc nhìn phiến diện, lệch lạc.

Nhiều bài viết nêu quan điểm sai lệch về thành quả cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; bác bỏ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Quốc khánh 2/9.

Trong dịp Quốc khánh 2/9 năm nay, trên một số diễn đàn, có những người tự cho mình danh nghĩa “nhà nghiên cứu” hay “phân tích lịch sử”, đưa ra những nhận định, đánh giá trái với sự thật, họ còn lồng ghép các dữ liệu lịch sử và so sánh khiên cưỡng với một số sự kiện khác để tạo ra cách nhìn sai trái.

Có trường hợp vin cớ việc chúng ta xử lý nhiều vụ án tham nhũng gần đây để đánh đồng vấn đề tham nhũng là “lỗi hệ thống”, từ đó kích động rằng, nhân dân hy sinh làm cách mạng để cho quan chức nắm quyền, tham nhũng, vơ vét của cải! Những phần tử xấu được dịp hùa vào miệt thị, cho rằng đất nước đã giành độc lập 78 năm nhưng đến nay nhân dân “chưa được tự do”, quyền và lợi ích cơ bản của người dân “bị chà đạp”, xuyên tạc “cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột vẫn tiếp diễn”!

Các luận điệu bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945, Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975… là thủ đoạn “đến hẹn lại lên” của các thế lực thù địch, phản động, những kẻ cơ hội chính trị. Họ cố tình ngụy tạo, đưa ra các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái hòng phủ bóng đen lên con đường mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Họ cố tình thổi phồng các tồn tại, tiêu cực trong đời sống xã hội hiện nay, đặc biệt là vấn đề suy thoái, tham nhũng trong bộ phận cán bộ, đảng viên để đổ lỗi cho chế độ, hạ thấp và phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời không ngừng ca ngợi lối sống tư bản, hưởng thụ, ca ngợi kiểu tự do thái quá nhằm tạo ra suy nghĩ lệch lạc rằng, đất nước ta đi theo con đường CNXH là sai lầm.

Thủ đoạn này không mới nhưng việc nhắc đi nhắc lại, nhất là các dịp ngày lễ lịch sử của dân tộc sẽ tạo ra sự nhũng nhiễu thông tin trên mạng xã hội, ảnh hưởng đến quan điểm, suy nghĩ của một bộ phận người thiếu hiểu biết.

Việc các thế lực phản động, cơ hội mang dòng máu Việt Nam nhưng lại cố tình xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp bản chất, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 là hành vi đi ngược lại lợi ích đất nước, phủ nhận khát vọng của dân tộc, vong ơn trước xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu xuyên tạc và những con người đang đi ngược dòng sự thật ấy chỉ có thể gây nhiễu về thông tin chứ không thể ngăn cản bởi dòng chảy lịch sử của dân tộc.

Cách đây 78 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta từ Bắc chí Nam nhất tề đứng lên tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền, chấm dứt kiếp nô lệ, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và đi lên CNXH.

Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945 không chỉ là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc mà còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc; nguồn cổ vũ, động viên, truyền cảm hứng đối với các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tâm khảm mỗi người dân, ngày Quốc khánh 2/9 trở thành bản hùng ca của dân tộc Việt Nam trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta phải liên tiếp đương đầu chống giặc ngoại xâm, tiến hành hàng chục cuộc kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ, hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng để giành lại độc lập dân tộc. Hoàn cảnh lịch sử đó đã hun đúc nên những giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc, đồng thời cho thấy ý nghĩa sống còn của các giá trị văn hóa giữ nước.

Nét đặc sắc của giá trị văn hóa giữ nước chính là xây dựng và phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, thực hiện “trong ấm, ngoài yên”, đặc biệt là giữ yên lòng dân; ngăn ngừa, đẩy lùi, triệt tiêu mọi nhân tố dẫn đến nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, giữ nước ngay khi đất nước đang thái bình.

Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ bờ cõi đất nước gắn với các tên tuổi lịch sử như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... là những bản anh hùng ca bất diệt. Thế kỷ XX, Đảng, Bác Hồ đã lãnh đạo nhân dân ta viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

Đã 78 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Thời gian càng lùi xa càng có thêm sự chiêm nghiệm, có thêm nhiều thông tin, càng thấy được ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đối với đất nước, dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện ý nghĩa, tầm vóc lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.

Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới vì độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc theo con đường CNXH. Không chỉ vậy, cuộc cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc ta đã trở thành một biểu tượng, một bài học kinh nghiệm quý giá, một sự khích lệ to lớn cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa.

Chính bởi ý nghĩa lịch sử đó cùng những thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, thế giới ngợi ca nhân dân của một đất nước Việt Nam anh hùng.

Đến hôm nay, sau 37 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo luôn được các tổ chức chính trị, xã hội và các tầng lớp nhân dân quan tâm, ủng hộ.

Việt Nam được bạn bè thế giới mến phục, coi là biểu tượng của hòa bình, ổn định chính trị, xã hội, sự thân thiện, mến khách, đồng thời là biểu hiện của sự nỗ lực, tinh thần chiến thắng đói nghèo trong thế kỷ XXI. Những thành tựu to lớn đã đạt được từ ngày thành lập nước đến nay chứng tỏ sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam.

Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9, người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu trong nước hoặc ở xa Tổ quốc cũng không khỏi xúc động bồi hồi, ôn lại khí thế hào hùng, sôi sục, náo nức của những ngày mùa thu cách mạng, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Quốc khánh chính là dịp để bất cứ người dân Việt Nam nào, đồng bào cả nước cũng như kiều bào ở nước ngoài cùng hướng về Tổ quốc thân yêu; cùng tưởng nhớ, tri ân hàng triệu cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã ngã xuống trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; cùng tưởng nhớ và biết ơn công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Là dịp để các thế hệ hôm nay và mai sau cùng nhau nhìn lại chặng đường gian khổ, hào hùng của cha ông để nâng cao lòng tự hào dân tộc, trau dồi tinh thần yêu nước, cống hiến sức mình cho quê hương, đất nước.

Phát huy truyền thống tự lực, tự cường, không ngừng mở rộng, hợp tác quốc tế

 Từ khi Đảng, Nhà nước ta ra đời cho đến nay, thắng lợi trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc trước đây, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay khẳng định rõ, dân tộc ta luôn nhất quán thực hiện phương châm lấy nội lực, tự lực cánh sinh là chính, là quyết định, đồng thời coi trọng tăng cường đoàn kết, hợp tác quốc tế. Dựa vào nước này để chống lại nước kia hoàn toàn không có trong đường lối, chính sách và thực tiễn đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Tinh thần tự lực, tự cường đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta, là nhân tố quan trọng để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hiện nay, xu thế hợp tác và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng song tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường vẫn là yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của dân tộc ta.

Đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc...”.

Điều 4, Luật Quốc phòng năm 2018 nêu rõ, Việt Nam “thực hiện đối ngoại quốc phòng phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chống chiến tranh dưới mọi hình thức; chủ động và tích cực hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, đối thoại quốc phòng, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; không tham gia lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên”.

