Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2023

Xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh


Trong thời gian qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo và yêu cầu các cấp ủy đảng, địa phương, đơn vị tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Trung ương. Trong đó, công tác xây dựng Đảng về đạo đức của cán bộ, đảng viên xem là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng hiện nay nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống đáp ứng yêu cầu cách mạng trong tình hình mới. Qua đó, tiếp tục kế thừa và khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về đạo đức cách mạng không chỉ có giá trị lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay.

1. Xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh về đạo đức - yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng

Để xác định mục tiêu của đảng cộng sản ở từng nước, C.Mác từng chỉ rõ, trước hết phải giành lấy chính quyền, khi đã giành được chính quyền thì đảng phải lãnh đạo nhà nước của dân, do dân và vì dân để xây dựng xã hội mới. Do vậy, vai trò lãnh đạo của đảng lại càng cần thiết. Bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là sứ mệnh cao cả mà nhân dân trao cho đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhu cầu phát triển của Đảng. Mỗi bước phát triển của cách mạng đòi hỏi phải giải quyết các mâu thuẫn cơ bản một cách sâu sắc, toàn diện và triệt để, khi ấy tất yếu phải tiến hành những biện pháp để xốc lại đội ngũ, chấn chỉnh lực lượng, tăng thêm sức mạnh của Đảng.

Để Đảng làm tròn sứ mệnh của mình trước những chuyển biến của cách mạng, của đời sống xã hội, tất yếu Đảng phải thường xuyên làm trong sạch đội ngũ của mình, phải nâng mình lên ngang tầm với lịch sử, phải chỉnh đốn và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tiếp thu tư tưởng của C.Mác, V.I.Lê-nin về đổi mới, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam và đưa ra những quan điểm hết sức sâu sắc. Người nhận định, “trong hàng chục vạn cán bộ và đảng viên xứng đáng, còn lẫn vào một số người thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng. Họ còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân trong mình. Đứng trong hàng ngũ chiến đấu của Đảng mà họ không có dũng khí cách mạng, ít lo nghĩ về trách nhiệm của mình, không quyết tâm vươn lên phía trước. Họ hững hờ như những người không có lý tưởng, đến đâu hay đó, qua tháng qua ngày. Đối với công việc của cách mạng, không có thái độ người làm chủ tập thể, dám nghĩ dám làm, mà thường bị động ngồi chờ”(1). 

Vì những lý do trên mà Đảng phải thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức là đòi hỏi khách quan và cũng là yêu cầu sống còn để bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, nâng cao bản lĩnh chính trị và sức chiến đấu của Đảng, khắc phục những hạn chế, sai lầm khuyết điểm; tạo môi trường và điều kiện để mỗi đảng viên và cán bộ hoàn thiện nhân cách, trở thành người cộng sản chân chính, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

2. Nội dung xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường cách mệnh năm 1927, ngay trang đầu tiên của tác phẩm, Người đã nêu lên 23 điều về tư cách của người cách mạng, tập trung giải quyết ba mối quan hệ cơ bản, đó là với mình, với người, với việc. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(2). Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Người coi đạo đức như gốc của cây, như nguồn của sông: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”(3).

Vai trò nền tảng của đạo đức được Người khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa”(4), “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không” (5), “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng” (6).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức còn có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi mới xã hội cũ thành một xã hội mới và xây dựng thuần phong mỹ tục. Người cho rằng: “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước… khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”(7).

Qua nghiên cứu các quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, có thể khái quát lại thành những chuẩn mực đạo đức cơ bản sau: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương con người, sống có tình, có nghĩa; tinh thần quốc tế trong sáng. Phẩm chất “trung”, “hiếu” là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống của người phương Đông, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng và đưa vào những nội dung mới, tiến bộ hơn, phù hợp hơn, vượt qua những hạn chế trước đây. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thì trung với nước là trung thành với sự nghiệp cách mạng, với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây là nước của dân, còn dân chính là chủ nhân đích thực của nước. Từ chỗ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành “trung với nước, hiếu với dân”. Bác đã chỉ ra: Nhân dân từ chỗ là kẻ nghèo hèn, phải được chăn dắt, sai khiến trở thành lực lượng làm nên lịch sử, sáng tạo ra lịch sử. Trước kia quan là phụ mẫu của dân, thì nay Đảng, cán bộ, đảng viên là “’đầy tớ trung thành của nhân dân”. Theo Người, trung với nước, hiếu với dân là phải suốt đời đấu tranh cho cách mạng, ra sức làm việc giữ vững kỷ luật, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lấy dân làm gốc, tiếp thu trí tuệ của dân, học hỏi dân, phải biết làm học trò của dân mới làm được thầy của dân. Như thế, sự nghiệp cách mạng mới thành công.

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là phẩm chất đạo đức thể hiện rõ qua hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là các hoạt động hằng ngày của Người. Trong các tác phẩm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại nói về đạo đức cách mạng như: Đường cách mệnh 1927, Đạo đức cách mạng 1958…, những phẩm chất trên được Người đề cập nhiều nhất, thường xuyên nhất. Bác không những giải thích nghĩa của cần, kiệm, liêm, chính mà Người còn nêu lên mối quan hệ giữa 4 phẩm chất đó: Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Một con người phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. So với bốn mùa của trời, bốn phương của đất, Người cho rằng: “Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”(8). Cần, kiệm, liêm, chính đối với cán bộ, đảng viên lại rất cần thiết, bởi vì “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút”(9). Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, càng có chức, có quyền càng phải cần, kiệm, liêm, chính “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”(10).

Chí công vô tư là không nghĩ đến mình trước, hưởng thụ đi sau, là “lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào”. Thực hành chí công vô tư là phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là trái với chủ nghĩa tập thể, trái với đạo đức cách mạng, trái với nhân cách, phẩm chất của một người cộng sản chân chính. Vì vậy, đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, bởi “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(11).

Tuy nhiên, cần nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân thì việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”, chỉ lo “mình béo mặc thiên hạ gầy”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu. Con người không phải thánh thần, có tốt, có xấu. Chúng ta cần làm cho phần tốt của mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi.

Đạo đức của Đảng hàm chứa tình nhân ái, rộng lớn, bao la. Tình yêu thương con người ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không chung chung trừu tượng, mà trước hết giành cho những người mất nước, người cùng khổ. Yêu thương con người với một tình cảm sâu sắc, vừa bao la, vừa gần gũi, bao trùm cả cộng đồng đến từng số phận con người, đánh thức những gì tốt đẹp nhất trong mỗi con người, tạo điều kiện cho họ đứng dậy vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Tình yêu thương con người ở Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt ra ngoài phạm vi dân tộc, mang tính nhân loại, vừa bốn biển năm châu, vừa bốn phương vô sản. Đó chính là tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung.

Có thể khẳng định, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về đạo đức cách mạng là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta, việc vận dụng và phát triển các giá trị tư tưởng đó vào sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ của đất nước trong điều kiện hiện nay là việc làm không chỉ có giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 31 THÁNG 12 NĂM 1958!

     “Cá nhân chủ nghĩa đẻ ra hàng trăm tính xấu như siêng ăn, biếng làm, kèn cựa, nghĩ đến mình không nghĩ đến đồng bào, tham danh lợi, địa vị.v.v...”!

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí minh tại buổi nói chuyện với giáo viên và học sinh Trường Phổ thông cấp III Chu Văn An - Hà Nội ngày 31 tháng 12 năm 1958.

Chủ nghĩa cá nhân được Hồ Chí Minh ví như “giặc nội xâm”, “giặc trong lòng” và nó như một thứ vi trùng độc hại, là rác rưởi làm tha hóa các mối quan hệ vốn có của mỗi cán bộ, đảng viên. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà cán bộ, đảng viên phạm nhiều sai lầm, cần phải kiên quyết đấu tranh, sửa chữa, quét sạch.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI của Đảng về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra tội ác của chủ nghĩa cá nhân; đó là: Sống ích kỷ, sống thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, muốn quét sạch chủ nghĩa cá nhân, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn học tập để nâng cao và thấm nhuần đạo đức cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận; nâng cao dân trí, thực hiện và phát huy quyền dân chủ thực sự và rộng rãi, tăng cường mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ giữa Đảng với quần chúng nhân dân; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, đề cao tự phê bình và phê bình và tích cực xây dựng cái đúng, cái tốt, cái đẹp, để dẹp cái xấu, lấy xây là chính... Quan niệm và những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phòng tránh, đấu tranh hiệu quả chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng có giá trị lâu dài và tính thời sự cấp thiết.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất; đặt ra yêu cầu cao về tính tập thể, về mối quan hệ gắn bó đồng chí, đồng đội, quan hệ quân - dân... đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân, tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta, được nhân dân yêu mến, tin tưởng tặng cho danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”./.
Môi trường ST.

Quân ủy Trung ương quyết liệt thực hiện việc điều chỉnh tổ chức lực lượng Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề để xây dựng lực lượng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

 Năm 2024 là năm bản lề có ý nghĩa quan trọng để phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng bộ Quân đội. Đây cũng là năm diễn ra nhiều sự kiện lớn, trong đó có kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Lịch sử Điện Biên Phủ, 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân.

Dự báo tình hình khó khăn, thách thức sẽ nhiều hơn thuận lợi, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Quân ủy Trung ương cần tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng.

Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, nắm chắc tình hình tham mưu với Đảng, Nhà nước các đối sách thích hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tuyệt đối không được chủ quan, mất cảnh giác, không để bị động, bất ngờ” – Tổng Bí thư nhấn mạnh và yêu cầu Quân ủy Trung ương tiếp tục tham mưu ban hành các chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật về quân sự, quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

NXV.


