Thứ Hai, 22 tháng 1, 2024

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI

 Công tác tư tưởng là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng, quyết định sinh mệnh của Đảng và sự thành bại của cách mạng. Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần thống nhất về tư tưởng và hành động cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, luôn là lực lượng trung thành, tin cậy để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân.

Công tác tư tưởng phải đi trước một bước
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của công tác tư tưởng nên thường xuyên yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác này. Người chỉ rõ: “Công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”. Ngược lại: “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”; như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”. Vì vậy, “Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”.
Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm đó, Đảng ta luôn chú trọng công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng qua các giai đoạn cách mạng, nhằm khơi dậy và phát huy sức mạnh tinh thần trong giải quyết các nhiệm vụ chính trị của đất nước. Thông qua công tác tư tưởng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng qua từng thời kỳ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; qua đó, làm cho họ giác ngộ về thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, hình thành niềm tin, lý tưởng, lẽ sống, nguyên tắc đạo đức, tình cảm cách mạng. Đồng thời, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách; cổ vũ, động viên tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân, củng cố niềm tin, đề cao trách nhiệm cá nhân, sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng và hệ thống chính trị được tiến hành trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của mỗi người dân, tạo hiệu ứng tích cực thúc đẩy sự ổn định và phát triển đất nước.
Công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận công tác tư tưởng của Đảng, một mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị, luôn giữ vai trò quan trọng nhằm bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Thấm nhuần quan điểm của Đảng, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn xác định công tác tư tưởng phải đi trước một bước, thể hiện vai trò tiên phong, giáo dục, định hướng nhận thức và hành động cho cán bộ, chiến sĩ; được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng. Tư tưởng thông thì dù khó khăn, gian khổ đến đâu bộ đội cũng quyết tâm vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần nâng cao hiệu quả công tác quán triệt, giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực nghiên cứu, học tập, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ trong Quân đội, các quy định của đơn vị và yêu cầu đặt ra đối với phẩm chất, nhân cách, lối sống của người quân nhân cách mạng; đấu tranh ngăn chặn tư tưởng tiêu cực và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Trên cơ sở đó, hình thành ý thức, văn hóa pháp luật, làm cho cán bộ, chiến sĩ tự giác ghép mình vào khuôn khổ, chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp, rèn luyện tư thế, tác phong quân nhân, không vi phạm các chế độ quy định; coi đó là vấn đề tất yếu trong quá trình phấn đấu, rèn luyện của bộ đội.
Lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng đạt kết quả khá toàn diện
Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong toàn quân làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm công tác tư tưởng phải đi trước một bước; ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng và đạt được kết quả khá toàn diện. Hầu hết cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp có nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng; có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác này, với những chủ trương, giải pháp thiết thực, khả thi, hướng vào các nhiệm vụ trọng tâm, khâu then chốt, thời điểm dễ nảy sinh tư tưởng. Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, chủ động, thường xuyên, thông qua nhiều tổ chức, lực lượng, kênh thông tin để nắm chắc tình hình đơn vị, diễn biến tư tưởng của bộ đội, kịp thời phát hiện và xử lý những vấn đề tư tưởng nảy sinh ngay từ cơ sở. Tiến hành rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định trên các lĩnh vực công tác, thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ ở cơ sở; kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; giữa giáo dục thuyết phục, cảm hóa với biện pháp hành chính, xử lý kỷ luật nghiêm minh; mở rộng dân chủ, tăng cường đối thoại, trao đổi, đáp ứng tâm tư, yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sĩ.
Đội ngũ cán bộ các cấp sâu sát đơn vị, cơ sở, nắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những trăn trở, suy tư của bộ đội để có biện pháp giáo dục, động viên, thuyết phục phù hợp; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, không để đột biến về tư tưởng xảy ra. Tích cực đưa bộ đội tham gia hoạt động thực tiễn, phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, có tác động tích cực đến nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, phong phú, lành mạnh; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, cơ quan, đơn vị, gia đình và địa phương cùng làm công tác tư tưởng,... Thực tiễn chỉ ra rằng, ở đâu, nơi nào cấp ủy, chỉ huy quan tâm đúng mức đến công tác lãnh đạo tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ thì nơi đó nội bộ đơn vị ổn định, mọi người “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, yêu thương, chia sẻ trách nhiệm, trên dưới một lòng, yên tâm xây dựng Quân đội; tỷ lệ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội giảm, không có các vụ việc nghiêm trọng, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu mới rất cao và toàn diện. Quân đội vừa đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vừa tích cực tham gia trên tuyến đầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ nhân dân; đồng thời, tích cực thực hiện điều chỉnh, tổ chức biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh. Trong khi đó, những yếu tố tiêu cực ngoài xã hội, sự chống phá của các thế lực thù địch hằng ngày, hằng giờ tác động, chi phối đến tình hình tư tưởng trong Quân đội, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chia rẽ tình đoàn kết quân - dân. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, bảo đảm trong bất kỳ tình huống nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn vững vàng về tư tưởng, chuẩn mực về hành động, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội
Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:
Một là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.
Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tư tưởng, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X, “Về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong tình hình mới”; những quan điểm mới về công tác tư tưởng mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định; bám sát chức năng, nhiệm vụ, đối tượng quản lý, cấp ủy các cấp đưa nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng vào nghị quyết nhiệm kỳ, hằng năm, nghị quyết chuyên đề và cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết khâu yếu, mặt yếu, không để xảy ra đột biến về tư tưởng. Đồng thời, phân công các cấp ủy viên phụ trách, sâu sát cơ sở, thường xuyên báo cáo và chịu trách nhiệm trước cấp ủy về tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị. Phát huy vai trò của cơ quan chính trị, trực tiếp là cơ quan tuyên huấn các cấp trong tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; đồng thời, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tiến hành công tác tư tưởng theo các tình huống xảy ra trong thực tiễn. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp; cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, cán bộ, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu cả trong lời nói và hành động. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên bám nắm cơ sở, sâu sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của bộ đội, giải quyết thấu tình, đạt lý những vấn đề bộ đội quan tâm, không để những bức xúc xảy ra, tích tụ từ sự việc nhỏ thành sự việc lớn; “xây” đi liền với “chống”, giáo dục đi liền với các biện pháp hành chính. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thoái thác nhiệm vụ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện công tác lãnh đạo tư tưởng trong các cơ quan, đơn vị.
Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.
Trước sự tác động mạnh mẽ của mặt trái nền kinh tế thị trường, truyền thông xã hội và sự tuyên truyền, kích động, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, nhất là cấp cơ sở cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về sự cần thiết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tình hình nhiệm vụ, đối tượng, đối tác, thực trạng về công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, chú ý định hướng tư tưởng, dư luận xã hội theo chiều hướng tích cực; phân tích, làm rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, những vấn đề có tính bản chất, quy luật, hệ thống để bộ đội hiểu rõ đúng sai; tích cực cổ vũ cái đúng, đấu tranh với cái sai, chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, làm cho hệ tư tưởng chủ đạo từng bước thẩm thấu, thống trị trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Thông qua giáo dục, định hướng tư tưởng hình thành cho cán bộ, chiến sĩ niềm tin, thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận định, đánh giá các vấn đề của cuộc sống xã hội, môi trường Quân đội. Từ đó, tự giác ghép mình vào khuôn khổ, tự xử lý những bức xúc cá nhân theo chiều hướng tích cực, hòa mình với tập thể, chấp hành nghiêm các chế độ quy định, không để những vụ việc đáng tiếc xảy ra.
Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp lãnh đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.
Xuất phát từ đối tượng quản lý, giáo dục, lãnh đạo công tác tư tưởng phong phú, đa dạng, trên nhiều lĩnh vực của môi trường Quân đội, nên đòi hỏi công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý kỷ luật phải được tiến hành hết sức khoa học, bài bản, chặt chẽ, đồng bộ ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực, theo đúng quy trình các bước, phù hợp với đối tượng, địa bàn, nhiệm vụ của từng lực lượng. Nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng phải toàn diện, song phải có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới đối tượng đặc thù nhằm đạt được mục tiêu cao nhất là cán bộ, chiến sĩ toàn quân thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động, trên dưới một lòng, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, chia ngọt sẻ bùi, phát huy sức mạnh tổng hợp vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới tư duy, hình thức, biện pháp lãnh đạo tư tưởng, quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội theo hướng thiết thực, hiệu quả; bám sát phương châm “4 không”, “3 có”, “3 nên” và 5 khâu tiến hành công tác tư tưởng: Dự báo, quản lý, định hướng, đấu tranh và xử lý tư tưởng nảy sinh. Thực hiện hiệu quả Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; thông báo kịp thời, có chọn lọc các vụ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội, trên cơ sở đó định hướng tư tưởng, rút kinh nghiệm cho bộ đội. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách, giữa giáo dục thuyết phục với biện pháp hành chính, lấy giáo dục, thuyết phục phòng ngừa vi phạm là chính.
Bốn là, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.
Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhân cách của mỗi cá nhân được hình thành trong các mối liên hệ xã hội, nên muốn có một con người tốt phải tạo ra môi trường, hoàn cảnh tiêu biểu về lối sống có văn hóa, kỷ cương, thân thiện, cùng nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu chung. Để tư tưởng bộ đội ổn định vững chắc, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” gắn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh. Trong đó, tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ về bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, đạo đức, lối sống, văn hóa, ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ công tác, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, thực hành dân chủ; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, tạo đời sống văn hóa lành mạnh trong các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, các cuộc vận động trong toàn quân, trọng tâm là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”, bằng nhiều mô hình sáng tạo, phù hợp, có sức lan tỏa mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến nhận thức, hành động của bộ đội. Tích cực xây dựng môi trường văn hóa quân sự phong phú, lành mạnh, thực sự là nơi để bộ đội gửi gắm tình cảm, niềm tin và sự khát khao cống hiến. Thường xuyên chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội để bộ đội yên tâm công tác, gắn bó, tâm huyết với môi trường Quân đội.
Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Công tác tư tưởng là công tác của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trực tiếp là của bí thư cấp ủy. Thực tiễn chỉ ra rằng, đồng chí bí thư cấp ủy nào nắm chắc chức trách, nhiệm vụ, vai trò, có phương pháp tiến hành công tác tư tưởng khoa học, phù hợp, biết phát huy sức mạnh tổng hợp trong tiến hành công tác này thì hiệu quả sẽ cao hơn, tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị ổn định, không có đột biến xảy ra và ngược lại công tác tư tưởng sẽ không đạt như mong muốn. Trước hết, cần phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy các cấp thông qua việc xác định chủ trương, biện pháp, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tính khả thi cao; “xây” đi liền với “chống”; phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị với gia đình, địa phương để làm công tác tư tưởng; thường xuyên bám sát cơ sở, bộ đội để điều chỉnh cách thức lãnh đạo cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở tăng cường bám nắm bộ đội, sâu sát với quần chúng để nắm tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc trong cuộc sống để động viên, giải quyết kịp thời, không để đột biến xảy ra. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân trong thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, thực hiện công khai, công bằng trên mọi lĩnh vực hoạt động; đề cao trách nhiệm của các quân nhân, hội viên, đoàn viên trong xây dựng đơn vị, động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Thực tiễn luôn vận động, phát triển nên công tác lãnh đạo tư tưởng trong quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội cho cán bộ, chiến sĩ cũng phải có sự điều chỉnh cho phù hợp. Làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đúc rút ra những kinh nghiệm hay, mô hình tiêu biểu tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn quân, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ.
Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nội dung hết sức quan trọng, quyết định kết quả xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Vì vậy, các cấp cần nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của công tác này để quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống./.
St