Vì vậy, bên cạnh mở rộng, tăng cường hợp tác quốc tế theo tinh thần Việt Nam là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Đảng, Nhà nước ta luôn phát huy cao độ tinh thần đại đoàn kết toàn dân, chủ động tự lực, tự cường nhằm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Đối với vấn đề Biển Đông, nước ta chủ trương thực hiện tốt phương châm: bốn không, bốn tránh; chín K; bốn giữ vững. Bốn không gồm: không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Bốn tránh: tránh xung đột, tránh đối đầu, tránh bị cô lập về chính trị, tránh bị lệ thuộc về chính trị. Chín K: kiên quyết, kiên trì, khôn khéo, không khiêu khích, không mắc mưu khiêu khích, kiềm chế, không để nước ngoài lấn chiếm và không để xảy ra xung đột, đụng độ, không nổ súng trước. Bốn giữ vững: giữ vững chủ quyền quốc gia; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển; giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác; giữ vững ổn định chính trị trong nước.

Đối với Trung Quốc, ngày 18/1/1950 đã đi vào lịch sử quan hệ hai nước Việt Nam - Trung Quốc, một mốc son quan trọng khi nước bạn là nước đầu tiên thiết lập ngoại giao với nước ta. Trải qua những khó khăn trong lịch sử, hai Đảng và nhân dân hai nước đã kề vai sát cánh, dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn, quý báu, góp phần vào thành công của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH ở mỗi nước.

Đến năm 2008, hai nước thiết lập khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện. Nước ta và nước bạn đã bàn và xây dựng thẳng thắn về những vấn đề còn chưa thống nhất giữa hai nước, nhất trí giải quyết những bất đồng trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau; thông qua thương lượng, hòa bình, giải quyết các mâu thuẫn trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, không làm phức tạp thêm tình hình, không mở rộng thêm tranh chấp, bất đồng. Tăng cường hợp tác trên biển, hợp tác để khu vực biển Đông là khu vực hòa bình, hợp tác, hữu nghị; lấy đại cục quan hệ hai nước làm trọng, xuất phát từ tầm cao chiến lược và toàn cục…

Kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển; trên tinh thần tôn trọng đầy đủ chứng cứ pháp lý và xem xét các yếu tố liên quan khác như lịch sử, mở rộng nhận thức chung, thu hẹp bất đồng. Hai nước tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc theo phương châm 16 chữ vàng “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần bốn tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Đối với Hoa Kỳ, Việt Nam – Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ năm 1995 cách đây 28 năm. Hai nước thiết lập và triển khai mối quan hệ Đối tác toàn diện năm 2013 với nhiều nỗ lực vun đắp và xây dựng lòng tin, cùng hướng về phía trước, đến  nay đã nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện. Đặc biệt, 10 năm qua, lòng tin ngày càng củng cố và tăng cường góp phần đưa quan hệ hai nước tiếp đà phát triển hiệu quả, trên cả bình diện song phương, khu vực và quốc tế, phù hợp nguyện vọng của nhân dân hai nước.

Nhiều năm qua, Hoa Kỳ luôn là một trong những đối tác có đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, với gần 1.150 dự án đang hoạt động, tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 10,3 tỷ USD. Việt Nam đã vươn lên vị trí đối tác thương mại lớn thứ 7 của Hoa Kỳ trên toàn thế giới, đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam vào Hoa Kỳ ngày càng lớn mạnh.

Như vậy, thực tế sự phát triển mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Hoa Kỳ là tất yếu khách quan, xu thế chung của thời đại. Đồng thời, đã chứng minh đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng ta, thể hiện nét đặc sắc “ngoại giao cây tre” vì lợi ích của mỗi quốc gia - dân tộc, đóng góp vào hòa bình, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới, hoàn toàn không có chuyện “theo bên này, chống bên kia” như luận điệu những kẻ xấu, cố  tình xuyên tạc, bịa đặt.

Tống thống Joe Biden khẳng định với báo chí quốc tế ngay sau cuộc hội đàm cấp cao vào chiều tối 10/9 rằng: “Ngày hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại chặng đường quan hệ giữa hai nước, từ xung đột tới bình thường hóa và việc nâng cấp mối quan hệ đó lên tầm cao mới sẽ là một động lực cho thịnh vượng và an ninh tại một trong những khu vực quan trọng nhất trên thế giới”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Quan hệ đối tác đó tiếp tục dựa trên cơ sở tôn trọng đầy đủ những nguyên tắc cơ bản định hướng cho quan hệ hai nước trong thời gian qua, trong đó có tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Chúng tôi cũng đã nhấn mạnh rằng, sự hiểu biết lẫn nhau, hoàn cảnh của nhau, tôn trọng các lợi ích chính đáng của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau luôn có ý nghĩa quan trọng. Việt Nam đánh giá cao và coi trọng khẳng định của Hoa Kỳ ủng hộ một nước Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng””.

Chiêu trò gian xảo

Xuyên tạc đường lối đối ngoại, chính sách ngoại giao của nước ta là một trong những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội. Các đối tượng vẽ ra câu chuyện Việt Nam nâng cấp quan hệ vì trước những diễn biến phức tạp, tranh chấp trên Biển Đông; họ dựng lên việc Việt Nam cần phải dựa vào Hoa Kỳ mới thoát khỏi ảnh hưởng nước khác, mới phát triển được đất nước, bảo vệ được lãnh thổ.

Trước chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden, các tổ chức phản động sống lưu vong, các hãng truyền thông định kiến với Việt Nam ở hải ngoại phát tán nhiều bài viết với nội dung xấu độc để kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ gây sức ép vấn đề dân chủ, nhân quyền với Việt Nam; cho rằng quan hệ Việt – Mỹ sẽ không phát triển nếu dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam không được cải thiện, nếu còn chế độ cộng sản, “đảng cai trị”. Sau khi nước ta nâng cấp quan hệ thì họ bôi nhọ mối quan hệ này “không thực chất”, có những bài viết, bình luận miệt thị, cho rằng mối quan hệ chỉ “theo chiều hướng tiêu cực”. Mặt khác, các thế lực thù địch còn tỏ vẻ “lo lắng”, bày trò “tư vấn vạch hướng đi” cho Việt Nam để “mối quan hệ đi vào thực chất”!

Mục đích của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam, trong đó xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ, Việt Nam với Trung Quốc và một số nước khác. Các luận điệu xuyên tạc nhằm tìm cách cô lập, hạ thấp vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế; phá hoại mối quan hệ nước ta với các nước, chia rẽ tinh thần đoàn kết, hợp tác, hữu nghị của Việt Nam với các nước. Đó là những âm mưu, thủ đoạn hết sức nguy hiểm, cần phải nhận diện, đấu tranh.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẢO VỆ CÁN BỘ DÁM NGHĨ, DÁM LÀM, DÁM CHỊU TRÁCH NHIỆM VÌ LỢI ÍCH CHUNG!

         Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29-9-2023 quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Nghị định quy định cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm là cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý, viên chức quản lý, người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ có tư duy đổi mới, sáng tạo, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, xuất phát từ yêu câu, đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn nhằm tháo gỡ, giải quyết những điểm nghẽn, nút thắt trong cơ chế, chính sách chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực, tạo được chuyển biến mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung.
Nguyên tắc khuyến khích, bảo vệ cán bộ
Nghị định nêu rõ nguyên tắc khuyến khích, bảo vệ cán bộ. Cụ thể, cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung phải được khuyến khích, bảo vệ.
Khuyến khích, bảo vệ cán bộ có đề xuất đổi mới, sáng tạo được cơ quan sử dụng cán bộ xem xét, quyết định cho thực hiện trong phạm vi thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật, bảo đảm không trái quy định của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan nhà nước cấp trên và Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Cán bộ có đề xuất đổi mới, sáng tạo được cơ quan sử dụng cán bộ xem xét, quyết định cho thực hiện, có kết quả đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị được ghi nhận, tôn vinh, khen thưởng xứng đáng. Cơ quan sử dụng cán bộ báo cáo, xin ý kiến cấp ủy, tổ chức đảng cùng cấp trước khi phê duyệt và đánh giá kết quả thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo.
Việc khuyến khích phải được thực hiện kịp thời
Việc khuyến khích và bảo vệ cán bộ phải được thực hiện kịp thời, dân chủ, công khai, minh bạch; đúng đối tượng, trình tự, thủ tục theo quy định và pháp luật có liên quan. Cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời xem xét, đánh giá kết quả thực hiện, xác định rõ các nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá khách quan, toàn diện đối với việc đề xuất và thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo.
Cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung có thể không bị xử lý trách nhiệm, được loại trừ, miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm theo quy định.
Không được lợi dụng chính sách để bao che tham nhũng
Ngoài ra, Nghị định quy định những việc cơ quan, tổ chức, cán bộ và cá nhân không được làm trong khuyến khích, bảo vệ cán bộ như:
- Lợi dụng chính sách, biện pháp khuyến khích, bảo vệ cán bộ để thực hiện hoặc bao che hành vi tham nhũng, tiêu cực, trục lợi, vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước hoặc làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Cản trở, gây khó khăn, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cán bộ năng động, sáng tạo, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong quá trình đề xuất, thực hiện, hoàn thành đề xuất vì lợi ích chung.
- Né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong trình tự, thủ tục phê duyệt và triển khai thực hiện các đề xuất đổi mới, sáng tạo.
- Không chấp hành sự phân công của cơ quan, tổ chức về việc giao thực hiện đề xuất; thực hiện không đúng đề xuất được cơ quan sử dụng cán bộ quyết định cho thực hiện; không chấp hành chỉ đạo của cơ quan sử dụng cán bộ về việc tiếp tục, dừng hoặc chấm dứt thực hiện đề xuất; lợi dụng việc thực hiện đề xuất để né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm khi thực hiện chức trách, nhiệm vụ khác được giao theo quy định của pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan.
- Xử lý trách nhiệm đối với cán bộ năng động, sáng tạo, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong quá trình đề xuất, thực hiện đề xuất đã được đánh giá là hoàn thành quy định tại Điều 18 Nghị định này./.


Môi trường ST.

Quyền con người về môi trường là một quyền cơ bản, được công nhận, tôn trọng, bảo vệ

Đảng, Nhà nước ta luôn xác định bảo vệ môi trường và phát triển bền vững có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, mối quan hệ lớn “Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội” được bổ sung thêm nội dung bảo vệ môi trường. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2026 tiếp tục khẳng định: “Phát triển nhanh và bền vững…; phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu”.

Đối với quyền con người về môi trường và tiếp cận quyền con người trong bảo vệ môi trường là vấn đề mới với các quốc gia khác trên thế giới. Ngày 20/9/1977, nước ta gia nhập Liên hợp quốc. Quá trình phát triển đều xác định bảo vệ môi trường và quyền con người về môi trường là một nội dung được quan tâm, chú trọng trong chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước ta. Các bản Hiến pháp năm 1980, 1992, 2013 đều khẳng định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo vệ môi trường. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 chính thức coi quyền con người về môi trường là một quyền cơ bản, được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm. Điều 43 quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”.

Trên tinh thần khẳng định quyền con người về môi trường của các bản hiến pháp, nhiều chính sách pháp luật cụ thể hóa Hiến pháp về bảo vệ môi trường được ban hành. Trong đó, vấn đề quyền con người trong bảo vệ môi trường không ngừng được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn. Cho đến nay, quyền con người về môi trường được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật, từ Luật Điện lực sửa đổi 2012, Luật Thủy sản 2017, Luật Lâm nghiệp 2017, Luật Đo đạc và bản đồ 2018 đến Luật Bảo vệ môi trường 2020...

Trong quá trình tham gia hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, Việt Nam đã chứng minh là thành viên có trách nhiệm trong cuộc chiến chống ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu, nỗ lực hoạt động và có nhiều sáng kiến thiết thực. Thể hiện qua các cam kết mạnh mẽ của Việt Nam như: Đưa phát thải ròng về “0” vào năm 2050; không xây mới điện than từ năm 2030 và loại bỏ dần điện than từ năm 2040; tuyên bố về rừng và sử dụng đất; tham gia liên minh thích ứng toàn cầu; giảm 30% khí thải metan vào năm 2030 so với mức năm 2020…

Cần phải khẳng định, hành động vu cáo về dân chủ, nhân quyền, kêu gọi trả tự do cho Hoàng Thị Minh Hồng cũng như vu cáo trong các vụ việc tương tự còn ảnh hưởng đến tình hình chính trị, ngoại giao của Việt Nam. Việc một vụ án hình sự bị lợi dụng để hướng lái sang động cơ chính trị xấu có thể gây ra những quan điểm lệch lạc và chia rẽ trong dư luận xã hội. Điều này tác động đến lợi ích của quốc gia, hình ảnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Do đó, việc kêu gọi trả tự do hay đưa ra những luận điệu tuyên truyền sai sự thật dù là với động cơ, mục đích cá nhân hay chính trị đều là hành vi sai trái cần lên án. Chúng ta cần xây dựng một xã hội công bằng và tuân thủ luật pháp của mọi công dân, các giá trị dân chủ phải được hiểu và thực hiện đúng bản chất chứ không phải là sự bóp méo vì động cơ xấu.

Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang là trở ngại không nhỏ trong quá trình phát triển của các quốc gia. Nhận thức đầy đủ, sâu sắc vấn đề đó, Đảng, Nhà nước ta luôn đề cao, phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân nhằm chung tay xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp. Những tổ chức, cá nhân có những đóng góp tích cực, hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường đều được Nhà nước, nhân dân ghi nhận, tôn vinh. Pháp luật Việt Nam cũng quy định và xử lý nghiêm minh đối với các hành vi phạm pháp về môi trường, gây ô nhiễm môi trường, điển hình như việc xử lý vụ Công ty Formosa xả thải gây ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng ở 4 tỉnh miền Trung. Đồng thời, các cơ quan chức năng làm rõ, xử lý các hành vi lợi dụng danh nghĩa bảo vệ môi trường để phạm pháp, gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trong đó có hành vi trốn thuế.

Lại tô vẽ, dựng chuyện vu cáo

Bị cáo Hoàng Thị Minh Hồng từng là Giám đốc Trung tâm Hành động và Liên kết vì môi trường và phát triển (Change). Cáo trạng xác định, quá trình hoạt động, từ năm 2012 - 2022, trung tâm này phát sinh doanh thu hơn 69 tỷ đồng. Bà Hồng đã chỉ đạo nhân viên không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, không thực hiện đầy đủ thủ tục về kế toán, hóa đơn, chứng từ nhằm trốn thuế hơn 6,7 tỷ đồng. Tại CQĐT, bà Hồng đã thừa nhận hành vi phạm tội và có đơn xin nộp khắc phục hậu quả để được hưởng khoan hồng của pháp luật.

Tại tòa, bị cáo Hoàng Thị Minh Hồng thừa nhận hành vi phạm tội và khai đã vận động gia đình khắc phục hơn 3,5 tỷ đồng. Bị cáo Hồng thừa nhận rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình. Việc bị cáo đứng tại tòa hôm nay là bài học cho bị cáo, cho các tổ chức phi lợi nhuận khác để họ vẫn tiếp tục sứ mệnh của mình và không vi phạm pháp luật.

“Bị cáo mong HĐXX cân nhắc mức án nhẹ nhất để bị cáo trở về gia đình và tiếp tục đóng góp cho xã hội, đất nước” - bị cáo Hoàng Thị Minh Hồng nói lời sau cùng.

HĐXX nhận định, lời khai nhận tội tại tòa của bị cáo Hoàng Thị Minh Hồng phù hợp kết quả điều tra và kết luận giám định nên cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ. HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả, được Chính phủ tặng Bằng khen... để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Sau khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, HĐXX tuyên phạt bị cáo 3 năm tù về tội “trốn thuế”, phạt bổ sung 100 triệu đồng và bị cáo có trách nhiệm nộp lại hơn 6,7 tỷ đồng tiền trốn thuế.

Trong quá trình cơ quan chức năng tiến hành khởi tố, bắt tạm giam, xét xử, tuyên phạt tù đối với bà Hoàng Thị Minh Hồng theo trình tự, quy định của pháp luật, chính bà Hồng đã thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ rõ ăn năn, hối cải về việc làm sai trái của mình; hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng để mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Thế nhưng bất chấp thực tế ấy, các thế lực thù địch lại đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất vụ việc. Trên mạng xã hội của các tổ chức, hội nhóm vốn thù địch với Việt Nam xuất hiện nhiều bài viết với nội dung sai trái, xuyên tạc như “cấm cản những người hoạt động môi trường”; “không có tự do trong hoạt động môi trường”; “ở Việt Nam bị phạt tù chỉ vì lên tiếng bảo vệ môi trường”…

Từ những luận điệu sai trái trên, họ dựng chuyện, vu cáo chính quyền Việt Nam “không quan tâm bảo vệ môi trường”, “bỏ tù nhà hoạt động môi trường”... Những hội nhóm “dân chủ” giả hiệu này lại lớn tiếng đòi thả tự do cho đối tượng phạm tội, cố tình phớt lờ bản chất vụ án. Các trang VOA, RFI, RFA đưa các bài viết dưới dạng “nhà hoạt động môi trường Hoàng Thị Minh Hồng bị kết án 3 năm tù”.

Trước khi phiên tòa diễn ra, tổ chức Theo dõi Nhân quyền quốc tế (HRW) ra lời kêu gọi một cách phi lý rằng: “Chính phủ Việt Nam cần lập tức hủy bỏ mọi cáo buộc chống lại nhà hoạt động môi trường nổi tiếng Hoàng Thị Minh Hồng và trả tự do cho bà vô điều kiện”.

Phía đại diện của tổ chức này còn lập luận quy chụp, vu cáo “chính quyền Việt Nam đang sử dụng luật thuế mơ hồ như một vũ khí để trừng phạt các nhà lãnh đạo môi trường mà Đảng Cộng sản cầm quyền coi là mối đe dọa đối với quyền lực của họ”. Ngay khi phiên tòa diễn ra và khi kết thúc, nhiều đối tượng chống đối, các tổ chức, trung tâm truyền thông thù địch lại tiếp tục “tô rồng, vẽ phượng” cho Hoàng Thị Minh Hồng, đưa ra những thông tin sai trái với luật pháp Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế về xử lý các đối tượng có hành vi xâm phạm đến khách thể được pháp luật bảo vệ.

Trong đó, bài viết trên RFI vu cáo: “Một tòa án ở Việt Nam hôm 28/9/2023 đã kết án bà Hoàng Thị Minh Hồng, một nhà hoạt động môi trường nổi tiếng 3 năm tù vì tội “trốn thuế”, một bản án minh họa cho bầu không khí đàn áp nhắm vào những nhà bảo vệ môi trường ở Việt Nam”. Bằng việc trích dẫn ý kiến sai trái, bài viết này đưa ra bình luận xuyên tạc: “Việt Nam thường xuyên bị các tổ chức bảo vệ nhân quyền cáo buộc đàn áp mọi tiếng nói bất đồng, đặc biệt là những tiếng nói lên án những hành động gây ảnh hưởng đến môi trường, tại một quốc gia mà việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường thường xung khắc với nhau”. Cùng phụ họa, tung hứng để tạo ra một chiến dịch truyền thông gây áp lực với Việt Nam là các đài RFA, VOA Tiếng Việt, Saigon Broadcasting Television Network...

Trước đó, các đối tượng có hành vi trốn thuế hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như Ngụy Thị Khanh, Đặng Đình Bách, Mai Phan Lợi, Bạch Hùng Dương đều đã được điều tra, truy tố và xét xử theo đúng quy định pháp luật với các tài liệu, chứng cứ kết tội rõ ràng, khách quan. Trong đó bà Ngụy Thị Khanh phạm tội trốn thuế với số tiền 456 triệu đồng; ông Mai Phan Lợi, Bạch Hùng Dương trốn thuế gần 2 tỷ đồng và Đặng Đình Bách là 1,38 tỷ đồng. Vậy nhưng bất chấp thực tế đó, các đối tượng núp bóng dân chủ, nhân quyền vốn thù địch, định kiến, thiếu thiện chí với Việt Nam lại cố tình đánh tráo bản chất vụ việc, thực hiện mưu đồ kêu oan, tẩy trắng tội danh.