Trong mọi tình huống đều phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

 

Tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Hội nghị Trung ương 8 tập trung làm rõ những thuận lợi, cơ hội cần nắm bắt, những khó khăn, thách thức phải vượt qua để chủ động từ sớm, từ xa, trong mọi tình huống đều bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hội nghị chú ý phân tích, làm rõ, tạo sự thống nhất cao về bối cảnh tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ mới, sự phát triển và thay đổi về nhu cầu, lợi ích của các giai tầng xã hội hiện nay; những kết quả, thành tựu chủ yếu cần tiếp tục được phát huy; những hạn chế, khuyết điểm cần sớm được khắc phục, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm được rút ra, và chủ trương, chính sách tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc.

NXV.


VIỆT NAM - THẾ GIỚI: CÚ HÍCH TĂNG HẠNG VIỆT NAM TRÊN BẢNG XẾP HẠNG THẾ GIỚI!

     Nhiều tổ chức quốc tế có uy tín tiếp tục đánh giá cao kết quả và triển vọng của nền kinh tế Việt Nam và dự báo sẽ phục hồi nhanh trong thời gian tới!

Tăng trưởng vượt bậc về giá trị thương hiệu quốc gia
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) mới đây công bố báo cáo chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index) với bước tiến bộ rõ nét của Việt Nam trong năm 2023. Trong bảng xếp hạng mới này, vị trí của Việt Nam tăng 2 bậc so với năm 2022 và xếp hạng ở vị trí 46/132 quốc gia, nền kinh tế.

Ở trong bảng xếp hạng này, Việt Nam duy trì vị trí thứ 2 trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp. Quốc gia thu nhập trung bình thấp xếp trên Việt Nam là Ấn Độ với thứ hạng 40.

Ngoài ra, có 5 quốc gia có thu nhập trung bình cao xếp trên Việt Nam là Trung Quốc (xếp hạng 12), Malaysia (xếp hạng 36), Bulgari (xếp hạng 38), Thổ Nhĩ Kỳ (xếp hạng 39) và Thái Lan (xếp hạng 43). Còn lại, tất cả các quốc gia xếp trên Việt Nam đều là các nước có nền công nghiệp phát triển, thuộc nhóm thu nhập cao.

Phát biểu trước nghị trường Quốc hội tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho biết, với những thành tựu kinh tế - xã hội đạt được trong các tháng năm 2023, nhiều tổ chức quốc tế có uy tín đánh giá cao kết quả và triển vọng của nền kinh tế nước ta và dự báo Việt Nam sẽ phục hồi nhanh trong thời gian tới.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dẫn báo cáo của Brand Finance, trong đó nêu rõ giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam tăng trưởng nhanh nhất thế giới giai đoạn 2019 - 2022 (tăng 74%), năm 2022 đạt 431 tỉ USD, tăng 1 bậc lên thứ 32/100 thương hiệu quốc gia mạnh trên thế giới.

Đáng chú ý, theo báo cáo của Brand Finance, sự gia tăng lớn về giá trị thương hiệu của Việt Nam tương quan với việc Việt Nam đang ngày càng được nhận định là một nơi an toàn và ổn định để đầu tư khi mà nhiều nhà sản xuất tìm cách điều chuyển các hoạt động ở châu Á để tới Việt Nam.

Các nghiên cứu mới của Brand Finance không phải là định giá tổng hợp các thương hiệu của Việt Nam mà là định giá thương hiệu của chính quốc gia Việt Nam.

Phân tích về những điểm sáng kinh tế Việt Nam trong các năm gần đây, TS Nguyễn Minh Phong nhìn nhận, không chỉ trở thành điểm sáng khu vực và thế giới về kiểm soát dịch bệnh và tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo đói, Việt Nam còn ghi nhận nhiều điểm sáng khác trong xếp hạng quốc tế.

Ông Phong dẫn dữ liệu cả 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế uy tín là Moody's, S&P và Fitch đều duy trì, nâng bậc xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam.

IMF đồng thời nhận định, Việt Nam là một điểm sáng trong "bức tranh xám màu" của kinh tế toàn cầu.

“Với đường lối phát triển kinh tế, đường lối ngoại giao sáng suốt, đúng đắn trong một thế giới đầy biến động hiện nay với kết quả đạt được trong nửa nhiệm kỳ qua đã tạo cơ sở cho niềm tin vào việc kinh tế nước ta sẽ đạt được những mục tiêu của cả giai đoạn 2021-2025 mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra” – TS Nguyễn Minh Phong nhận định.

Động lực từ chính sách điều hành linh hoạt
Khi nói về những kết quả nổi bật của nền kinh tế đất nước trong năm 2023, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương nhấn mạnh: Để có sự phục hồi như vậy, rõ ràng chúng ta đã khá lên sau từng tháng, kết quả tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau đạt cao hơn quý trước.

Chúng ta đã ứng phó thành công với những "cơn gió ngược" của năm nay nhờ cách chỉ đạo điều hành linh hoạt, kịp thời của Chính phủ trong bối cảnh kinh tế thế giới, tình hình lạm phát toàn cầu đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế trong nước.

Cùng với dữ liệu tích cực khi vượt qua "cơn gió ngược" về lạm phát, giải ngân đầu tư công với lượng vốn đầu tư công cao nhất từ trước đến nay, Thứ trưởng Trần Quốc Phương cũng lưu ý điểm nổi bật trong năm nay khi bối cảnh thế giới nhiều biến động, Việt Nam đạt được nhiều kết quả rất tốt về đối ngoại. Đây là nội dung rất quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng cả năm.

Khi nói về cách thức Chính phủ Việt Nam ứng phó với những "cơn gió ngược", ông Shantanu Chakraborty - Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam - cho rằng, ADB đánh giá cao những phản ứng chính sách chủ động của Chính phủ, cân bằng ổn định kinh tế vĩ mô với hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội, thúc đẩy đầu tư công. Các chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm các biện pháp tài chính và tiền tệ. Cho đến nay, Chính phủ Việt Nam đã đi đúng hướng và kịp thời.

Tuy nhiên, ông Shantanu Chakraborty cũng cho rằng, còn nhiều điểm Việt Nam có thể cải thiện hơn nữa, đơn cử như đầu tư công còn nhiều dư địa.

Việc thực thi chính sách tài khóa có thể được đẩy mạnh hơn nữa để tăng cường cầu trong nước và kích thích các hoạt động kinh tế.

Việt Nam cũng rất thành công trong chiến lược phát triển kinh tế những năm gần đây nhưng có thể chú trọng hơn nữa vào phát triển kinh tế tư nhân, khu vực đóng vai trò then chốt của nền kinh tế. Những 'lỗ hổng", thiếu hụt về hạ tầng hiện nay còn lớn, các khoản ODA còn hạn chế.

Cần khuyến khích hơn nữa khu vực kinh tế tư nhân
Cũng theo ông Shantanu Chakraborty, Việt Nam cần huy động hơn nữa nguồn lực từ khu vực tư nhân cho hạ tầng, nhất là hạ tầng có khả năng chống chịu với sự biến đổi khí hậu. Muốn vậy, Việt Nam cần cải tổ về chính sách để khuyến khích hơn nữa khu vực kinh tế tư nhân phát triển./.

Yêu nước ST.

THẾ GIỚI VẤN ĐỀ-SỰ KIỆN: DỰ ĐOÁN VỀ TÌNH HÌNH UKRAINA HAI NĂM NHÌN LẠI!

"SAI LẦM TRONG QUAN HỆ NGOẠI GIAO ĐÃ ĐẨY UKRAINA XUỐNG BỜ VỰC THẲM!
Dưới gầm trời này, không chỉ Ukraine là quốc gia mà lịch sử bắt họ phải nằm cạnh một nước lớn. Nhiều nước trên thế giới cũng phải tự sinh tồn trong điều kiện sống gần những gã hàng xóm khổng lồ. Nước nhỏ hơn, nếu không biết cách chung sống hòa bình thì sơm muộn đều phải nhận trái đắng. Từ cổ chí kim, nhiều quốc gia nhỏ bé nhưng biết lựa chọn cho mình con đường trung dung, hài hòa với các nước lớn thì dân tộc đó tồn tại và ngược lại. Nhiều quốc gia đã bị xóa sổ vĩnh viễn trên bản đồ thế giới, kể từ khi xã hội bắt đầu phân chia giai cấp. Vấn đề Ukraine hiện nay là ví dụ điển hình cho những nước đi sai lầm, khó cứu vãn của các nhà lãnh đạo Ukraine. Họ lựa chọn Mỹ và châu Âu và đưa đất nước vào thế đối đầu với Nga - quốc gia hùng cường!

Cả Nga và Ukraina đều là những đất nước có ơn với Việt Nam ta, trước đây là anh em một nhà, trong đại gia đình Liên Xô vĩ đại. Ukraine được coi là một nước hùng mạnh ở châu Âu, quốc gia này đã từng có diện tích đất lớn thứ hai ở châu Âu, với ngành nông nghiệp khá phát triển và giá trị sản lượng chiếm 20% GDP trong nước. Với điều kiện tự nhiên tuyệt vời và một vị trí địa lý độc đáo nên Ukraine thường xuyên bị quấy nhiễu và đã trở thành chiến trường từ thời cổ đại do xung đột lợi ích.