THANH NIÊN LÀ RƯỜNG CỘT CỦA NƯỚC NHÀ

 Trong tất cả các lực lượng xã hội, thanh niên là lực lượng to lớn có những ưu thế vượt trội về thể chất và trí tuệ. Với ưu thế vượt trội đó, họ có thể đảm nhận nhiều công việc đòi hỏi sự hy sinh, gian khổ và sáng tạo. Họ đảm nhận sứ mệnh kế thừa và phát triển những thành quả mà cha ông đã tạo nên và nắm bắt cái mới để tạo ra những đột phá đưa đất nước, dân tộc tiến lên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà…”. Vì vậy Người luôn luôn quan tâm, giáo dục các thế hệ thanh niên, Người đã dành nhiều thời gian đi thăm các đơn vị thanh niên xung phong, viết nhiều thư gửi thanh niên, theo dõi chặt chẽ và khen thưởng kịp thời những cố gắng về mọi mặt của thanh niên.
Bác Hồ luôn quan tâm và dành nhiều tình cảm thương yêu sâu sắc đối với thế hệ trẻ. Trong “Thư gửi các bạn thanh niên” ngày 12.8.1947, Bác viết: “… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”.
Như một người cha luôn quan tâm đến con cái, Bác Hồ hiểu rõ những ưu điểm cũng như nhược điểm của thanh niên nước ta. Trong bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam (24.3.1961), Bác dặn: “Thanh niên ta phải cố gắng học. Do hoàn cảnh trong xã hội cũ hạn chế nên số đông thanh niên công – nông ta ít được học. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức”. Bác nhắc nhở: “Một số khá đông thanh niên chưa hiểu thấu rằng tất cả lao động có ích cho xã hội đều là vẻ vang, vì vậy họ chưa thiết tha yêu nghề, thường “đứng núi này, trông núi nọ”… Thanh niên ta cần phải hiểu rằng: bất kỳ công việc gì mà ra sức khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ đều là vẻ vang, đều là anh hùng”.
Trước lúc đi xa, Người đã để lại cho đoàn viên, thanh niên "Muôn vàn tình thương yêu", Người đánh giá: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ"; và căn dặn "Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế, Đảng ta vẫn thấm nhuần những lời dạy của Người về công tác thanh niên, đưa việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trở thành sinh hoạt chính trị thường xuyên đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.
Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của đoàn viên, thanh niên. Coi đây là lực lượng xung kích, là đội dự bị tin cậy của Đảng và coi công tác thanh niên là vấn đề được đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn phụ thuộc vào lực lượng đoàn viên, thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên. Do vậy, phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng - sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích…của đoàn viên, thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khẳng định: Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các thế hệ thanh niên cách mạng Việt Nam đã không quản hy sinh gian khổ, gương mẫu đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cùng dân tộc làm nên "những trang lịch sử bằng vàng" và ngày nay, truyền thống đó tiếp tục được phát huy trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Các thế hệ thanh thiếu niên ngày nay ý thức được trách nhiệm, quyền lợi của mình cần phải ra sức rèn luyện, học tập nâng cao mọi mặt trình độ, kiến thức, làm chủ khoa học công nghệ, đặc biệt là trau dồi, tu dưỡng đạo đức cách mạng, trở thành những người “vừa hồng vừa chuyên” như lời Bác dạy, để xứng đáng là những chủ nhân của đất nước trong thời kỳ mới./.
St