Có thể thấy, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có bảo vệ môi trường để chống phá Việt Nam. Không khó để hiểu vì sao những năm gần đây họ lại vin vào vấn đề môi trường, quyền con người trong lĩnh vực này để tìm cách xuyên tạc, đưa ra những luận điệu sai trái để đả phá. Bởi lẽ, vấn đề bảo vệ môi trường đang trở nên nóng hổi, bức thiết hơn bao giờ hết, luôn được các nước, tổ chức quốc tế quan tâm khi mà tình trạng ô nhiệm môi trường đang là vấn nạn của các quốc gia, thách thức toàn cầu. Mục đích của các thế lực thù địch đưa vấn đề quyền con người trong bảo vệ môi trường để tạo ra bức bình phong, vỏ bọc để dễ bề thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá. Từ đó họ cố gắng “bẻ lái”, thay đổi sự thật nhằm tìm kiếm sự can thiệp từ bên ngoài vào nước ta, vu cáo “bắt bỏ tù nhà hoạt động môi trường” để gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam. Từ đó, họ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, bôi nhọ năng lực quản lý xã hội của Nhà nước; hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Còn ở trong nước, một số đối tượng cũng che đậy dưới danh nghĩa “hoạt động vì môi trường” để thực hiện hành vi chống đối, gây rối trật tự.

Chủ trương lớn, lợi ích lâu dài

Trái với quan điểm chống phá nêu trên, thực tế, việc sắp xếp tổ chức, bộ máy, đơn vị hành chính trong hệ thống chính trị, trong đó có việc sắp xếp một số đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã nhằm phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn, đặt trong tổng thể nhiều chủ trương, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hoàn thiện, phát triển Nhà nước pháp quyền XHCN, phục vụ giai đoạn phát triển mới. Sắp xếp tổ chức, bộ máy trong hệ thống chính trị tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là chủ trương lớn. Quá trình thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2019 - 2021 bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII và Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị về sắp xếp đơn vị hành chính. Nghị quyết của Quốc hội chỉ rõ: Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975 đến nay, đơn vị hành chính các cấp ở nước ta đã được điều chỉnh, sắp xếp lại phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và đã đạt được một số kết quả tích cực góp phần phát huy nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước cũng thẳng thắn nhìn nhận, việc chia, tách đơn vị hành chính các cấp thời gian qua đã nảy sinh một số bất cập và hạn chế. Nhiều đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã quy mô quá nhỏ, không gian phát triển bị chia cắt, gây ra nhiều khó khăn, cản trở trong công tác lập kế hoạch, quy hoạch dài hạn, định hướng phát triển kinh tế - xã hội tầm vĩ mô cũng như quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng; nguồn lực của địa phương và Trung ương cho phát triển kinh tế - xã hội bị phân tán, nhất là trong điều kiện Trung ương đang đẩy mạnh phân cấp, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho chính quyền địa phương. Việc tăng số lượng đơn vị hành chính các cấp đã dẫn đến tổ chức bộ máy, biên chế của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị ở địa phương tăng; ngân sách nhà nước chi cho hoạt động của bộ máy, xây dựng trụ sở, mua sắm mới trang thiết bị làm việc tăng; đại đa số các đơn vị cấp huyện, cấp xã thu ngân sách tại địa phương không đủ cân đối chi thường xuyên, chủ yếu Trung ương phải hỗ trợ.

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã nhằm tổ chức hợp lý đơn vị hành chính các cấp phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển của đất nước; bảo đảm hoàn thiện thể chế về đơn vị hành chính, bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; góp phần phát huy mọi nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Phấn đấu đến năm 2030, các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã được sắp xếp cơ bản phù hợp chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; đáp ứng yêu cầu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN.

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã để bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ; thực hiện theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn có trọng tâm, phù hợp, chặt chẽ, thận trọng, hiệu quả, chắc chắn, phù hợp với quy hoạch tổng thể, yêu cầu phát triển; bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Thông qua sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã để từng bước đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh giản biên chế, cải cách chế độ tiền lương, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Phát huy hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội cho phát triển kinh tế - xã hội trong từng địa phương và trên phạm vi toàn quốc; nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Việc sắp xếp phải đảm bảo không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và cuộc sống của nhân dân.

Quan điểm chỉ đạo chung là mỗi một đơn vị hành chính cụ thể được sáp nhập phải chú trọng, cân nhắc kỹ các yếu tố đặc thù về lịch sử, truyền thống, văn hóa, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý - tự nhiên, cộng đồng dân cư… như một số quận nội thành Hà Nội. Việc sắp xếp đơn vị hành chính là việc khó, nhạy cảm, phức tạp, liên quan đến nhiều người, nhiều ngành, tác động đến người dân, doanh nghiệp và các chủ thể khác. Trước vấn đề mang tính khó khăn, phức tạp, việc người dân có ý kiến góp ý, xây dựng, đề xuất những giải pháp là hoàn toàn cần thiết, được Đảng, Nhà nước khuyến khích, trân trọng. Tuy nhiên, lợi dụng vào đó để xuyên tạc, đưa ra những quan điểm sai trái, thậm chí xuyên tạc với động cơ, mục đích xấu, tạo nhận thức lệch lạc hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối, cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước cần phải được vạch trần, đấu tranh phản bác.

Chiêu trò mượn gió bẻ măng

Trước yêu cầu phát triển của đất nước, việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã nhằm tinh gọn bộ máy hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp là yêu cầu khách quan. Đây là chủ trương hướng đến mục tiêu đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; kiện toàn tổ chức, tinh giảm hợp lý đầu mối, bỏ cấp trung gian, thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử. Tuy nhiên, lợi dụng vấn đề này, nhiều đối tượng phản động, phần tử cơ hội đã tung ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc, tạo ra nhận thức lệch lạc, hoang mang trong dư luận.

Trên mạng xã hội có hàng chục nghìn người theo dõi, ông M.V.T dùng những từ ngữ thiếu văn hóa và cho rằng, sáp nhập các đơn vị hành chính nhỏ để giảm biên chế “gây bao rắc rối, chỉ việc định biên chế cán bộ theo quy mô dân số là xong”! Ông này viện dẫn kinh phí dự toán cho việc sáp nhập và cho rằng, “chưa sáp nhập đã thấy tiền, thảo nào quyết liệt thế”; đồng thời đặt câu hỏi, sao không lấy tiền này để xây trường học, giúp gia đình thương binh, liệt sĩ còn khó khăn mà “cứ nhắm mắt làm lấy được”! Từ đó quy kết theo hướng đây là việc để dễ bề tham nhũng, tiêu cực: "Luân chuyển cán bộ" và "nhập - tách - nhập" là hai trò để tổ chức, nội vụ ăn đẫy nhất”!.