Đến thời kỳ Liên Xô cũ, Ukraine là một thành viên chủ chốt của Liên bang Xô Viết, thừa hưởng nhiều di sản của Liên Xô cũ và đã có một vị trí nhất định ở châu Âu. Nhưng cùng với việc xa rời Nga và xây dựng đường lối thân Mỹ, chiến lược của Ukraine có thể coi là sai lầm nối tiếp sai lầm và đã rơi vào tình trạng nội chiến liên miên. 
Ukraine đã thực sự không nhận ra đạo lý "bán anh em xa mua láng giềng gần" và ngày càng nhích lại gần hơn với Mỹ, điều này cuối cùng đã dẫn đến cuộc khủng hoảng Crimea. Đến nay, Chính phủ Ukraine vẫn chưa có lại được vị trí ở Đông Âu. Nền kinh tế trong nước thì suy sụp, sức mạnh quân sự suy yếu nghiêm trọng và thậm chí vấn đề an ninh lương thực cũng chưa được giải quyết. Nguyên nhân của tất cả điều này là do đường lối thân Mỹ của Ukraine và bị Nga “chèn ép”, bao vây. Nhưng liệu Mỹ có giúp đỡ Ukraine thoát khỏi khốn cảnh này?

Hiện nay Crimea đã thuộc về Nga và hai vùng lãnh thổ của Ukraine là Donetsk và Lugansk đã tự tuyên bố thành lập Cộng hòa nhân dân Lugansk (LPR) và Cộng hòa nhân dân Donetsk (DPR). Điều đáng nói, cả hai vùng tự trị này đa số là người gốc Nga và họ đã được cấp quốc tịch Nga. Chiến lược thân Mỹ của Ukraine dường như không được Washington coi trọng, và việc xin gia nhập NATO của Ukraine cũng bị Mỹ “lạnh lùng” phủ quyết. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cho rằng, Ukraine đang đứng trước "cánh cửa để ngỏ” gia nhập NATO nhưng việc mở rộng liên minh này có thể làm tăng rủi ro Mỹ bị kéo vào một cuộc chiến tranh với Nga và châm ngòi cho cuộc xung đột lớn giữa NATO và Nga. Việc Mỹ không hỗ trợ Ukraine trong hoạt động chống lại lực lượng nổi dậy ở đông Ukraine cũng bị truyền thông các nước chỉ trích.

Giới phân tích cho rằng, đây là điều dễ hiểu, bởi vì Mỹ theo đuổi chủ nghĩa đơn phương và luôn đặt lợi ích của mình lên hàng đầu, viện trợ cho Ukraine trong thời gian này sẽ chỉ mang lại nguy hiểm cho Quân đội Mỹ. Không ngoa ngôn nhưng rõ ràng nước Nga với tiềm lực quân sự và lợi thế về tài nguyên, khoáng sản của mình, sẽ là nơi bất khả xâm lược. Nato chẳng đoàn kết để vì một Ukraina què quặt mà đắc tội với Nga. Châu Âu đang phụ thuộc quá nhiều vào lượng nhiên liệu, chất đốt của Nga. Hãy nhìn người Đức khốn khó thế nào khi mùa đông đến để biết rằng, người châu Âu cần Nga như thế nào. Ngoài mặt họ ủng hộ Ukraina nhưng rõ ràng là Nato sẽ không dám động binh để giải cứu Ukraina, vì các thành viên Nato thừa hiểu sức mạnh quân sự của Nga. 

Phía Ukraine cũng lên án sự “lạnh lùng” của Quân đội Mỹ vào thời điểm quan trọng. Chính phủ Ukraine rất không hài lòng với cách tiếp cận của Quân đội Mỹ, Ukraine cáo buộc Mỹ đã “thất hứa” khi không cung cấp bất kỳ sự hỗ trợ nào cho Ukraine như đã từng hứa hẹn. Phải thôi, người Mỹ đứng ngoài kích động, mục đích là muốn Nga phải lao tâm khổ tứ ở Ukraina, để họ đắc lợi ở trung đông và nhiều điểm nóng khác trên thế giới. Chẳng đời nào họ mang quân đội sang giúp Ukraina đánh Nga. Mặc cho Ukraina kêu gào nhưng tất cả đều án binh bất động. Tại thời điểm khó khăn như hiện nay, Ukraine lại chưa nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào từ Mỹ, ngoài việc lên án bằng lời nói, thì Ukraine có lẽ cũng không còn biện pháp nào để “đe dọa” Mỹ và điều này cũng tiếp tục chứng minh sự sai lầm trong chính sách thân Mỹ của Ukraine.

Bàn cờ thế giới nhìn có vẻ bao la nhưng thực chất là cuộc chơi của các nước lớn, Ukraina sai lầm trong quan hệ với các nước lớn, tự chui đầu vào cái bẫy mà người Nga, Mỹ, Nato giăng ra. Lãnh thổ, lãnh hải mất, đất nước nội loạn, bất ổn liên miên. Nói thế để hiểu rằng cha ông và Đảng ta đã khôn khéo như thế nào. Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính; trên tinh thần tranh thủ sức mạnh của thời đại để phát triển đất nước. Sẵn sàng làm bạn với các nước trên thế giới, miễn là tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi. Một nước nhỏ mà tự mình chọn cách đối đầu với nước hàng xóm khổng lồ thì chẳng khác nào tự mình giết mình; tạo cớ cho nước lớn xâm chiếm. Lịch sử thế giới đã chứng minh, một khi chiến tranh xảy ra thì chiến trường luôn nằm trên lãnh thổ các nước nhỏ, ngọc đá đều tan. Volodymyr Oleksandrovych Zelensky là một diễn viên hài nổi tiếng ở Ukraina nhưng làm chính trị thì khác xa với diễn hài. Mỗi một sai lầm trên bàn cờ chính trị sẽ phải trả giá bằng máu và nước mắt và Ukraina đã chọn cho mình nước đi tối nhất."./.




Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG TẬP TRUNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔNG HỢP SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN ĐỘI!

     Chiều 29-12, dưới sự chủ trì của Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Hội nghị Quân chính toàn quân năm 2023 tiếp tục nội dung thảo luận, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm 2023; xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện nhiệm vụ năm 2024!

Hội nghị có tham dự của Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; các đồng chí Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Ủy viên Quân ủy Trung ương; thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Kết quả và quyết tâm từ đơn vị
Phát biểu tại hội nghị, ngoài đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình, các đại biểu còn thể quyết tâm cao trong thực hiện nhiệm vụ năm 2024. Trung tướng Lê Đức Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng cho biết: Năm 2023, Bộ đội Biên phòng triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả công tác quản lý, kiểm soát xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu do Bộ Quốc phòng quản lý, gắn với ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính; đã làm thủ tục xuất nhập cảnh cho gần 15 triệu lượt người, tăng 328% so với năm 2022.

Đấu tranh thành công hàng trăm chuyên án, bắt hơn 7.100 vụ với gần 17.000 đối tượng. Tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở với hơn 600 cán bộ tham gia cấp ủy địa phương các cấp; nhận nuôi 350 cháu học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Nêu kiến nghị trong thời gian tới, Trung tướng Lê Đức Thái đề nghị cấp trên chỉ đạo đầu tư, xây dựng duy tu, bảo dưỡng các công trình quản lý, bảo vệ biên giới; trang bị kỹ thuật cho các đồn biên phòng theo hướng hiện đại, nhằm từng bước nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ biên giới và bảo đảm hội nhập quốc tế.

Theo Trung tướng Trần Hoài Trung, Chính ủy Quân khu 7: Nhờ triển khai quyết liệt các giải pháp về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, năm 2023, Quân khu 7 có trên 98% tổ chức Đảng và 98% đảng viên hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ngày được nâng cao, đặc biệt là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, các quy chế, quy trình lãnh đạo; khắc phục hiệu quả các yếu, kém; mọi vấn đề đều được thường vụ, Đảng ủy dân chủ quyết định theo đa số.

Trao đổi bên lề hội nghị, Thiếu tướng Trương Mạnh Dũng, Tư lệnh Quân đoàn 12. cho biết: Là đơn vị mới nhận quyết định thành lập, năm 2024, Quân đoàn 12 nghiêm túc quán triệt và thực hiện nghiêm các nhiệm vụ, giải pháp mà Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xác định, quyết tâm xây dựng Quân đoàn theo hướng "tinh, gọn, mạnh", tiến lên hiện đại; trọng tâm là đột phá vào nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật; nâng cao chất lượng tổng hợp, sức cơ động cao. Đặc biệt, tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc nghị quyết của cấp trên về điều chỉnh tổ chức biên chế bảo đảm chặt chẽ.

Tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội
Phát biểu kết luận hội nghị, thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương các cơ quan, đơn vị đã chủ động, sáng tạo, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2023. Trên cơ sở dự báo, phân tích tình hình thế giới, khu vực, trong nước liên quan đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu các cấp chủ động, nhạy bén, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước xử lý thắng lợi các tình huống về quân sự, quốc phòng, không để bị động, bất ngờ. Phối hợp triển khai hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mớ.

Tiếp tục xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ các cấp vững chắc. Thực hiện tốt chủ trương kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế-xã hội theo các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh đối với các vùng, địa bàn trọng điểm. Quản lý, sử dụng đất quốc phòng đúng quy định. Triển khai đồng bộ giải pháp nâng cao tính thiết thực, hiệu quả công tác quốc phòng và giáo dục quốc phòng an ninh; xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên.

Tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, tăng cường trinh sát điện tử, tác chiến không gian mạng, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới nội địa, bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ, các hoạt động phát triển kinh tế biển; phối hợp giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn cả nước. Tổ chức chặt chẽ, chất lượng, an toàn các cuộc diễn tập.

Tiếp tục thực hiện nghiêm túc chặt chẽ Nghị quyết của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo. Chỉ đạo huấn luyện, đào tạo đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế, đúng phương châm, quan điểm, nguyên tắc, các mối kết hợp. Đẩy mạnh xây dựng chính quy, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương.