“CÁN BỘ ĐOÀN KẾT, MỌI VIỆC ĐỀU LÀM ĐƯỢC”

 Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang dùng mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Một trong những trọng tâm của chúng là tập trung chống phá công tác cán bộ, nhất là sự đoàn kết trong đội ngũ cán bộ. Trong đó, chúng xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt về việc thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng ta, quy chụp đây là biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, chứ còn tự phê bình và phê bình chỉ là hình thức, không có tác dụng gì. Đặc biệt gần đây, chúng lợi dụng việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta để chỉ trích, xuyên tạc, vu cáo cho rằng, “thực chất đó là sự thỏa hiệp, chia chác quyền lực giữa các phe nhóm trong Đảng”; việc Đảng kỷ luật một số cán bộ, đảng viên có vi phạm chỉ là “thanh trừng, đấu đá giữa các phe nhóm trong Đảng”...

Thực tiễn lịch sử Đảng và sự nghiệp cách mạng Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bịa đặt, chống phá nêu trên.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm xây dựng, phát triển sự đoàn kết trong Đảng, trong xã hội, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân với tinh thần “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Đặc biệt, Người nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc đoàn kết, nhất là đoàn kết của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Người cho rằng: “Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo” và “Cán bộ đoàn kết, mọi việc đều làm được”. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự đoàn kết của đội ngũ cán bộ phải luôn thực chất, sâu rộng, toàn diện ở mọi cương vị, vị trí công tác, mọi lứa tuổi; đoàn kết phải thường xuyên và cần được củng cố, tăng cường… Người nhắc nhở: Không chỉ đoàn kết ngoài miệng mà phải thật sự, đoàn kết trong công tác, trong học tập. Hay Người chỉ ra rất cụ thể về sự đoàn kết giữa cán bộ trẻ với cán bộ già và yêu cầu: “Đảng ta phải khéo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ”; Người chỉ ra những vấn đề cần phải khắc phục trong mối quan hệ này: “Một số ít cán bộ già mắc bệnh công thần, cho mình là người có công lao, hay có thái độ “cha chú” với cán bộ trẻ, đảng viên trẻ nói gì cũng gạt đi, cho là “trứng khôn hơn vịt”, “măng mọc quá tre” và: “Còn cán bộ trẻ không được kiêu ngạo, phải khiêm tốn học hỏi các đồng chí già có kinh nghiệm”.
Hồ Chí Minh đưa ra nhiều giải pháp để thực hiện hiệu quả sự đoàn kết giữa cán bộ với cán bộ, trong đó có nguyên tắc phê bình và tự phê bình và mối quan hệ bền chặt, hữu cơ, từ hai phía. Người căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất”. Người yêu cầu Đảng và nhân dân phải quan tâm giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng, giúp đỡ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về mọi mặt; đồng thời, căn dặn mọi cán bộ, đảng viên phải tự nguyện, tự giác rèn luyện phấn đấu, suốt đời hy sinh vì Đảng, vì dân.
Hồ Chí Minh cũng căn dặn Đảng và đội ngũ cán bộ trong quá trình thực hiện đoàn kết cần thấy rõ và loại trừ những khuynh hướng sai lầm của căn bệnh hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc. Vì đó chính là những căn bệnh ngăn trở, phá hoại sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng, trong cán bộ. Tháng 10-1947, Hồ Chí Minh viết trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc: “Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào (như tôn giáo, quốc dân thiểu số, anh em trí thức, các quan lại cũ…”.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều cố gắng, thành công trong việc xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong đội ngũ cán bộ của Đảng trên cơ sở tiếp thu, học tập quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài học kinh nghiệm thắng lợi mà Đảng rút ra trong gần 94 năm qua là: Sự đoàn kết trong Đảng, trong đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là sự đoàn kết của cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt luôn góp phần quan trọng vào thắng lợi của Đảng, đất nước và nhân dân.
Thật vinh dự, tự hào, hạnh phúc cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam khi được mang danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang luôn quan tâm, giáo dục, rèn luyện, dạy bảo. Hồ Chí Minh thường xuyên chú trọng đến việc xây dựng, củng cố, tăng cường tình đoàn kết trong quân đội, thực hiện toàn quân một ý chí. Người đánh giá rất cao vai trò, ý nghĩa của việc đoàn kết thống nhất trong quân đội: “Cán bộ và chiến sĩ đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định vượt qua được khó khăn, sửa chữa được sai lầm, giành được thắng lợi”. Từ đó, Người nhắc nhở: “Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi” và “Cán bộ có thân đội viên như chân tay, đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt”. Trong đó, Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến sự đoàn kết của đội ngũ cán bộ quân đội. Vào tháng 3-1958, tại Hội nghị cấp cao toàn quân, Người căn dặn: “Ngày nay, trong việc xây dựng quân đội, phát triển kinh tế, cũng phải tăng cường đoàn kết. Đoàn kết trong cán bộ với nhau, đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ, đoàn kết giữa cán bộ và bộ đội Bắc - Nam. Đoàn kết giữa bộ đội chiến đấu và bộ đội sản xuất”.
Hơn 79 năm qua, đội ngũ cán bộ các cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng rèn luyện phấn đấu về mọi mặt, xứng đáng là những tấm gương tiêu biểu, mẫu mực về tinh thần đoàn kết cả trong và ngoài quân đội. Có thể khẳng định, cán bộ quân đội đã và đang thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Để lãnh đạo quân đội tiến bộ không ngừng, các đồng chí cần trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, gần gũi quần chúng và gương mẫu về mọi mặt. Dù ở cương vị nào, chúng ta đều phải cố gắng để xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành và tận tụy của nhân dân”.
Hiện nay, việc xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội luôn có đủ phẩm chất, năng lực, gương mẫu, liêm chính, đoàn kết thống nhất tiếp tục được Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội ta quan tâm thực hiện. Đội ngũ cán bộ quân đội đã và đang rèn luyện theo tinh thần “7 dám” (dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung) để cùng với toàn quân thực hiện thắng lợi chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương: “Cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, đủ đức, đủ tài, có uy tín cao; cấp trên phải làm gương cho cấp dưới, chỉ huy phải mẫu mực trước toàn đơn vị”./.
St

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN

 Trong mọi thời kỳ cách mạng, trách nhiệm của người đảng viên luôn gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của dân tộc.