Ngay sau khi các thông tin được ông này tung lên mạng đã thu hút hàng nghìn bình luận, chia sẻ theo hướng tiêu cực, xuyên tạc, phá hoại chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về sắp xếp đơn vị hành chính. Bên cạnh đó, nhiều người cũng phản bác, vạch trần quan điểm sai trái của ông T, đặt câu hỏi: “Ông không tìm hiểu cho kỹ, Quốc hội, Bộ Nội vụ đã hướng dẫn, quy định sau khi sáp nhập, phân bổ công chức, viên chức theo quy mô dân số và nhiều yếu tố khác. Nếu nói như ông thì các chức danh, vị trí cấp trưởng, cấp phó làm sao tinh giản?

Thực tế, không ít trường hợp núp bóng “xã hội dân sự”, dưới chiêu bài “phản biện” để xuyên tạc, chống phá Hiến pháp 2013 và nhiều vấn đề khác. Nhiều bài viết cũng “bóc mẽ” hành vi của một số cá nhân chống đối khi cố tình cắt gọt bản chất vấn đề để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; gây hoang mang dư luận, làm giảm niềm tin của nhân dân; kêu gọi, kích động, lôi kéo người dân tham gia biểu tình, hoạt động với mục đích chống đối chính quyền.

Mượn gió bẻ măng, lấy cớ để chống phá, trên không gian mạng, các tổ chức phản động như Việt Tân, VOA, Báo Tiếng Dân… suy diễn, xuyên tạc: “Hôm nay nghe sáp nhập mà kinh. Gần 100 triệu dân Việt Nam, cả đời đi làm lại giấy tờ vì ai đó thích. Xin hỏi, các vị định hành dân đến bao giờ”! Có trường hợp đưa ra những phê phán tùy tiện khi cho rằng, quy định tại Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính để tính số lượng công chức cấp xã tăng thêm như sau: Phường thuộc quận cứ tăng thêm đủ 1/3 mức quy định về quy mô dân số thì được tăng thêm 1 công chức; các đơn vị hành chính cấp xã còn lại cứ tăng thêm đủ 1/2 mức quy định về quy mô dân số thì được tăng thêm 1 công chức. Từ đó quy kết, tất cả những thay đổi, tách nhập kiểu này “đều dẫn đến sai lầm, kìm hãm và bế tắc”! Từ đó họ miệt thị rằng, việc tách nhập địa giới hành chính là sự tùy tiện, thể hiện sự “yếu kém, bế tắc” trong quản lý hành chính.

Khi giấc mộng tan vỡ nơi xứ người

Thực tế cho thấy, không ít đối tượng sau khi rời khỏi Việt Nam đã vỡ mộng với “giấc mơ miền đất hứa” hoặc sống chui lủi trong các trại tị nạn ở nước thứ ba… Thật không khó để đoán được một tương lai khó khăn đối với những người vốn chỉ “dùng loa để kiếm sống”, khi ra nước ngoài do không có trình độ, năng lực, không còn được các tổ chức phản động sử dụng nên số này lâm vào túng quẫn.

Một điều dễ nhận thấy nhất là khi số đối tượng trên rời Việt Nam ra nước ngoài thì cũng là lúc họ không còn nhận được sự quan tâm từ những kẻ vốn luôn hứa hão, dần dần “chìm nghỉm” trên mạng, thậm chí số đối tượng trên còn phải chịu sự “ghẻ lạnh” từ chính những tổ chức từng đỡ đầu, khích lệ các hành vi chống phá ở trong nước do không còn giá trị lợi dụng. Trước khi rời Việt Nam, mạng xã hội được các đối tượng trên triệt để lợi dụng để kích động, chống đối, xuyên tạc sự thật. Còn sau khi rời Việt Nam thì mạng xã hội lại là nơi để các đối tượng kêu than về sự quay lưng của chính tổ chức từng cưu mang rồi cuộc sống khó khăn khi không có chuyên môn, trình độ…

Chuyện các nhà “dân chủ” ngày càng vỡ mộng về cuộc sống trời Tây đã chẳng còn là chuyện gì xa lạ nữa, thậm chí khi bị vỡ mộng, số này còn liên tục có những bài viết tố cáo lẫn nhau cho thấy thực tế thực sự bi hài. Kể từ khi Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (blogger Mẹ Nấm) được bảo lãnh “xuất khẩu miễn phí” ra nước ngoài từ năm 2018 đến nay, gần như các thông tin về “Mẹ Nấm” đã không còn xuất hiện nhiều trên mạng xã hội khi mà công việc chính là chống phá ở trong nước đã không còn thực hiện được nữa. Đến nay, những thông tin về “Mẹ Nấm” có chăng chỉ là những lời than vãn trên mạng xã hội về cuộc sống khó khăn, khổ sở mà trợ cấp thì không đủ để duy trì cuộc sống tối thiểu.

Trần Thị Nga khi sang đến Mỹ lại không nhận được sự trợ giúp từ những tổ chức vẫn nói “luôn đồng hành”, Nga túng thiếu, vật lộn khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần, khi đó mới nhận ra mình đã bị mắc mưu những kẻ giảo hoạt. Còn kẻ giảo hoạt thì nói rồi quên, hứa rồi bỏ, tung hô rồi phó mặc, sự thật ấy khi Nga nhận ra thì đã quá muộn. Thực tiễn vỡ mộng đó đã khiến cho Trần Thị Nga thốt lên chua xót: “Vậy là tôi đã có thêm một bài học một kinh nghiệm có giá trị”! Vậy mà, khi còn trong tù, Nga không hối lỗi cải tạo để sớm được trở về với xã hội, trở về với cộng đồng hưởng cuộc sống thanh bình, tự do, mà còn tìm kiếm mộng ảo nơi “thiên đường đất Mỹ”, giờ đây mới đớn đau tỉnh ngộ.

Hay như Lê Thu Hà, một người từng được biết đến là cộng sự đắc lực của Nguyễn Văn Đài trong các hoạt động gây rối khi còn ở Việt Nam. Tuy nhiên khi sang Đức tị nạn thì Hà đã bị Đài bỏ rơi vì không còn giá trị sử dụng mà chỉ làm vướng bận thêm cuộc sống của y để rồi khi tìm đường về Việt Nam thì không còn cơ hội nữa. Cũng có những trường hợp sau khi sang Mỹ, châu Âu, nhờ được sự giúp đỡ của người thân, họ tìm được việc làm, tạm ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, dù không quá vất vả, lận đận kiếm tiền song các “nhà dân chủ” sớm nhận ra sự thật đắng cay: Các tổ chức, cá nhân vốn hứa bao bọc, giúp đỡ nhằm tạo ngọn cờ chống đối trong nước, nay tìm cách tảng lờ, coi như không liên quan như Bạch Hồng Quyền, Nguyễn Văn Hải…

Có lẽ, đây mới chỉ là những đoạn đầu của con đường không tương lai của những người trên, những kẻ phản bội đất nước, dân tộc để cầu hư vinh. Chỉ khi ra nước ngoài, bản chất thật sự của số gọi là “nhà dân chủ, người yêu nước, nhà đấu tranh nhân quyền” mới bộc lộ, để rồi chìm dần vào sự quên lãng khi đã không còn giá trị sử dụng đối với các tổ chức chống phá ở nước ngoài. Cha ông ta thường dạy “không ai cho không thứ gì”. Những kẻ phản bội đất nước thì đa phần đều đã làm cha làm mẹ, luôn nói rằng được sống trong môi trường giáo dục nhưng bản thân lại không làm theo điều cha ông đã dạy “đói cho sạch, rách cho thơm”.