Thực hiện nghiêm chủ trương, chỉ đạo của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, thông tin, tuyên truyền; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Nghiêm túc quán triệt, học tập, nghiên cứu và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận quy định của Đảng. Thực hiện nền nếp, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng, đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ đạo chặt chẽ Đại hội Thi đua Quyết thắng từ cấp cơ sở đến cấp trực thuộc Bộ Quốc phòng giai đoạn 2019-2024 và các hoạt động kỷ niệm, trọng tâm là kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, 80 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam, 35 năm Ngày hội QPTD.
Trung tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam phát động phong trào thi đua năm 2024 với chủ đề: “Đoàn kết, mẫu mực, kỷ cương, chủ động, sáng tạo, quyết thắng”.
Bảo đảm đầy đủ, kịp thời hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ. Thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ công tác tư pháp, thanh tra, pháp chế, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và giải quyết khiếu nại tố cáo. Triển khai các hoạt đối ngoại quốc phòng linh hoạt, hiệu quả…

Tại hội nghị, Bộ Quốc phòng công bố quyết định và trao thưởng cho các tập thể có thành tích xuất sắc trong thực hiện phong trào đua năm 2023; Trung tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam phát động phong trào thi đua năm 2024 với chủ đề: “Đoàn kết, mẫu mực, kỷ cương, chủ động, sáng tạo, quyết thắng”./.

Yêu nước ST.

 CẦN LOẠI BỎ NHỮNG CÁN BỘ “GIÃ CÀO”(!)


Trước hết, tôi có mấy lời về hai chữ: “Giã cào”! Quê tôi thuộc một tỉnh vùng biển. Bà con ngư dân làm nghề biển thường sử dụng nhiều loại lưới để đánh bắt hải sản. Trong đó có một loại lưới vừa to, vừa cao, vừa dày, các mắt lưới được đan rất nhỏ khiến những con tôm, con tép, con cá nhỏ xíu, thậm chí cả đến những đàn cá lòng tong vừa mới nở cũng không thoát khỏi loại lưới này. Đó là loại lưới giã cào. Đã có nơi, chính quyền địa phương phải ban hành lệnh cấm bà con ngư dân sử dụng loại lưới giã cào, vì nếu không thì loại lưới này sẽ “tiêu diệt” sạch sành sanh các loài tôm, cá vừa mới nở, sẽ làm cho vùng biển đó kiệt quệ, tôm cá không kịp lớn và sẽ không có cơ hội sinh sôi nảy nở.


Trong xã hội của chúng ta ngày nay, đại đa số cán bộ của Đảng và Nhà nước đều ra sức tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, phấn đấu để thực hiện tốt những lời Bác Hồ đã dạy: “Cán bộ là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”, nên họ được nhân dân quý trọng, tin tưởng, mến phục. Nhưng thật đau lòng, vì hiện tại, vẫn còn không ít những cán bộ thoái hóa, biến chất, vi phạm phẩm chất đạo đức cách mạng. Họ dùng tiền để mua chức tước, rồi dùng chức tước để vơ vét tiền. Họ lợi dụng chức quyền để tìm cách tham ô tài sản của Nhà nước, nhận hối lộ để làm giàu cá nhân. Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi mánh lới xảo trá, họ vơ vét không nương tay trong mọi cơ hội, mọi trường hợp của mọi đơn vị, địa phương và mọi người, miễn sao trong két sắt nhà họ luôn đầy ắp tiền, vàng là được. Người có cấp chức to thì “ăn” ở các dự án (dự án có thật và cả dự án “ma” - nghĩa là họ tự vẽ ra dự án để lừa bịp mọi người, không cần biết dự án đó có khả thi hay không - và thực tế đã có rất nhiều dự án bị phá sản). Họ “ăn” trong các công trình xây dựng, như nhà cửa, cầu cống, đường sá, thủy lợi, kể cả việc bán đất, bán nhà, họ đều có cách để “ăn”. Họ “ăn” trong việc mua đi, bán lại các trang thiết bị công cộng, và họ “ăn” trong các hợp đồng bán đất, bán ruộng, bán tài nguyên khoáng sản ở địa phương. Và thậm chí họ còn “ăn” trong việc xét khen thưởng huân, huy chương các loại... Những đơn vị đang có vấn đề về tham nhũng, và làm ăn thua lỗ, đang lừa dối khách hàng, nhưng lại muốn có huân, huy chương để lừa bịp dư luận, họ sẵn sàng bỏ ra tiền tỉ để kiếm các danh hiệu ảo. Người có cấp chức trung thì “ăn” khi xét duyệt để nhận người vào cơ quan, rồi xét duyệt vào biên chế chính thức, xét duyệt lên lương... Việc điều động cán bộ từ nơi này đi nơi khác, nhất là cán bộ, nhân viên từ vùng sâu, vùng xa về đồng bằng, thành phố... Tất cả đều có giá cụ thể. Từ một việc nhỏ như xét tuyển một nhân viên vào các cửa hàng, công ty, xí nghiệp làm tạp vụ, đến việc xét tuyển một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học mới ra trường, xin vào cơ quan nhà nước đều có giá từ vài ba chục triệu đến hàng trăm triệu đồng cho một trường hợp cụ thể. Đó là chưa nói đến việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, cất nhắc cán bộ hoặc giới thiệu nhân sự vào các cơ quan dân cử, ở nơi này, nơi khác đã có hiện tượng không trong sáng của một số cán bộ chỉ nghĩ đến việc đòi hỏi thủ tục “Đầu tiên” (nói lái là “Tiền đâu”?). Những cán bộ như vậy nhân dân thường gọi là những cán bộ “Giã cào” ! 


Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Chỉ thị của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thiết nghĩ mọi người chúng ta hãy kiên quyết đấu tranh loại bỏ những cán bộ “Giã cào” ấy ra khỏi bộ máy công quyền của Đảng và Nhà nước ta. Có như thế chúng ta mới phấn đấu thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Đạo đức là cái gốc của người cán bộ cách mạng!”./. 




 THI ĐUA YÊU NƯỚC, PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG


Nhắc tới Đại tướng Nguyễn Chí Thanh-một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nhớ tới hình ảnh một vị tướng luôn lăn lộn với thực tế chiến trường, với cuộc sống lao động sản xuất của nhân dân để tổng kết, khái quát và phát động các phong trào thi đua yêu nước, nhằm phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng.


Trên từng cương vị, chức trách, đồng chí đều chú trọng công tác xây dựng phong trào, chỉ đạo quá trình thực hiện. Rất nhiều phong trào đã ghi dấu ấn sâu đậm về khả năng tổ chức tài tình của Đại tướng.


Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người thực hiện xuất sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí được quân và dân ta gọi bằng các danh xưng rất gần gũi, thân thương, giản dị như: “Đại tướng của nông dân”, “Đại tướng của phong trào” hay “Đại tướng bám đội, lội đồng”... Trong giai đoạn cách mạng mới, việc đúc kết, làm rõ nghệ thuật về tổ chức các hoạt động thi đua yêu nước của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhằm phát huy cao độ nhân tố con người và khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; đồng thời, là cơ sở để tham khảo, tổ chức các phong trào thi đua đạt hiệu quả cao hơn. Nghệ thuật này được thể hiện sinh động trên một số phong trào tiêu biểu sau:


Người khởi xướng, dẫn dắt Phong trào thi đua “Ba nhất”


Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã vận dụng một cách sáng tạo vào chỉ đạo tổ chức công tác thi đua thành hành động cách mạng của hàng triệu quần chúng, bộ đội. Ngay sau khi được Đảng, Chính phủ điều động vào Quân đội và giao trọng trách Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, tại Hội nghị cán bộ chính trị chuẩn bị cho Chiến dịch Biên giới năm 1950, đồng chí đã căn dặn cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chính trị các đơn vị tham gia chiến dịch phải làm thật tốt các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị; đặc biệt, cần phải phát động một cuộc vận động lập công.


Trong những năm 1954-1958, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cùng với Tổng Quân ủy, Tổng cục Chính trị đề ra chủ trương và chỉ đạo toàn quân đẩy mạnh các phong trào thi đua nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, xây dựng Quân đội chính quy, hiện đại, góp phần củng cố, bảo vệ miền Bắc và sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Quán triệt chủ trương này, Lữ đoàn 364 pháo binh mở phong trào học tập, rèn luyện trở thành “Pháo thủ toàn năng”. Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 305 bộ binh phát động phong trào “Vượt lên hàng đầu”. Quân khu Tả Ngạn phát động và lãnh đạo phong trào rèn luyện thể lực mang tên “Đại đội gió”, bắt đầu từ Đại đội 2, Trung đoàn 50... Trước những diễn biến này, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã thường xuyên theo dõi, chỉ đạo chặt chẽ các đơn vị, tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đưa phong trào thi đua vào chiều sâu, có chất lượng và hiệu quả. Trên cơ sở đó, tháng 11-1958, Tổng Quân ủy phát động Phong trào thi đua “Tiến nhanh hoàn thành vượt mức kế hoạch xây dựng Quân đội”.