Trách nhiệm đối với Đảng
Theo Hồ Chí Minh, trách nhiệm của người đảng viên đối với Đảng chủ yếu và trước hết là sự kiên định với lý tưởng cách mạng của Đảng, ý chí quên mình đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: suốt đời làm cách mạng, phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn thắng lợi trên Tổ quốc ta và trên toàn thế giới".
Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, trách nhiệm của đảng viên đối với Đảng là phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin. Bởi lẽ, theo Người, nếu thiếu hiểu biết, nhất là thiếu hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin thì trình độ giác ngộ của đảng viên sẽ thấp, nhất định không thể hăng hái đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng. "Học hỏi là một nghĩa vụ của đảng viên đối với Đảng, đối với nhân dân".
Để nâng cao trách nhiệm với Đảng, đảng viên phải không ngừng rèn luyện đạo đức cách mạng, phải thực hiện tốt 5 điều "nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm", tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật Đảng, luôn đặt lợi ích của Đảng lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân mình. Người yêu cầu mọi đảng viên không chỉ nhận thức đầy đủ, sâu sắc trách nhiệm của mình đối với Đảng, mà quan trọng hơn là những trách nhiệm ấy phải được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, thường xuyên, liên tục.
Trách nhiệm đối với Tổ quốc
Theo Hồ Chí Minh, mọi đảng viên luôn có trách nhiệm thiêng liêng, cao cả đối với Tổ quốc, với sự sống còn của quốc gia, dân tộc. Trách nhiệm ấy được thể hiện ở tinh thần đấu tranh quên mình cho độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Người nêu những tấm gương sáng, những lãnh tụ tiền bối và kiệt xuất của Đảng ta, những điển hình tuyệt vời về trách nhiệm cao cả ấy: "Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi về đạo đức cách mạng". Tại Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Người nhấn mạnh: "Biết bao đảng viên ưu tú đã hy sinh một cách cực kỳ oanh liệt. Chỉ riêng trong cấp Trung ương của Đảng đã có 14 đồng chí bị đế quốc Pháp bắn, chém, hoặc đập chết trong các nhà tù. Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do".
Trách nhiệm của đảng viên đối với Tổ quốc còn thể hiện ở tinh thần nỗ lực phấn đấu cho đất nước giàu mạnh, cho chủ nghĩa xã hội thành công. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa (1954-1969), Người luôn nhắc nhở trách nhiệm của đội ngũ đảng viên là phải ra sức xây dựng, phát triển kinh tế, quyết tâm đưa miền Bắc tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Đã nhiều lần, Người chỉ rõ trách nhiệm của toàn Đảng nói chung và của từng đảng viên nói riêng là: "Lãnh đạo nhân dân kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thực hiện dân chủ mới, tiến lên chủ nghĩa xã hội, rồi tiến đến chủ nghĩa cộng sản".
Trách nhiệm đối với nhân dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trách nhiệm của người đảng viên với nhân dân được bắt nguồn từ nguyên lý: "Nước lấy dân làm gốc", "Sự nghiệp cách mạng là do nhân dân tiến hành", "Nhân dân là người làm ra lịch sử"… Đảng viên phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân nắm vững đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi các đường lối, chính sách ấy. Trong bài "Đảng viên Đảng lao động Việt Nam", Người đã chỉ rõ: "Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành".
Người nhắc nhở, muốn lãnh đạo được quần chúng nhân dân thì đảng viên phải sâu sát, gần gũi quần chúng, chăm lo giúp đỡ quần chúng về mọi mặt; phải "trọng dân, sát dân, tin dân", phấn đấu sao cho "dân phục, dân tin, dân yêu". Người luôn yêu cầu tất cả đảng viên phải "thật sự gần gũi nhân dân, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân", "việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng… Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết".
Trách nhiệm của đảng viên là phải nêu gương trước quần chúng về mọi mặt. Theo Người, trong mọi phong trào, mọi nhiệm vụ, đảng viên đều phải tiền phong, gương mẫu làm trước, tiến trước để quần chúng noi theo. Sự gương mẫu của đội ngũ đảng viên có vai trò rất to lớn để biến đường lối, chủ trương của Đảng thành hiện thực. Người nhấn mạnh: "Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng… Muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói đến cách ăn ở đều phải gương mẫu”.
Người luôn nhắc nhở đảng viên phải kính yêu nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, tuyệt đối không được có thái độ "vác mặt làm quan cách mạng", không được hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân. Nói chuyện với cán bộ, đảng viên tỉnh Hà Tây, Người nhấn mạnh: "Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân… Lãnh đạo là làm đầy tớ nhân dân và phải làm cho tốt".
Để thực hiện đúng đắn, sáng tạo những lời dạy sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ đảng viên cần:
Về trách nhiệm đối với Đảng, tất cả đảng viên phải kiên định với mục tiêu, con đường cách mạng mà Bác Hồ đã lựa chọn; luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương, nghị quyết do Đảng đề ra; thực hiện tốt 4 nhiệm vụ của người đảng viên; chấp hành nghiêm Điều lệ, kỷ luật Đảng; tích cực tham gia xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh; luôn giữ vững tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên.
Về trách nhiệm đối với Tổ quốc, mọi đảng viên phải luôn nêu cao ý chí, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; luôn chủ động tham gia đấu tranh đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch; hoàn thành tốt các nghĩa vụ đối với Nhà nước; tích cực tham gia ủng hộ các quỹ xây dựng địa phương và xây dựng đất nước.
Về trách nhiệm đối với nhân dân (trực tiếp là với cộng đồng dân cư nơi cư trú), đảng viên phải tích cực tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Đặc biệt, các đảng viên phải gương mẫu, tích cực tham gia các phong trào xây dựng địa phương, nhất là phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và phong trào "Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc".
Về trách nhiệm đối với gia đình, dòng họ, đảng viên phải chăm lo giáo dục cho các thế của gia đình, dòng họ về lòng yêu nước, về niềm tin đối với Đảng, về ý chí vươn lên trong học tập và công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, tất cả đảng viên phải quan tâm giáo dục cho con cháu về đạo đức, lối sống lành mạnh, nhất là tinh thần cần kiệm, lòng nhân ái, tình đoàn kết cộng đồng; biết kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng họ và của cả dân tộc./.
ST

CHỮ VÀ NGHĨA: BÁCH PHÁT BÁCH TRÚNG

 “Bách phát bách trúng” là một thành ngữ Hán Việt với nghĩa đen là “trăm phát trăm trúng”, dùng để mô tả tài bắn cung, bắn nỏ ngày xưa hay bắn súng ngày nay. Nhưng câu thành ngữ này lại bắt nguồn từ trong sử sách.