Quê hương, đất nước bất luận trong hoàn cảnh nào cũng thiêng liêng, cao quý, làm sao có thể rời bỏ mẹ cha, ruồng bỏ quê hương. Chỉ có những người phụ bạc với đất mẹ, với Tổ quốc thì bước đi đâu mà không phải cúi đầu, còn gì liêm sỉ để ngẩng lên mà nhìn người khác? Con đường do họ chọn và chính họ chấp nhận rời bỏ quê hương, phản bội lại Tổ quốc, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân. Đến khi nhận ra bị chính những tổ chức phản động lợi dụng “vắt chanh, bỏ vỏ”, sức tàn lực kiệt, hối cải, nghĩ đường về quê hương thì mọi thứ đã muộn. Đây cũng là bài học cho những kẻ trong nước lựa chọn con đường phản bội lại đất nước, dân tộc, tiếp tay cho các tổ chức thù địch, phản động, nuôi mộng định cư ở miền đất hứa và “đổi đời”.

Những chiêu trò quen thuộc

    Trong thế giới phẳng ngày nay, việc mỗi người đi, đến hay định cư ở một quốc gia nào đó hoàn toàn là quyền cá nhân. Quan trọng là có đáp ứng được các yêu cầu của nước sở tại khi đến định cư hay không. Với nhiều người Việt Nam, việc đi ra nước ngoài học tập, làm việc và định cư, đến Châu Âu, Úc, Mỹ là hoàn toàn bình thường, nhất là khi đất nước ta đã và đang ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác, phát triển kinh tế, hội nhập sâu rộng.

    Nhưng ở một khía cạnh nào đó, vẫn còn có những người không có năng lực, trình độ, không có công ăn việc làm ổn định nhưng luôn mang trong mình giấc mộng phù hoa dù họ không đáp ứng được yêu cầu của các nước sở tại. Cũng có người có chút năng lực, khi “nổ” trên mạng xã hội thì ảo tưởng mình là tài năng, là hiếm có, cho rằng ở trong nước “nhân tài không được trọng dụng” nên tìm cách vu cáo mất dân chủ, nhân quyền hòng nhận sự để ý và hỗ trợ vật chất từ bên ngoài, dần dần tạo cớ để được “chiêu mộ đến xứ thiên đường”!

Để đạt được mục đích đó, họ đã bất chấp tất cả, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, phản bội lại mảnh đất đã nuôi dưỡng mình trưởng thành…

Vẫn là những chiêu trò cũ rích của thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền đưa ra những thủ đoạn, các luận điệu để xuyên tạc, bóp méo sự thật về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam như: Phủ nhận giá trị lý luận, thành tựu, thực tiễn, các quan điểm, đường lối của Đảng về dân chủ, nhân quyền; xuyên tạc, kích động vấn đề dân tộc, tôn giáo, tự do, dân chủ; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm để lôi kéo, kích động người dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, xã hội...

Để thực hiện được những âm mưu đó, các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài cần những con rối ở trong nước tiếp tay hoạt động. Với chiêu trò cho tị nạn, hứa hẹn một tương lai xán lạn nơi xứ người đã khiến cho nhiều kẻ trở lên lóa mắt và sẵn sàng làm con rối cho chúng. Hằng năm, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong nước ngoài gửi về nước ngoại tệ cùng các phương tiện kỹ thuật như máy tính xách tay, máy ảnh kỹ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài nên số chống đối trong nước thời gian qua hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối là một nghề kiếm sống, là một con đường để rời bỏ quê hương, tị nạn chính trị.

Khi số đối tượng trên bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý về các hành vi vi phạm pháp luật theo quy định thì các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng để "tôn vinh" những đối tượng trên bằng những cái tên mỹ miều như "nhà dân chủ", "nhà phản biện", "luật sư nhân quyền" để rồi lớn tiếng cho rằng việc bắt giam những người này là "vi phạm dân chủ, nhân quyền". Một mặt, lo sợ trước sự phản ứng của người dân trong nước và sợ bị pháp luật trừng trị, các đối tượng đã tìm cách đào tẩu ra nước ngoài, xin tị nạn chính trị để tiếp tục bám gót các thế lực chống đối và sử dụng không gian mạng để phát tán tin giả, thông tin bịa đặt chống phá, bôi nhọ hình ảnh đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.

CẢNH GIÁC VỚI HÌNH THỨC MỚI TRONG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUÂN CÔNG!

     Pháp luân công (PLC) còn có tên gọi khác là Pháp luân đại pháp do Lý Hồng Chí (sinh năm 1952 tại Cát Lâm, Trung Quốc) lập ra năm 1992. PLC không phải tôn giáo, không có giáo lý, giáo luật, cấu trúc tổ chức, nhà cầu nguyện…

Thời gian qua, bên cạnh việc sử dụng các hình thức tuyên truyền, lôi kéo người tham gia PLC như trực tiếp tán phát tờ rơi, tặng đĩa CD, sách, quà tặng qua bưu điện... thì hiện nay các đối tượng PLC còn sử dụng hình thức mới là gửi kèm "quà tặng" (đồ vật liên quan đến PLC) cho khách đặt mua hàng online. Với hình thức trên, sau khi chốt đơn hàng các đối tượng sẽ nhắn tin đường link về PLC và gửi "quà tặng" kèm theo hàng hóa được đặt mua, gồm một số đồ vật như: Chuỗi nhựa hình bông sen (dạng móc khóa) có gắn miếng nhựa mika có ghi chữ: “PHÁP LUÂN ĐẠI PHÁP HẢO”, dòng chữ tượng hình, đường link, tài liệu tuyên truyền về PLC.

Khuyến cáo người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện rõ bản chất của PLC, kịp thời phát hiện, trình báo với lực lượng Công an khi phát hiện người có hành vi truyền bá PLC trên địa bàn./.
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 4 tháng 10, 2023

BIẾT ĐIỂM DỪNG

Làm gì thì làm, nói gì thì nói, nhưng phải có giới hạn, phải biết điểm dừng, giới hạn  là do bản thân ta tự đặt ra, hoặc do chuẩn mực đạo đức mà xã hội đặt ra cho chúng ta. 

Để tránh sa ngã, tránh bị cám dỗ vào những điều mà lương tâm và Luật pháp không cho phép, thì mỗi người nên đặt ra nguyên tắc và giới hạn cho mình, để rèn luyện, để tự nghiêm khắc với bản thân. 

Bởi vì trong mỗi người đều có khát vọng và tham vọng. khát vọng là sự khát khao vươn tới những tầm cao mới, muốn khám phá khả năng của bản thân, để quyết tâm đạt được mục tiêu điều mà mình mơ ước, đố là điều đáng trân trọng. 