Để phong trào thi đua đạt được hiệu quả, thiết thực, cần phải tìm ra các nhân tố mới, phát hiện các điển hình tiên tiến; đồng thời, chú trọng công tác tổng kết kinh nghiệm để phát huy. Thấu triệt quan điểm đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn dành thời gian đến với các đơn vị cơ sở để phát hiện và tạo dựng phong trào. Ngay khi đến Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đoàn Vinh Quang (Sư đoàn 304), đồng chí đi sâu tìm hiểu tình hình và phát hiện, đơn vị đã dựa vào chi bộ, chi đoàn để phát động quần chúng và đề ra khẩu hiệu “Tiến công vào khoa học-kỹ thuật, làm chủ vũ khí, trang bị mới”. Với sự lan tỏa mạnh mẽ của phong trào và ý chí quyết tâm của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, ở hội thi bắn đạn thật toàn quân (tháng 6-1960), Sư đoàn 304 đạt đơn vị bắn giỏi nhất, đoàn có nhiều phân đội tham gia nhất, thành tích đều nhất. Tại lễ trao Huân chương tặng Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã khái quát những thành tích của đơn vị là “Ba nhất”. Nội dung của “Ba nhất” (nhất về huấn luyện quân sự, rèn luyện kỹ thuật; nhất về mặt gương mẫu, kỷ luật; nhất về lao động và sản xuất) đã lôi cuốn các đơn vị trong toàn quân, mở rộng ra cả những đơn vị dân quân, thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa bộ đội thường trực và lực lượng hậu bị, củng cố khối đoàn kết công-nông-binh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


“Ba nhất” được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng phát động thành phong trào thi đua trong toàn quân. Đó là một phong trào thi đua, một hình tượng thi đua điển hình vừa cụ thể vừa sinh động, lấy huấn luyện chiến đấu, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu làm trung tâm, lấy việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình làm mục tiêu thi đua cụ thể. Với ý nghĩa đó, “Ba nhất” được nêu lên như một khẩu hiệu hành động có sức hấp dẫn mạnh mẽ, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ toàn quân hăng say thi đua sáng tạo, lập công.


Dấu ấn phong trào thi đua “Gió Đại Phong”


Những năm đầu thập niên 1960, miền Bắc bước vào thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đề ra. Do yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Đảng điều động và phân công làm Trưởng ban Công tác nông thôn (sau đổi là Ban Nông nghiệp Trung ương). Từ một vị tướng cầm quân đánh giặc, Đại tướng được giao trọng trách người đứng đầu, là “Tư lệnh ngành” để chỉ đạo một lĩnh vực kinh tế trọng yếu của đất nước, trực tiếp liên quan đến sự đói no của hàng chục triệu con người, đến nguồn lương thực cung cấp cho miền Nam đánh Mỹ. Thời điểm này, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đưa nông dân vào làm ăn tập thể còn gặp không ít khó khăn, khi phần lớn nông dân Việt Nam đã quen với cách làm ăn manh mún, nhỏ lẻ và rất ngại thay đổi.


Sau khi nhận nhiệm vụ Trưởng ban Công tác nông thôn, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn canh cánh trong lòng lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phong trào mới nhóm, trầm trầm. Chú hãy cố gắng tìm cho được điển hình tốt, rút kinh nghiệm và phát huy nó lên, để đánh tan bầu không khí kém phấn khởi”. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã đi nhiều địa phương, xuống nhiều hợp tác xã, từ đồng bằng đến miền núi, từ những địa phương thuận lợi đến những địa phương còn khó khăn. Ngay sau khi được giao nhiệm vụ, đồng chí đã lên huyện Bằng Mạc, tỉnh Bắc Giang nghiên cứu Hợp tác xã Nà Cà, đi tiếp lên một bản huyện Lộc Bình, Lạng Sơn chưa lập hợp tác xã xem nguyên nhân do đâu..., đồng thời tranh thủ tìm hiểu tình hình về hợp tác hóa nông nghiệp ở một số nước bạn như Trung Quốc, Triều Tiên. Trên cơ sở thực tiễn, đồng chí đã phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm và xây dựng điển hình tiên tiến là Hợp tác xã Đại Phong (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình).


Hợp tác xã Đại Phong ban đầu chỉ có 24 hộ với 24 mẫu ruộng. Đây là quy mô khá khiêm tốn so với nhiều hợp tác xã ở miền Bắc lúc đó. Sau khi nắm bắt tình hình, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nêu khẩu hiệu “phá xiềng 3 sào”; đồng thời, giúp hợp tác xã quản lý tốt, phân công lao động hợp lý, vừa khuyến khích khai hoang, phục hóa, vừa tăng cường xen canh, gối vụ, tăng năng suất... Chỉ trong vòng 3 năm, Hợp tác xã Đại Phong đã phát triển thành hợp tác xã bậc cao với 455 hộ và 1.113 mẫu ruộng. Cơ sở vật chất, kỹ thuật phát triển, đời sống xã viên ngang với mức trung nông.


Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã kịp thời chỉ đạo công tác tổng kết, rút kinh nghiệm và đề nghị với Trung ương Đảng phát động Phong trào thi đua “Học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong”. Sau gần hai tháng phát động, đã có hơn 1.000 hợp tác xã đăng ký thi đua với Đại Phong. Một trong những xã có phong trào thi đua sôi nổi và đạt nhiều thành tựu về mọi mặt, được ví như “Đại Phong của miền Bắc” đó là Hợp tác xã Tòng Bạt ở Ba Vì (Hà Nội). Điều đó chứng tỏ sức mạnh to lớn của nông dân nước ta trên con đường hợp tác hóa, xây dựng đời sống hạnh phúc, ấm no, đem lại những thành tựu quan trọng về phát triển hợp tác xã và sản xuất nông nghiệp; góp phần to lớn vào việc xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Khi đánh giá về phong trào này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đó là một phong trào rất tốt và rất mạnh mẽ, nó chứng tỏ tinh thần hăng hái, lực lượng to lớn và khả năng dồi dào của đồng bào nông dân ta". 


Kiến tạo các phong trào thi đua giết giặc, lập công


Từ năm 1964, đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh và chư hầu vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường Việt Nam. Đây là thời điểm có tính bước ngoặt chiến lược của cuộc chiến tranh. Cách mạng Việt Nam đứng trước thử thách mới. Tháng 10-1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân ủy Trung ương điều vào miền Nam cùng Trung ương Cục trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, với cương vị Bí thư Trung ương Cục, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam.


Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã phân tích: “Mỹ vào miền Nam trong thế thua, thế bị động về chiến lược, Mỹ có cả một đống vũ khí nhưng lại vấp phải cả một đống mâu thuẫn, Mỹ là tỷ phú về đô la nhưng quân và dân ta lại tỷ phú về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có đường lối chiến tranh, chiến thuật đúng, bắt Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta, chúng bị tréo giò như “ăn cháo bằng dĩa”, nên ta nhất định thắng”. Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Chí Thanh cùng Bộ tư lệnh Miền chỉ đạo đánh thắng Mỹ ngay từ những trận đầu. Cùng với đó, quân và dân ta tiếp tục thực hiện tư tưởng chiến lược tiến công và sáng tạo nhiều cách đánh mới trên chiến trường. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã chỉ đạo tổ chức Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua các LLVT giải phóng miền Nam lần thứ nhất từ ngày 2 đến 6-5-1965 tại Chiến khu Dương Minh Châu, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước và ý chí giải phóng quê hương miền Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã nêu khẩu hiệu nổi tiếng “Cứ tìm Mỹ mà đánh sẽ tìm ra cách đánh thắng”.


Luôn sâu sát thực tiễn, nắm bắt nhanh nhạy thực tiễn chiến đấu của các đơn vị, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tổng kết nên các phương châm chỉ đạo tác chiến quan trọng, trở thành những khẩu hiệu hành động cách mạng, nhanh chóng đi vào lòng người và lan tỏa thành các phong trào thi đua giết giặc lập công trên toàn chiến trường miền Nam như: “Ở gần đánh gần”, “Không cho Mỹ, ngụy phân tuyến”, “Vành đai diệt Mỹ”, thi đua “Tìm Mỹ mà đánh, gặp ngụy là diệt”, phấn đấu trở thành “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt xe tăng”... Đặc biệt, chiến thuật đánh áp sát của Quân Giải phóng miền Nam với phương châm “Nắm thắt lưng địch mà đánh” gắn liền với tên tuổi của Đại tướng. Với cách đánh này, vừa phát huy được nghệ thuật quân sự của quân ta, vừa hạn chế tối đa ưu thế vốn có của quân đội Mỹ.


Trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, nếu như Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng Phong trào Thi đua yêu nước dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc, thì Đại tướng Nguyễn Chí Thanh chính là người thực hiện xuất sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Người trong hai cuộc kháng chiến. Bất cứ ở đâu, trên các cương vị khác nhau, đồng chí đã kiến tạo nên các phong trào thi đua yêu nước tiêu biểu, động viên sức mạnh của hàng triệu con người vào sự nghiệp cách mạng. “Ba nhất”, “Gió Đại Phong” hay “Nắm thắt lưng địch mà đánh”... đã, luôn và mãi được nhắc đến như những phong trào thi đua tiêu biểu gắn liền với vai trò to lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Đó là những bài học còn nguyên giá trị để chúng ta vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào các phong trào thi đua hiện nay, nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.




 NHẬN THỨC TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ, CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC


Là đảng cách mạng, ngay từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuân thủ những nguyên tắc của Đảng kiểu mới do V.I.Lênin đề ra. Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt lên hàng đầu và đã sáng tỏ trong nhận thức trên những vấn đề căn bản.


Đảng thống nhất nhận thức lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm học thuyết lý luận, khoa học và là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”. Cùng với tuân theo học thuyết lý luận, mọi tổ chức đảng và đảng viên phải theo lý tưởng cách mạng, ra sức đấu tranh theo Cương lĩnh, đường lối của Đảng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng, mục tiêu cách mạng Đảng đã đề ra, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của Đảng và đề cao trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên. Phải thực hiện nghiêm chỉnh kỷ luật và các quy định của Điều lệ Đảng và đảng viên phải sinh hoạt trong một tổ chức đảng là chi bộ.


Từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng và yêu cầu xây dựng Đảng, Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đã xác định: “Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức căn bản của Đảng. Nội dung của nó là tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Mục đích của nó một mặt là phát huy và nâng cao tính tích cực cách mạng, tính sáng tạo của đông đảo đảng viên và các tổ chức của Đảng, mặt khác là bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động và gìn giữ kỷ luật của Đảng. Đảng phải luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể, coi thường cấp dưới”. Đó là bản chất cách mạng, khoa học và tính đúng đắn của nguyên tắc tập trung dân chủ và được thực hiện nhất quán trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, các đảng cộng sản cầm quyền ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam và chủ nghĩa xã hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy vậy, mô hình chủ nghĩa xã hội đã bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm chậm được sửa chữa. Điều đó dẫn tới khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô (1989-1991). Nguyên nhân khách quan là chủ nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Nguyên nhân chủ quan là các đảng cộng sản cầm quyền đã rời bỏ nền tảng tư tưởng, lý luận và Chủ nghĩa Mác-Lênin, đã hạ vũ khí trên mặt trận tư tưởng trước sự tiến công hiểm độc của kẻ thù. Các đảng cộng sản đã không kiên định và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, để cho những quan điểm sai trái về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, công khai hóa, dân chủ hóa lộng hành dẫn tới sự rối loạn trong Đảng và xã hội, Đảng không kiểm soát được tình hình và mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền.


Ở Việt Nam, lợi dụng tình hình xấu đi của các nước xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch ở trong nước và lưu vong ra sức phá hoại hòng đưa đất nước rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, ngay từ năm 1989, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu, đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa... Về nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng nhấn mạnh: “Mở rộng dân chủ các lĩnh vực của đời sống xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa, không phải dân chủ tư sản. Dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng; mặt khác lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ. Dân chủ với nhân dân nhưng phải nghiêm trị những kẻ phá hoại thành quả cách mạng, an ninh trật tự và an toàn xã hội”.


Trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng đã lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) trong tổng kết công tác xây dựng Đảng đã nêu rõ kinh nghiệm hàng đầu là: “Nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”.


Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng và Nhà nước đã xử lý thành công các nội dung cơ bản.


Một là, thực hiện tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung của Đảng, Nhà nước với thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội. Sự lãnh đạo tập trung trước hết phải thống nhất về nền tảng tư tưởng, học thuyết lý luận là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lãnh đạo bằng đường lối đổi mới, cương lĩnh, chính sách, pháp luật không ngừng được bổ sung, phát triển, bảo đảm tính đúng đắn, hiện thực và hiệu quả. Phát huy dân chủ trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội dựa trên nâng cao trình độ trí tuệ và nâng cao dân trí. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kiên quyết chống tập trung quan liêu, lộng quyền, lạm quyền, tha hóa quyền lực, phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Khắc phục biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan và lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị, xã hội.


Hai là, xử lý tốt mối quan hệ giữa mở rộng dân chủ với tăng cường, siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Dân chủ thực chất là mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đề cao trách nhiệm, trí tuệ, quyền hạn, góp phần xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật và tự giác thực hiện. Kỷ luật, kỷ cương của Đảng đòi hỏi cá nhân phục tùng tập thể, tổ chức, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương. Phải giữ nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới. Lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng đã xử lý đúng đắn những mối quan hệ lớn. Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung “mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”.


Ba là, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ thống nhất, đồng bộ với các nguyên tắc khác về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đó là các nguyên tắc tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất trong Đảng; gắn bó mật thiết với nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân; thực hiện chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Sự thống nhất của các nguyên tắc đó bảo đảm không ngừng nâng cao bản chất cách mạng và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ một số hạn chế trong việc thực hiện các nguyên tắc của Đảng “Nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện chưa nghiêm, thậm chí có nơi còn vi phạm nghiêm trọng. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện hiệu quả thấp, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách cần được quy định cụ thể, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm nêu gương.


Các thế lực thù địch đang ra sức phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ với luận điệu ở Việt Nam chỉ có một đảng lãnh đạo, không có dân chủ và Đảng độc đoán, chuyên quyền. Đó là sự xuyên tạc, nhắm mắt trước sự thật, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng phải không ngừng hoàn thiện và thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ, tiếp tục xử lý đúng đắn quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm nguyên tắc đó không chỉ cần thiết của Đảng cầm quyền mà còn trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại.


Thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng là những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trong công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ từ một nước nghèo kém phát triển trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Chính trị ổn định. Văn hóa, xã hội phát triển. Đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, từ 58% hộ nghèo năm 1993, nay còn dưới 3%. Quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc. Đối ngoại và hội nhập quốc tế không ngừng mở rộng. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ. Trong phòng, chống đại dịch Covid-19, Việt Nam là một điểm sáng trên thế giới. Cả hệ thống chính trị và toàn dân tập trung hành động vừa phát triển kinh tế, vừa kiểm soát dịch bệnh. Lực lượng các ngành y tế, quân đội, công an thật sự là “lá chắn thép” bảo vệ nhân dân. Điều đó tỏ rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.


Bản chất của Đảng Cộng sản, của chủ nghĩa xã hội là hòa bình, hữu nghị, hợp tác bình đẳng. Hiện nay, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam có quan hệ tốt với hơn 200 đảng cầm quyền, đảng chính trị trên thế giới, trong đó có những đảng cầm quyền ở các nước tư bản hàng đầu. Nhà nước Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 187 nước trong 193 nước thành viên Liên hợp quốc, quan hệ kinh tế, thương mại với 224 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam được bầu là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu gần như tuyệt đối 192/193. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) nhận được hơn 500 điện, thư chúc mừng của các đảng, các tổ chức, các nhà hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội trên thế giới. Việt Nam đang từng bước sánh vai với các cường quốc trên thế giới như ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.


Thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Tập trung dân chủ là nguyên tắc mang tính khoa học và hiện thực trong xây dựng Đảng và có vai trò rất quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, bảo đảm phát huy dân chủ thực chất và giữ vững kỷ luật, kỷ cương. Nguyên tắc đó vì thế có giá trị bền vững trong lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa./. 



 VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VỚI NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN


Thời gian gần đây, việc xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo, trách nhiệm cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội được các thế lực thù địch tiến hành ráo riết và quyết liệt. Chúng cố tình xuyên tạc, cho rằng một đảng duy nhất cầm quyền sẽ đồng nhất với “mất dân chủ”, “độc tôn, độc tài”, cổ xúy cho đa nguyên, đa đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc. Chúng vu khống Đảng “đứng trên Hiến pháp và pháp luật”...


Cần khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội với vai trò là một đảng duy nhất cầm quyền, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về quyết định của mình. Là đảng duy nhất cầm quyền, nhưng Đảng ta không cho phép ai đứng trên pháp luật, đứng ngoài Hiến pháp, các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Việc xử lý cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước thời gian qua đã cho thấy không có “ngoại lệ”, “vùng cấm”, Đảng luôn đặt mình trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.


Sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội thể hiện ở đường lối nhất quán về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa Nhà nước và công dân; thực hiện dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh nguyên tắc Đảng lãnh đạo, bộ máy Nhà nước hoạt động trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản khác như: tập trung dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Điểu này bác bỏ quan điểm xuyên tạc của các đối tượng thù địch cho rằng các cơ quan nhà nước được đặt ra chỉ để mị dân, không có thực quyền.


Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội được khẳng định ở sự tiêu biểu về trí tuệ, năng lực lãnh đạo của Đảng đã đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Đảng luôn bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, tiếp thu ý kiến của Nhân dân để hoàn thiện đường lối và phương pháp lãnh đạo của mình. Điều này thể hiện khi xây dựng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nhất là khi chuẩn bị Đại hội Đảng, Đảng luôn tổ chức cho Nhân dân thảo luận, góp ý xây dựng văn kiện của Đảng, các ý kiến góp ý được tổng hợp, chắt lọc, tiếp thu, làm cho các Nghị quyết của Đảng trở thành sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Điều này khẳng định không có sự “mất dân chủ”, “độc tôn, độc tài” như các đối tượng thù địch rêu rao.


Sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới hiện nay đã đưa đất nước ta đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, tạo ra “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay” chính là minh chứng bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội./. 


Nhận thức về cục diện quốc tế

Trong hơn 20 năm trở lại đây, thuật ngữ “cục diện” bắt đầu được đề cập nhiều trong văn bản chính sách, trên các loại hình báo chí, ấn phẩm khoa học ở Việt Nam... Tuy nhiên, cách hiểu về cục diện vẫn còn khá chung chung và khác nhau. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường hiện nay, việc nghiên cứu nội hàm về “cục diện” giúp nhận định kịp thời và chính xác hơn sự thay đổi của các tác động từ cục diện đến quan hệ quốc tế, cung cấp thêm cơ sở để dự báo tình hình quốc tế nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

Trong nghiên cứu quốc tế, “cục diện” là một thuật ngữ chưa có khái niệm. Việc nghiên cứu chủ yếu hướng tới một số yếu tố lớn của môi trường quốc tế và có tác động nhiều đến quan hệ quốc tế, như hệ thống, cấu trúc, trật tự, kiến trúc… Các thuật ngữ này thường được xây dựng dưới những cách tiếp cận và quan điểm khác nhau. Có thể thấy, nhận thức về cục diện quốc tế được nghiên cứu bắt nguồn từ những yếu tố cơ bản - nguồn gốc sinh ra tác động từ cục diện tới quốc gia và quan hệ quốc tế. Đồng thời, sự vận động của những yếu tố này, cũng như mối quan hệ giữa chúng sẽ tạo ra biến đổi của những tác động. Theo đó, cục diện quốc tế xác định bảy yếu tố chính, bao gồm: Sự phân bố quyền lực, mẫu hình quan hệ phổ biến, thể chế chung, lực lượng, các xu hướng lớn trong đời sống quốc tế, những vấn đề chung.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỪ CHẤT ĐẠO ĐỨC ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY!