Chuyện xưa kể rằng: Vào thời Xuân Thu chiến quốc (vào năm 722-481 trước Công nguyên), Sở Công vương có hai vị tướng với tài bắn cung lừng danh thiên hạ, tên là Phan Đáng và Dưỡng Do Cơ. Có lần, trong lúc tập luyện, Phan Đáng giương cung bắn 3 mũi tên đều trúng hồng tâm, ông lấy làm đắc ý lắm. Dưỡng Do Cơ cười bảo rằng: “Bắn vào hồng tâm có gì là lạ. Hãy xem, cách 100 bước, mũi tên của ta có thể xuyên qua bất cứ lá nào của cây dương liễu phía xa kia”. Nói rồi, Do Cơ giương cung bắn ngay. Quả nhiên, mũi tên ông xé gió xuyên thủng chiếc lá dương liễu mảnh và nhỏ tít trên cành cây cao.
Nhưng Phan Đáng chưa chịu phục. Ông chọn 3 lá liễu ở 3 cành khác nhau, đánh dấu và thách Do Cơ bắn lại. Do Cơ chỉ liếc qua, lùi lại mấy bước và bắn liền. Lạ thay, cả 3 mũi tên lần lượt xuyên qua 3 chiếc lá trước sự kinh ngạc của hàng ngàn quân sĩ.
Sau này, trong bộ “Sử ký”, Tư Mã Thiên đã viết rằng: “Nước Sở có một người tên là Dưỡng Do Cơ với khả năng bắn tên kỳ tài, cách xa trăm bước mà bắn bách phát bách trúng”. Thực tế, Dưỡng Do Cơ chỉ bắn cả thảy 4 mũi tên chứ đâu có bắn 100 mũi mà Tư Mã Thiên lại viết là “bách phát”? Phải chăng, Tư Mã Thiên dùng cách nói hình tượng, “trăm” ở đây dùng để ám chỉ “rất nhiều”. Bởi chỉ qua 4 lượt bắn chính xác tới mức “siêu hạng” như vậy thì có thể kết luận là Dưỡng Do Cơ chắc chắn sẽ bắn trăm phát trúng cả trăm.
Hiện nay người ta vẫn tập luyện và trau dồi kỹ năng bắn súng, không chỉ để bảo vệ Tổ quốc mà còn tham gia các kỳ thi tài thể thao thế giới. Ở nước ta, các vận động viên: Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Quốc Cường, Hoàng Xuân Vinh... là những xạ thủ lừng danh của Việt Nam từng tham gia nhiều đấu trường SEA Games, ASIAD hay Olympic.../.
St

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG

 

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn chặt với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc. Cao hơn thế là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh. Muốn làm được những điều vĩ đại đó thì cần phải có một đảng cầm quyền có khả năng tập hợp lực lượng, đoàn kết dân tộc và dẫn dắt toàn dân vượt qua khó khăn, thử thách để giành thắng lợi cuối cùng.
Đảng chân chính với sứ mệnh khơi dậy sức mạnh của dân tộc
Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã đau đáu việc tập hợp lực lượng, đoàn kết dân tộc để đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành độc lập cho đất nước. Qua nhiều năm bôn ba, tham gia các tổ chức chính trị ở nước ngoài, Người rút ra được bài học là phải xây dựng một đảng cầm quyền vững mạnh toàn diện.
Năm 1927, trước khi thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Người luôn nhấn mạnh những điều cốt yếu khi đề cập về vấn đề xây dựng Đảng một cách xuyên suốt và có hệ thống.
Cuối những năm 1920, đất nước lầm than, đã có rất nhiều tổ chức chính trị được thành lập với cùng chung mục đích là đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. Trong đó, nổi bật là ba tổ chức cộng sản thu hút được nhiều nhân sĩ, trí thức tham gia, đó là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Trước tình hình này, Nguyễn Ái Quốc nhìn nhận, đây là thời cơ chín muồi để thành lập một tổ chức cộng sản duy nhất đủ sức mạnh đoàn kết dân tộc, lãnh đạo nhân dân đứng lên đánh đuổi ngoại xâm. Được ủy quyền của Quốc tế Cộng sản, Người đã về Hồng Kông (Trung Quốc) triệu tập đại diện của các đảng nói trên. Từ ngày 3 đến 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời thông qua “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt”, “Chương trình tóm tắt” và “Điều lệ vắn tắt” của Đảng. Ngày 3 tháng 2 năm 1930 trở thành Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngay từ lúc đó, Nguyễn Ái Quốc đã xác định nguyên tắc tư tưởng: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt”, và “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Nguyên tắc này là cơ sở lý luận, là nền tảng tư tưởng của Đảng, mọi đảng viên đều phải hiểu rõ và làm theo. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ, nắm vững và thực hiện nguyên tắc này không phải theo cách giáo điều, mà phải vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với điều kiện của Việt Nam, giải quyết những vấn đề cụ thể của cách mạng Việt Nam.
Đảng viên là đầy tớ, là công bộc của dân
Xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là vấn đề then chốt, có ý nghĩa quyết định đến uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng. Trước khi đi xa, trong Di chúc, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Đảng ta phải “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, câu nói này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, ai cũng thuộc, ai cũng hiểu nhưng làm theo lại là chuyện khác. Thế nên mới có chuyện là nhiều đảng viên vì lòng tham đã gây khó dễ cho nhân dân. Họ còn hồn nhiên “cầm nhầm” tiền bạc và tài sản của nhân dân về làm của riêng. Những vụ án lớn được đưa ra xét xử công khai với nhiều đảng viên vướng vòng lao lý những năm vừa qua là nỗi đau không của riêng ai.
Ngay từ khi mới thành lập Đảng, dường như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lường trước được những điều này. Người cho rằng, sự vững mạnh của Đảng là ở sức mạnh đoàn kết, nhất trí trong Đảng về quan điểm, lập trường chính trị, sự vững vàng về thế giới quan, hệ tư tưởng, về tính tổ chức kỷ luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, sức mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình, đồng thời phải giữ mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ quan điểm phải gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với nguyên tắc tập trung dân chủ. Cùng với nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc hàng đầu, Người còn chỉ rõ 4 nguyên tắc khác gồm: Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; nguyên tắc tự phê bình và phê bình; nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh và tự giác; nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Nguyên tắc tập trung dân chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt giản dị như sau: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”; theo đó, “lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”.
Trong các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ đó mà chúng ta sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng”.
Người còn nhấn mạnh: “Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp”.
Đoàn kết trong đảng, cội nguồn của đoàn kết dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh có một câu nói giản dị nhưng rất nổi tiếng; “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Theo Người, một dân tộc dẫu đông dân nhưng sẽ không mạnh nếu bị chia rẽ. Một đảng dẫu có nhiều nhân tài nhưng nội bộ lục đục, không cùng chí hướng thì chỉ sa lầy vào đấu đá nội bộ, không thể tập hợp được sức mạnh.
Người cũng đề ra các nội dung thực hiện tự phê bình và phê bình: Mục đích, phương hướng, trọng tâm, cách làm. Trong đó, cách làm bắt đầu từ thống nhất tư tưởng, “phải đánh thông tư tưởng. Tức là làm cho mọi người hiểu rõ mục đích và lợi ích của cuộc kiểm thảo, làm cho mọi người hăng hái tham gia, để tránh tình trạng tiêu cực, lo ngại, rụt rè”; phải “nghiên cứu những tài liệu về lý luận, để giúp mọi người hiểu thấu sự ích lợi và cần thiết của kiểm thảo; và những tài liệu về chính sách của Đảng và Chính phủ, để lấy đó làm căn cứ mà kiểm thảo công việc của mỗi đơn vị, mỗi người”. “Khi tư tưởng thông rồi, tài liệu đã nghiên cứu kỹ, lúc đó mới kiểm thảo công việc, thật thà tự phê bình và phê bình”.
Đoàn kết, thống nhất là một nguyên tắc trong tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhằm tạo ra sức mạnh của Đảng, là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
Tư tưởng đoàn kết của Bác được nhắc lại trong Di chúc của Người. Khi nói về Đảng, Người viết:
“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau...”.
Những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh về công tác xây dựng đảng vẫn còn nguyên tính thời sự trong thời đại ngày nay./.
St