Còn tham vọng là muốn có được danh vọng, tiền bạc, địa vị, có được sự nổi tiếng , nhưng lại không biết lượng sức mình, làm những việc vượt quá khả năng của bản thân dẫn đến thất bại. Giới hạn sẽ giúp bạn biết cách dừng lại đúng lúc, tránh được những điều đáng tiếc có thể xảy ra.

Hà Thanh

Phát triển kinh tế số thúc đẩy tăng trưởng nhanh

 

Một trong các nguồn lực được coi là đầu vào của nền kinh tế là khoa học công nghệ. Trong kinh tế số, khoa học công nghệ được ứng dụng sâu, rộng trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Khoa học công nghệ không chỉ tạo ra sản phẩm nhiều hơn về số lượng, chủng loại và chất lượng ngày càng tốt hơn, tạo ra sản lượng lớn hơn cho nền kinh tế mà còn có thể làm tăng năng suất lao động.

Trong kinh tế số, mọi lĩnh vực, mọi ngành kinh tế có thể kết nối được với nhau, theo đó, thông tin sẽ được phổ biến rộng rãi, được truyền dẫn, xử lý với tốc độ rất nhanh làm giảm thời gian, giảm chi phí rủi ro do sai sót, chi phí tài chính và nhiều chi phí khác giúp nâng cao năng suất của người lao động, của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế.

Việc tăng năng suất lao động sẽ giúp tăng sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, theo đó, tạo dư địa cho các chính sách kích cầu cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định.

Phát triển kinh tế số thúc đẩy thương mại phát triển

 Với sự có mặt của kỹ thuật số, việc trao đổi mua bán giữa người sản xuất và người tiêu dùng, giữa các quốc gia với nhau sẽ được đẩy nhanh tốc độ và lưu lượng giao dịch thương mại. Theo thống kê, trong những năm gần đây, thương mại điện tử xuyên biên giới đã tạo ra hàng nghìn tỷ li đô la trong hoạt động kinh tế, góp phần tăng 10% GDP toàn cầu trong một thập kỷ qua. Theo ước tính, kinh tế số của khu vực Đông Nam Á trong năm 2018 đạt 72 tỷ USD và dự kiến ước đạt 240 triệu USD/năm vào năm 2025. Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, kinh tế số được dự đoán có thể chiếm tới 60% GDP khu vực vào năm 2021 

Phát triển kinh tế số tạo mô hình kinh doanh mới

 

Trong kinh tế số, nhiều mô hình kinh doanh mới có thể xuất hiện thay thế, hoặc cạnh tranh với mô hình kinh doanh truyền thống. Chẳng hạn Uber, Grab đang cạnh tranh với taxi truyền thống, fintech (công nghệ tài chính) đang thách thức ngân hàng truyền thống, mua bán Online đang cạnh tranh và chiếm dần thị phần của thương mại truyền thống (chợ, siêu thị,...), bitcoin và nhiều loại tiền ảo khác ra đời, chèn lấn các loại tiền pháp định hiện hành, khiến cho nền kinh tế có thể phức tạp và sôi động hơn và cũng có thể bất ổn hơn. Trong tương lai, rất có thể có nhiều hình thức số kinh doanh mới sẽ xuất hiện, thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng và trao đổi, thanh toán nhanh hơn.

Phát triển kinh tế số thúc đẩy sản xuất hiệu quả

 

Trong phát triển kinh tế số, công nghệ thông tin, kỹ thuật số được ứng dụng để thiết kế, chế tạo sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của người tiêu dùng. Những thiết kế sản phẩm được lưu giữ dưới dạng thông tin và có thể được truyền đi không giới hạn. Việc lưu giữ thiết kế sản phẩm mới còn giúp cho doanh nghiệp có thể điều chỉnh, cải tiến sản phẩm nhanh hơn, dễ dàng hơn trên cơ sở các thiết kế sản phẩm đã có. Theo đó doanh nghiệp có thể liên tiết kiệm chi phí thời gian, nhân lực và nhiều chi phí khác.

Các doanh nghiệp có thể ứng dụng tự động hóa, robot hóa vào dây chuyền sản xuất. Điều đó không chi giảm chi phí sức lao động cho con người mà còn giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện được những công việc. Trong kinh tế số, các doanh nghiệp có thể ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý quá trình sản xuất, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quá trình quản lý mở rộng quy mô sản xuất.

Phát triển kinh tế số lõi

 Bàn thân công nghệ số lõi có đóng góp to lớn vào tăng trưởng của các nền kinh tế, khi các công ty công nghệ số tạo ra các phần cứng và phần mềm được thương mại hóa trên thị trường trong nước và nước ngoài đem lại cho nền kinh tế một nguồn thu lớn. Theo tính toán, nhờ sản xuất phần cứng và phần mềm để bán, kinh tế số lõi có thể đóng góp từ 8 - 10 % GDP của nền kinh tế

Đặc trưng của phát triển kinh tế số

             Đặc trưng của phát triển kinh tế số được tập hợp trong 3 quá trình xử lý chính đan xen với nhau, bao gồm: xử lý vật liệu; xử lý năng lượng; xử lý thông tin. 

Trong đó, việc xử lý thông tin đóng vai trò quan trọng nhất và cũng là lĩnh vực dễ số hóa nhất. Tính kết nối giữa các chủ thể và chu trình kinh tế nhờ vào các thành tựu của công nghệ thông tin và Internet giúp kết nối hóa các nguồn lực, lược bỏ nhiều khâu trung gian và tăng cơ hội tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu. Có thể dựa trên khả năng kết nối thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếp cận với cơ sở dữ liệu lớn, những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phá công nghệ trên nhiều lĩnh vực.

Phát triển kinh tế thịnh vượng

 

Kinh tế thịnh vượng là “nền kinh tế mà vai trò nhà cung cấp và người tiêu dùng trở nên mờ nhạt để tiến tới hợp nhất (người tiêu dùng bền vững: prosumer)”, “kinh tế tuần hoàn vĩ mô có tác động xã hội và sinh thái tiêu cực hoặc tích cực tối thiểu, một hệ sinh thái của nhà sản xuất và nhà tiêu dùng bền vững có quan hệ hiệp đồng và tuần hoàn với các chuỗi/mạng cung cấp sâu rộng mà sự rò rỉ của cải ra khỏi hệ thống là cực tiểu”. Đặc trưng điển hình của kinh tế thịnh vượng là kết nối mật thiết nhà cung cấp - người tiêu dùng để triệt tiêu lãng phí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

Phát triển kinh tế dữ liệu

 

Dữ liệu được đánh giá là “dầu mỏ của tương lai”, có vai trò nhiên liệu thô cho nền kinh tế ở thế kỷ 21 giống như dầu mỏ trong thế kỷ 20, và kết quả là, nền kinh tế dữ liệu đã hình thành và ngày càng phát triển rất nhanh chóng.