     Là một Đảng lãnh đạo, cầm quyền, trước những trọng trách mới và thách thức hiện nay, Đảng ta đặt vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đó cũng chính là xây dựng sức mạnh nội sinh bền vững của cách mạng, bảo đảm cho toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng không có mục đích nào khác ngoài mục đích xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh và hạnh phúc của Nhân dân!

Chưa bao giờ như hiện nay, lịch sử phát triển của thế giới và đất nước là lịch sử của sự phát triển ngắn hạn, nhất là về kinh tế. Có thể đạt được sự tăng trưởng, thậm chí nhảy vọt về kinh tế, chỉ trong vài chục năm, nhưng, chưa thấy một quốc gia, dân tộc phát triển nào phát triển bền vững và nhân văn lại buông lơi văn hóa, trong đó lại buông lơi văn hóa và nghèo nàn về đạo đức xã hội.

Một dân tộc sẽ không thể gọi là dân tộc hoàn thiện, khi không coi trọng văn hóa, trực tiếp là đạo đức xã hội không tương dung, dù kinh tế có thể đạt được mức tăng trưởng kinh ngạc nhất thời nào đó. Kinh nghiệm lịch sử của những quốc gia hoạch phát, hoạch tàn về kinh tế và xã hội đều cho thấy, họ thường thiếu một triết lý văn hóa về phát triển, cụ thể hơn là một nền đạo đức của sự phát triển mạnh mẽ, bền vững và nhân văn.      

Xây dựng Đảng về đạo đức - điểm đột phá mới mẻ, quan trọng
Là một Đảng lãnh đạo, cầm quyền, trước những trọng trách mới và thách thức hiện nay, Đảng ta đặt vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đó cũng chính là xây dựng sức mạnh nội sinh bền vững của cách mạng, bảo đảm cho toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng không có mục đích nào khác ngoài mục đích xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh và hạnh phúc của Nhân dân. 

Do đó, hơn hết lúc nào, hiện nay, trước những nguy cơ hiện hữu, những tổn thất khôn lường đe dọa vận mệnh đất nước, chế độ XHCN và sức sống của Đảng (tệ tham nhũng, lợi ích nhóm tiêu cực, tư duy nhiệm kỳ, tệ lãng phí…) chính là do sự suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang làm xã hội nhức nhối, lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước bị giảm sút nghiêm trọng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc bị xâm hại… đang đặt trước chúng ta những vấn đề nan giải. Sức mạnh nội sinh của đất nước, vì thế, nguy cơ cũng bị xâm hại.

Khi Đảng lãnh đạo, cầm quyền, quyền lực ở nơi này, người kia đang bị tha hóa, bởi những cá nhân được trao quyền. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi lòng dạ họ không còn trong sáng nữa, họ không thường xuyên tự tu dưỡng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng… đã làm cho tình hình phức tạp và nguy hiểm; đến lượt mình, họ cũng tự chuốc lấy những sự xuống cấp, băng hoại về đạo đức và bị đào thải, và chúng ta mất cán bộ, uy tín chính trị của Đảng bị xâm hại.

Những kết quả bước đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" cho thấy, khi Đảng ta giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; khi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng gương mẫu đi đầu thì niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được giữ vững, củng cố và tăng cường. Và, sức mạnh của cách mạng vì thế được khơi nguồn, giữ gìn, phát huy cao nhất.

Thực tiễn ấy khẳng định việc xây dựng Đảng về đạo đức phải là một trong những lĩnh vực cơ bản, một trong những giải pháp chủ yếu và quan trọng để củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng, đoàn kết nhân dân và đoàn kết quốc tế, trực tiếp xây dựng, nhân lên sức mạnh nội sinh của cách mạng. Và, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25.10.2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là sự tiếp tục tự nhiên vấn đề cơ bản, nhu cầu tự nhiên đó.

Xây dựng Đảng về đạo đức là điểm đột phá mới mẻ, công việc rất quan trọng. Nó góp phần quyết định hoàn thiện bản chất của Đảng, phát triển công tác xây dựng Đảng ở tầm mức mới cả về định tính và định lượng, ở quy mô và tính chất, nhằm không ngừng nâng cao sức sống, bảo đảm sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu "xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức" trở nên hoàn bị, hài hòa và thiết thực, ngang tầm vị thế và trách nhiệm lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Đạo đức là những chuẩn mực giá trị được hình thành một cách khách quan trong xã hội, có tác dụng chi phối hành vi của con người. Đạo đức của Đảng ta là đạo đức cách mạng. Đó là đạo đức mang bản chất giai cấp công nhân, phát triển trên nền móng đạo đức dân tộc Việt Nam từ truyền thống tới hiện đại và thâu hóa tinh hoa văn hóa nhân loại.

Đạo đức cách mạng là nền tảng, là vấn đề cốt lõi chi phối toàn bộ hoạt động, mục tiêu, lý tưởng chính trị và phẩm chất chính trị của Đảng nói chung, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng nói riêng. Xây dựng về đạo đức trong công tác xây dựng Đảng tự nó trở nên hết sức quan trọng, xét cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Đạo đức là gốc của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, làm cách mạng là công việc to tát, nếu không có đạo đức thì làm sao làm nổi; làm sao lãnh đạo được nhân dân. Người dạy, Đảng ta là đạo đức, là văn minh và phải là Đảng đạo đức, Đảng văn minh. Như vậy, vấn đề đạo đức của đảng viên và xây dựng đạo đức trong Đảng phải được coi là vấn đề rất quan trọng, phải được quan tâm xứng đáng và ngang tầm trọng trách trong tất cả các giai đoạn cách mạng.

Vấn đề đạo đức có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với các lĩnh vực chính trị, tư tưởng và tổ chức hay kinh tế, xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng. Mục tiêu chính trị của Đảng ta là gì, nếu không phải là vì độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý tưởng chính trị. Vì lý tưởng cao cả đó, biết bao chiến sĩ cộng sản đã hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Đó chính là đạo đức chính trị. Mục đích cao nhất của đạo đức chính trị của Đảng Lao động Việt Nam gọn gồm 8 chữ: “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc” (Chủ tịch Hồ Chí Minh). Trung với nước, hiếu với dân là một phẩm chất đạo đức, đồng thời là lý tưởng chính trị của những đảng viên chân chính, về tư tưởng chính trị. Tư tưởng đạo đức không chỉ thể hiện nhận thức đúng đắn về các giá trị đạo đức, mà còn chi phối hành động đạo đức. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, không thể không quan tâm đến xây dựng tư tưởng đạo đức và hành vi đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng về tổ chức, dù hàng vạn chi bộ hay cơ sở đảng, hàng triệu đảng viên nhưng được tổ chức chặt chẽ, để Đảng trở thành một khối thống nhất như “cha con một bụng”, trăm người như “huynh đệ một nhà”, “muôn cành chung một cội”. Để tạo nên một tổ chức như vậy, không thể chỉ quan tâm đến các nguyên tắc, dù cực kỳ căn bản, mà coi nhẹ hoặc lãng quên giáo dục đạo lý, tình thương, lẽ phải… tức là đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Đó là đạo đức chính trị và một nền chính trị đạo đức.

Đối với Đảng ta, đạo đức chính là chính trị
Yếu tố đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh về đạo đức đã nằm trong tất cả các hoạt động xây dựng Đảng, trong mục tiêu xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Không phải ngẫu nhiên, suốt gần 50 năm, ngay từ “Tư cách của người cách mạng" ở tác phẩm “Đường Kách mệnh” (năm 1927) và trong “Mười hai điều xây dựng Đảng cách mạng chân chính” ở tác phẩm ‘Sửa đổi lối làm việc" (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh tới vấn đề rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Và, trong Di chúc (năm 1969), Người vẫn căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư".

Đạo đức của Đảng biểu hiện tập trung ở mục tiêu, lý tưởng chính trị và hành động lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đó là tiên phong thực hiện sứ mệnh giải phóng con người, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho con người. Từ mục tiêu, lý tưởng đó, toàn Đảng và từng cán bộ, đảng viên trong mọi suy nghĩ và hành động phải quán triệt và thấm nhuần sâu sắc phương châm: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh". Thời kỳ phát triển mới của đất nước, hơn lúc nào hết, đòi hỏi tư duy về phát triển, hoạch định chính sách phát triển đều phải tự nó hàm chứa và thấm đẫm yếu tố đạo đức và văn hóa. Mọi quyết sách của Đảng về sự phát triển đất nước tự nó phải mang tính chính trị và văn hóa trước khi là một quyết sách về kinh tế hay phát triển công nghệ đơn thuần. Phát triển kinh tế - xã hội vừa phải được định hướng chính trị, vừa được bảo đảm bởi sức mạnh đạo đức và văn hóa, trước hết là đạo đức, văn hóa của Đảng trong điều kiện của một đảng lãnh đạo, cầm quyền. Đó là yêu cầu tất yếu của mục tiêu phát triển đất nước bền vững, dưới ngọn cờ của Đảng. Đó là đạo đức chính trị trong kinh tế một cách nhân văn.

Đối với Đảng ta, đạo đức lại là kinh tế

Đạo đức của Đảng nói chung và đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng, là tư chất của Đảng. 