BÂNG KHUÂNG NHỚ BÁC

 Đến nay, đã 55 năm Bác đi xa, mỗi khi Tết đến xuân về, lòng ta không khỏi bâng khuâng nhớ Bác. Đối với các văn nghệ sĩ từng may mắn trực tiếp nghe Bác răn dạy, sửa chữa lời văn, điệu múa, bồi dưỡng phong cách sân khấu... thì trong nỗi nhớ Bác lại hiển hiện những dấu ấn cảm xúc khó quên. Đó là sự cảm nhận tinh tế của Bác Hồ đối với văn học, nghệ thuật cũng như vai trò của văn nghệ đối với đời sống xã hội.

Trung tá, Nghệ sĩ Ưu tú Đỗ Tùng, nguyên Đội phó Đội Văn công Tổng cục Hậu cần (nay là Nhà hát Chèo Quân đội), trong thời gian từ năm 1970 đến năm 1989, kể rằng, trước năm 1966, khi ông là diễn viên thuộc Đoàn Chèo Tổng cục Chính trị (Đoàn Chèo II Trung ương) đã được tham gia phục vụ Bác hai vở: ''Mối tình Điện Biên" và "Vẹn cả đôi đường" của các nhà biên kịch Lưu Quang Thuận, Xuân Bình. Xem xong, Người góp ý sửa một số câu hát: “Yêu anh mũ cứng sao vàng” thành "Yêu anh mũ đính sao vàng”, và “Mẹ no thóc gạo, con no sữa đường” thành “Mẹ no gạo đủ, con no sữa đầy”... Sự chỉnh lý lời hát một cách tinh tế như thế đã làm cho các nghệ sĩ trầm trồ thán phục.
Sau đó, ông Đỗ Tùng được cấp trên điều sang Đội Văn công Tổng cục Hậu cần. Vào ngày 28-3-1967, ông lại được cùng các nghệ sĩ trong đội đến phục vụ Bác Hồ và Bộ Chính trị. Chương trình có vở chèo “Anh lái xe và cô chống lầy” của tác giả Tào Mạt (Nguyễn Đăng Thục, sau này là Nghệ sĩ Nhân dân). Bác Hồ khen đoàn biểu diễn hay. Song, Bác ân cần hỏi: “Các chú vừa hát câu "Con đường gỗ long đanh nó kêu lúc cúc lục cục" là thế nào?”. Nghệ sĩ chèo Cao Lưu thưa với Bác là, ở đường Trường Sơn, những đoạn dốc trơn đều phải được lát bằng gỗ để xe đi không bị trượt. Bác nghe, rất hài lòng.
Do đặc điểm thời đại, Bác sáng tác nhiều thơ ca với lý do chính là nhanh chóng có những bài cổ vũ đồng bào tham gia phong trào cách mạng, đồng thời nâng cao nhận thức cho các đội viên, quần chúng về ý nghĩa của công cuộc giải phóng dân tộc, kháng chiến kiến quốc. Bởi vậy, Bác đã truyền vào các tác phẩm cảm hứng thi ca giàu tính nhạc, tính thơ nhưng rất dễ hiểu, dễ học, dễ nhớ, dễ lan tỏa.
Trên Báo Việt Nam Độc lập số ra ngày 1-2-1942, có bài thơ của Bác nhan đề: "Ca đội tự vệ" . Yếu tố thơ và nhạc đi liền nhau theo từng câu 3 chữ. Đoạn 1: “Gươm dao ta/ Đem mài đi/ Mài cho bén/ Mài cho sắc/...”. Đoạn 2: “Sắp hàng ra/ Xung phong lên/ Người ta đông/ Sức ta bền/ Việc giải phóng/ Nhất định nên”. Bác ghi chú cách hát: Chia người thành hai tổ. 4 câu đầu tổ A hát trước, hát giọng cao. Nếu có phụ nữ hát thì họ là tổ A. Tổ B hát giọng thấp theo sau. Những chữ: “Bén, sắc, đông, bền” phải hát dài ra như: “Bé-en, sắ-ăc, đô-ông, bề-ên”. Hai câu sau cùng, ở mỗi đoạn thì cả hai tổ hát với nhau. Chữ “chặt” và chữ “nên” phải hát rất mạnh... Hai đoạn lời gần giống nhau được hát theo lối hát đuổi. Cuối mỗi đoạn, cả hai tổ cùng hát (điệp khúc). Câu nào cũng chỉ có 3 chữ, nên khi hát toát ra khí thế khỏe, gọn, dứt khoát như động tác quân sự.
Ca sĩ Minh Huệ (Đoàn Văn công Quân khu 4) có lần kể lại kỷ niệm đoàn vào Phủ Chủ tịch biểu diễn mừng thọ Bác 79 tuổi chiều ngày 18-5-1969. Chị hát điệu "Ru em", dân ca Trung Bộ theo lời cũ cho Bác nghe. “A ờ ớ... Ru em em ngủ cho muồi/ Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu/ Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu/ Mua cau chợ Sải, mua trầu chợ Dinh”. Bác nghe xong thì sửa lại: “Ru tam tam théc cho muồi/ Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu/ Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu/ Mua cau Cam Phổ, mua trầu chợ Dinh”. Tiếng miền Trung: “Tam” là “em”, “théc” là “ngủ”, “mạ” là “mẹ”, Cam Phổ mới là đất cau, vừa ngon, vừa rẻ, hợp với người nông dân quê kiểng. Song điều quan trọng nhất là lời cổ thì phải giữ nguyên. Người hát không được tùy tiện pha tạp, thay đổi. Bác căn dặn phải nhớ những bài hát phường vải xứ Nghệ, những điệu hát ru miền Trung; nhớ kỹ từng câu chữ, hát đúng phong cách và ngôn ngữ địa phương ("Bác Hồ với văn nghệ sĩ", Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội, 1980).
Bác rất coi trọng việc tham gia các cuộc sinh hoạt văn nghệ với những người giúp việc và nhân dân. Người hòa đồng một cách giản dị, thân ái và văn hóa. Xuân Giáp Thìn 2024 đang tới. Hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta không còn được nghe Bác đọc thơ xuân, song, âm vang những bài thơ chúc Tết của Bác cùng với những lời dạy Bác dành cho các văn nghệ sĩ thì đã, đang và sẽ tiếp tục được lưu truyền, làm cho đất nước Việt Nam yêu quý ngày càng phồn vinh, trường tồn sức xuân./.
ST

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT ĐỂ NÂNG CAO KỸ NĂNG XÃ HỘI

 Chú ý đến ngôn ngữ cơ thể của đối phương chính là mẹo để nâng cao kỹ năng giao tiếp và ứng xử. Truyền tải ngôn ngữ cơ thể một cách tinh tế và lịch thiệp sẽ khiến bạn tạo ấn tượng tốt hơn trong mắt mọi người, từ đó nâng cao khả năng tương tác và giao tiếp hiệu quả.

Truyền tải ngôn ngữ cơ thể một cách tinh tế
Chú ý đến ngôn ngữ cơ thể của đối phương chính là mẹo để nâng cao kỹ năng giao tiếp và ứng xử. Truyền tải ngôn ngữ cơ thể một cách tinh tế và lịch thiệp sẽ khiến bạn tạo ấn tượng tốt hơn trong mắt mọi người, từ đó nâng cao khả năng tương tác và giao tiếp hiệu quả.
Chăm chỉ tương tác với mọi người
Bắt đầu từ những lời chào và những cuộc trò chuyện nhẹ nhàng rồi mở rộng đối tượng giao tiếp để có cơ hội trò chuyện và lắng nghe quan điểm từ nhiều người. Việc này không chỉ giúp bạn làm quen với cách xây dựng mối quan hệ một cách tự nhiên mà còn mở cửa cho những trải nghiệm mới, làm giàu kỹ năng xã hội của bạn.
Lắng nghe tích cực
Tập trung vào người đang nói, hạn chế gián đoạn, đặt thêm câu hỏi, mở rộng thảo luận và làm sáng tỏ ý kiến… vừa là những cách để bạn thể hiện thái độ lắng nghe, vừa giúp duy trì cuộc trò chuyện không đi vào ngõ cụt. Việc này không chỉ tạo ra môi trường giao tiếp tích cực mà còn thể hiện lòng tôn trọng và quan tâm đến người khác.
Khen ngợi chân thành
Việc khen ngợi cần được thực hiện một cách có chọn lọc để tránh tạo cảm giác giả tạo hay nịnh hót. Hãy chân thành khen ngợi đặc điểm mà bạn thực sự ngưỡng mộ và cảm nhận được từ người ấy. Nếu bạn là người hướng nội và cảm thấy ngại ngùng khi khen ngợi ai đó, bạn có thể thử tập trung vào cách diễn đạt và giải thích vì sao bạn lại ngưỡng mộ đặc điểm đó của họ, thay vì chỉ dùng những từ cảm thán hoặc khen ngợi chung chung.
Tham gia hoạt động nhóm
Hãy tham gia các câu lạc bộ, hội nhóm về chủ đề mà bạn yêu thích để vừa tiếp thu kiến thức mới, vừa tương tác với những người có cùng đam mê. Những hoạt động này không chỉ giúp bạn mở rộng vòng tròn xã hội mà còn tạo ra cảm giác thuộc về và gắn kết trong một cộng đồng, đồng thời nuôi dưỡng tâm hồn, tình yêu thương.
Giúp đỡ và nhờ giúp đỡ
Giúp đỡ và học cách nhờ giúp đỡ là "chìa khóa" để xây dựng tinh thần cộng đồng, tạo ra những giá trị tích cực cho xã hội. Hành động giúp đỡ người khác giúp bạn phát triển kỹ năng giảng dạy, làm việc nhóm, mở rộng lòng nhân ái, cải thiện lòng tin vào giá trị bản thân. Việc nhờ giúp đỡ giúp bạn chấp nhận khuyết điểm của chính mình, vượt qua tự ái để đối mặt với thách thức, đồng thời học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu kiến thức từ những người xung quanh.
Vượt qua những thách thức
Chấp nhận thách thức là "chìa khóa" để người hướng nội phát triển kỹ năng xã hội. Hãy bắt đầu với những thử thách nhỏ như tham gia cuộc họp hay đàm phán trước đám đông. Từ những bước nhỏ ấy, bạn sẽ có thêm lòng tin để vượt qua sự ngần ngại và học được phương pháp phù hợp với bản thân. Những thách thức nhỏ không chỉ mở rộng giới hạn cá nhân mà còn giúp bạn chủ động hơn trong giao tiếp. Bằng cách này, bạn có thể đối mặt với những tình huống mới và xây dựng kỹ năng xã hội một cách từ từ nhưng hiệu quả, giúp bạn tự tin và thoải mái hơn trong mọi trải nghiệm.
Xây dựng mối quan hệ dài hạn
Tập trung vào xây dựng mối quan hệ dài hạn là "chìa khóa" để tạo nên sự ổn định và sâu sắc trong giao tiếp. Hãy dành thời gian và nỗ lực để hiểu rõ người khác, không chỉ trong những mối quan hệ ngắn hạn mà còn trong những mối quan hệ lâu dài. Việc này không chỉ giúp tạo ra sự tin tưởng và tôn trọng mà còn cung cấp nền tảng cho mối quan hệ phát triển./.
St

LÍNH SƯ ĐOÀN MÃNH HỔ NAM TRIỀU TIÊN (NAY LÀ HÀN QUỐC) VÀ THI THỂ CÁC CHIẾN SĨ QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (SƯ ĐOÀN BỘ BINH 3 - ĐOÀN SAO VÀNG) TRONG TRẬN ĐÁNH ĐÈO AN KHÊ - GIA LAI NĂM 1972!

         Trận đánh đèo An Khê diễn ra từ ngày 09/4 - 23/4/1972 giữa Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 (Đoàn Sao Vàng) Quân Giải phóng Miền Nam và Sư đoàn Mãnh Hổ Nam Triều Tiên!

Trận đánh bắt đầu khi lực lượng đặc công Đại đội 61 tấn công chốt núi Cây Rui nhưng bị bại lộ. Sau đó lính Nam Triều Tiên phản công mãnh liệt lên cao điểm xung quanh và nhằm giải tỏa đường số 19 trước đó đã bị ta chiếm giữ.

Tại cao điểm 638 sau nhiều ngày tấn công không thành, ngày 23/4/1972 lực lượng lính Nam Triều Tiên dùng vũ khí hóa học tập kích vào Đại đội 61. Đại đội 61 tại chốt Cây Rui hi sinh gần hết bao gồm cả Đại đội trưởng và Đại đội phó.

Tại cao điểm 384, Đại đội 62, bao gồm cả Chính trị viên phó (được Tiểu đoàn tăng cường xuống), Đại đội trưởng cùng các chiến sĩ đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.

Tại Cống Hang Dơi, Đại đội 63 và Đại đội Công binh ở đây chiến đấu quyết liệt bẻ gãy nhiều đợt tấn công của Quân đội Nam Triều Tiên, buộc quân đội Nam Hàn phải rút lui sau nhiều ngày công kích mà không đạt được nhiều kết quả.