Từ thực tiễn suốt 93 năm lịch sử của Đảng, không phải tới Đại hội XII, Đảng mới đề cập đến vấn đề rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, và công việc này là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt phải đặc biệt quan tâm, qua từng kỳ đại hội. Và, tùy vào tình hình, mức độ và yêu cầu thực tiễn đặt ra trong từng giai đoạn, từng nhiệm kỳ để Đảng xác định cụ thể về nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên về đạo đức. Bởi lẽ, đạo đức là "cái gốc" để tạo nên sức mạnh chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng để Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh.

Đối với Đảng ta, chính trị, ngoại giao là đạo đức!

Từ khi ra đời, nhất là hơn 78 năm cầm quyền, Đảng ta trở thành người đồng chí, người bạn của hơn 80 đảng cộng sản và công nhân, các đảng cầm quyền và liên minh các đảng cầm quyền khắp các châu lục, đầy tin cậy và tôn trọng; dưới ngọn cờ của Đảng, nước ta đặt mối giao hảo chính trị, hợp tác toàn diện ở các tầm mức khác nhau, với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trong tình bạn thủy chung, đối tác tin cậy… Vị thế chính trị quốc gia, nhờ đó, được khẳng định và uy tín chính trị dân tộc không ngừng được nâng cao. Nền tảng làm nên và là riềng mối bảo đảm các mối quan hệ chính trị ấy là gì, nếu không phải là tình hữu ái nhân loại, tình đồng chí, tình bầu bạn… nghĩa là đạo đức chính trị nhân văn Việt Nam!

Thêm một lần nữa, càng rõ ràng: Đối với Đảng ta, chính trị, kinh tế hay ngoại giao suy cho tới cùng là đạo đức!

Xây dựng, phát triển nền móng đạo đức xã hội, trước hết là đạo đức đảng viên, để Đảng thực sự là biểu tượng của văn hóa Việt Nam
Đạo đức là yếu tố làm nên sức mạnh chính trị của Đảng, tạo ra sự hấp dẫn của Đảng đối với Nhân dân ta, bạn bè, đồng chí quốc tế và làm cho Đảng trở thành một Đảng chân chính, vĩ đại, ngang tầm và xứng đáng với Dân tộc. Đặc biệt, khi Đảng trở thành một đảng cầm quyền, hơn thế nữa, lại cầm quyền trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế, thì không chỉ là tầm nhìn, trí tuệ, nhất là việc phát triển không ngừng đạo đức, bắt đầu từ mỗi đảng viên, là công việc vừa mang tính cấp bách, trước mắt vừa thường xuyên, lâu dài, có ý nghĩa thành bại, để xây dựng, chỉnh đốn Đảng thật sự xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vùa là người "đày tớ" thật trung thành của Nhân dân vừa là "đứa con nòi" của Dân tộc. 

Phải thừa nhận rằng, trước tình hình mới, đặt vấn đề và xử lý vấn đề như thời gian vừa qua, vẫn chưa ngang tầm và chưa đủ mức với sự phát triển của Đảng, yêu cầu phát triển của đất nước, nhịp bước cùng thời đại. Và, Đại hội XII của Đảng lĩnh nhiệm yêu cầu lịch sử và trọng trách cần phải có của Đảng và quyết định phải: Xây dựng Đảng về đạo đức là công việc ngang hàng trong tổng thể các công việc xây dựng Đảng, chỉnh đốn về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; và rộng hơn, đối với toàn bộ công việc lãnh đạo, cầm quyền của Đảng từ chính trị, kinh tế tới xã hội, ngoại giao… một cách ngang tầm văn hóa, thấm đẫm nhân văn là do vậy.

Lý tưởng chính trị của Đảng quyện trong đạo đức, trở thành đạo đức chính trị của Đảng; đến lượt nó, đạo đức của Đảng cũng chính là mục tiêu chính trị của Đảng, bảo đảm công cuộc lãnh đạo, cầm quyền nhân văn của Đảng thành công bền vững. Lịch sử xác tín rằng, những người vĩ đại nhất không ai không có đạo đức thật sự nhân bản và ngang tầm.  

Theo đó, tư chất đạo đức của đảng viên hiện nay, cần phải thể hiện trong thực tiễn, tối thiểu những nhân tố sau:
Một là, yêu nước thương nòi, tận trung với Đảng, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Kiên định và phát triển chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới, các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và suốt đời phấn đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. 

Mọi lúc, mọi nơi phải đặt lợi ích của quốc gia, danh dự của dân tộc, lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết; toàn tâm, toàn lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Kiên quyết đấu tranh với mọi tư tưởng và hành động làm hại đến vị thế, vai trò của Đảng, sức mạnh và uy tín của đất nước.

Sống hài hòa và tận tụy làm việc trong Nhân dân. Chăm lo, nâng cao đời sống mọi mặt của Nhân dân; tôn trọng, vai trò, phát huy quyền và phát triển lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. Phải được Nhân dân yêu mến, tín nhiệm.

Hai là, tuân thủ, tự cường, đổi mới, sáng tạo
Chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các quyết nghị của Đảng; gương mẫu thực thi pháp luật của Nhà nước và điều lệ, quy định của các cơ quan, tổ chức liên quan.

Giữ vững khát vọng tiến bộ, ý thức tự lực, tự cường, vươn lên trong học tập, công tác, lao động sản xuất. Dũng cảm đổi mới cách nghĩ, cách làm năng động, sáng tạo theo chức trách và nhiệm vụ vì lợi ích chung.

Chủ động góp phần đẩy nhanh và bảo vệ đất nước hội nhập quốc tế, thiết thực xây dựng cộng đồng quốc tế hòa bình, ổn định và tiến bộ. 

Ba là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công tư
Cần cù, tận tụy, tâm huyết và trách nhiệm với nhiệm vụ được giao. Tiết kiệm, không xa hoa, không lãng phí. Trung thực, công tâm, khách quan và luôn đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết.

Giữ gìn trong sạch, không quan liêu, không tham nhũng, lãng phí, không tư lợi cô độc, không vụ lợi hẹp hòi, không cơ hội a dua, không sa vào lợi ích nhóm hay nhóm lợi ích. 

Không giấu giếm khuyết điểm, không a dua bè phái, không nói trái sự thật, không tập trung độc đoán, không dân chủ giả hiệu; kiên quyết phê phán cái sai, kiên trì sửa cái lạc hậu; dũng cảm bảo vệ lẽ phải và bảo vệ người tốt. 

Bốn là, đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm
Nêu cao ý thức, trách nhiệm xây dựng, giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong Nhân dân, trước hết là ở chi bộ, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú. Nghiêm chỉnh và thành tâm thực hiện nguyên tắc hoạt động của Đảng, trước hết nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; thật sự yêu thương đồng chí, đồng sự, giúp nhau cùng tiến bộ; thành thực yêu mến đồng bào, sống sống thủy chung tình nghĩa. 

Không đố kỵ, tỵ hiềm, không lợi dụng chức vụ, cương vị để tư lợi cá nhân, vụ lợi phường hội. Không bị tác động xấu, không bị cám dỗ, lôi kéo… Phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cục bộ, bè phái, bản vị địa phương, gây mất đoàn kết nội bộ.

Năm là, tiền phong, gương mẫu, tự soi, tự sửa
Đi đầu trong việc mới, việc khó, tự tu dưỡng và hoàn diện nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tổ chức sáng tạo thực hiện hiệu quả đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Nêu gương về học tập, lao động, công tác và cuộc sống hàng ngày, ở nơi làm việc, nơi cư trú và nơi đi công tác. Giữ chức vụ càng cao càng phải nêu gương; cấp trên gương mẫu trước cấp dưới; cấp ủy gương mẫu trước đảng viên; đảng viên gương mẫu trước Nhân dân. Nói ít làm nhiều, nói đi đôi với làm.

Thành tâm và nghiêm khắc tự soi, tự sửa, khiêm tốn, cầu thị; đề cao tự trọng, giữ gìn danh dự; chống mọi biểu hiện làm tổn hại tới danh dự của bản nhân, sức mạnh và uy tín của tổ chức đảng. Xây đi đôi với chống; bảo vệ đất nước, bảo vệ Đảng và bảo vệ Nhân dân.

Trong bối cảnh mới, từ yêu cầu thực tiễn sau 37 năm đổi mới càng đòi hỏi cấp bách, chưa bao giờ như bây giờ, trên lộ trình phát triển, phải bảo đảm sự cân bằng và hài hòa một cách toàn diện giữa các phương diện phát triển chính trị - kinh tế - văn hóa và xã hội, chúng ta cần kiến tạo và thực thi một triết lý phát triển mạnh mẽ, bền vững và nhân văn Việt Nam.

Nghĩa là, phải vươn tới xác lập một nền văn hóa của sự phát triển mạnh mẽ, bền vững và nhân văn, với nền tảng là bản sắc văn hóa dân tộc và hiện đại - và xung lực là kinh tế tri thức, kinh tế số - và môi trường sinh thái phát triển hài hòa, bảo đảm sự ổn định toàn vẹn nền chính trị đất nước, trong thời đại ngày nay. Do đó, trước hết và sau cùng, càng cần phải xây dựng và phát triển nền móng đạo đức xã hội, đạo đức công dân, trước hết là đạo đức của mỗi đảng viên, để Đảng thực sự là một biểu tượng của văn hóa Việt Nam.

Một cách tự nhiên như nhiên, đảng viên của một Đảng lãnh đạo, cầm quyền, nếu đạo đức kém hay không có đạo đức, nhất định tối thiểu sẽ không thể xứng đáng làm người chân chính, càng không thể thuyết phục và dẫn dắt được ai./.
Yêu nước ST.