P/s: Xin được thắp nén tâm nhang tưởng nhớ anh linh các anh hùng liệt sĩ Sư đoàn 3 (Đoàn Sao Vàng) anh hùng đã ngã xuống trong trận chiến đấu này!
Yêu nước ST.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – LÃNH TỤ VĨ ĐẠI TRỌN ĐỜI HY SINH CHO ĐẤT NƯỚC VÀ HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN

 


Hồ Chí Minh không chỉ để lại cho dân tộc ta một sự nghiệp cách mạng vĩ đại, mà còn để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản cao quý, đó là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức cao đẹp, suốt đời hy sinh phấn đấu quên mình cho đất nước và hạnh phúc của nhân dân. Trong con người Hồ Chí Minh có đầy đủ phẩm chất hội tụ của một lãnh tụ thiên tài, đồng thời Người còn là hiện thân của một lãnh tụ kiểu mới của nhân dân: Vĩ đại mà không cao xa; thanh cao mà vô cùng giản dị, gần gũi, thân thiết và gắn bó với quần chúng; hết lòng, hết sức chăm lo cho sự nghiệp độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; mong muốn xây dựng một nước Việt Nam mạnh giàu; nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Người thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân và chính bản thân Người là tấm gương tiêu biểu.

Nhớ lại những năm, tháng đất nước ta bị đô hộ bởi giặc ngoại xâm, nhân dân cực khổ, lầm than chịu thân phận của kiếp người nô lệ, Hồ Chí Minh đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Vượt qua muôn trùng khó khăn, thử thách, Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho dân tộc, như Người đã tự sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì mục đích đó”. Cả cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người chỉ có một tâm nguyện và ham muốn: “...ham muốn đến tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”; cho đến khi phải từ biệt thế giới này, Người chỉ tiếc: “...tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Chính ham muốn và mục đích vô cùng cao đẹp ấy, đã tạo cho Người một ý chí và nghị lực vô cùng mãnh liệt để: “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”; đó là điểm tựa giúp Người vượt qua mọi khổ ải, khó khăn, dẫn dắt nhân dân ta đến bến bờ hạnh phúc. Hình ảnh của Hồ Chí Minh là hình ảnh của một lãnh tụ vĩ đại về trí tuệ lãnh đạo, mẫu mực về mối liên hệ thân thiết, gắn bó với nhân dân, hết lòng thương yêu nhân dân, dựa vào dân, vì “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, vì sức mạnh của nhân dân là vô địch, do đó phải “lấy dân làm gốc”. Người nói:

“Dễ mười lần không dân cũng chịu;

Khó trăm lần dân liệu cũng xong”.

Trên quan điểm đó, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở từ người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, đến mỗi cán bộ, đảng viên, đều phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Người phân tích: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên phải làm tốt trách nhiệm: “là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân”; cán bộ phải gần dân, hiểu nguyện vọng của dân, để kịp thời giúp đỡ và “giải quyết các mắc mớ ở nơi dân”. Người đả phá quyết liệt những tư tưởng quan liêu, xa dân, lên mặt “quan cách mạng”, cơ hội, cậy quyền thế, “đè đầu, cưỡi cổ nhân dân”.

Sinh thời, trên cương vị đứng đầu Đảng, Nhà nước, dù bận nhiều công việc, nhưng để hiểu dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn bố trí tiếp dân tại Phủ Chủ tịch; dành thời gian để đi xuống cơ sở, tìm hiểu, “lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan trọng. Những chuyến công tác về địa phương trực tiếp làm việc với nhân dân, đã giúp Người nắm sát công việc, hiểu đúng tình hình, từ đó đưa ra những quyết định chỉ đạo đúng đắn, hợp lý, hợp tình, phù hợp với thực tiễn. Mặt khác, các cuộc gặp gỡ giữa Người với các tầng lớp đồng bào, là dịp để đồng bào trao đổi, bày tỏ tâm tư nguyện vọng với người đứng đầu Nhà nước, đồng thời là nguồn động viên to lớn đối với nhân dân, là cơ sở thắt chặt hơn niềm tin giữa Đảng với dân.

Với Hồ Chí Minh, không bao giờ Người coi mình đứng cao hơn nhân dân, mà chỉ tâm niệm suốt đời là người phục vụ trung thành và tận tuỵ của nhân dân, “như một người lính vâng mệnh quốc dân ra trước trận”. Đối với nhân dân, từ các vị nhân sĩ trí thức đến bà con lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức vô song, là tượng đài toả ra ánh sáng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn, ai cũng thấy ở Người sự gần gũi, ấm áp tình thương và sự bao dung, nếp sống giản dị và đức tính khiêm nhường. Cuộc đời Người coi khinh sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng. Từ lúc làm thợ ảnh ở ngõ Côngpoăng (Pari –Thủ đô nước Pháp), đến khi làm Chủ tịch nước ở Thủ đô Hà Nội, Người vẫn sống một cuộc đời thanh bạch, tao nhã. Hòa bình lập lại, Người về Hà Nội, ngôi dinh thự của Phủ toàn quyền Đông Dương được lấy làm Phủ Chủ tịch, nhưng Người chỉ dùng khi tiếp khách là nguyên thủ nước ngoài. Ngôi nhà sàn đơn sơ, chỉ có hai phòng nhỏ là nơi Người vừa ở vừa làm việc. Phương tiện sinh hoạt của một vị Chủ tịch nước chỉ là một chiếc giường đơn, một tủ quần áo, một chiếc máy thu thanh, một đôi dép lốp, hai bộ ka-ki… một sự giản dị thật vĩ đại, bởi vì Người đã hy sinh tất cả cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Nói về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về tinh thần tận tuỵ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân của Người, Đảng ta khẳng định: “Cuộc đời của Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị. Tư tưởng và đạo đức của Người mãi mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn chúng ta”.

Thời gian đã hơn 50 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, ghi nhớ công lao vĩ đại của vị lãnh tụ kính yêu, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tích cực thi đua lập thành tích, thiết thực chào mừng kỷ niệm 133 năm ngày sinh của Người; quyết tâm hoàn thành thắng lợi chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra. Nhớ đến Người, các thế hệ người Việt Nam mãi mãi tự hào về một con người bất tử, như Đảng ta đã khẳng định: “Dân tộc ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”./.

Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2024

Nghĩa cử cao đẹp của bộ đội hậu cần

 

Cứ mỗi dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán hằng năm, Bệnh viện Quân y 4, Cục Hậu cần Quân khu 4 thường xuyên phối hợp với Trung tâm Huyết học-Truyền máu tỉnh Nghệ An, cùng các đơn vị trong phân đội Cục và Phòng Cảnh sát Cơ động Công an tỉnh Nghệ An, phát động phong trào hiến máu tình nguyện.

Quyết liệt trong phòng, chống cháy nổ

 

Những vụ việc cháy nổ tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ mất an toàn do cháy nổ gây ra. Đừng để cháy nổ xảy ra nữa vì thật xót xa và thương cảm cho những phận người không may gặp nạn.

Cân tự động ngăn xe quá tải

 

Bộ Giao thông vận tải vừa thống nhất với các đơn vị liên quan về việc sẽ xây dựng hệ thống cân tự động trên tuyến cao tốc Bắc-Nam để ngăn ngừa tối đa xe quá tải, bảo vệ tốt hơn kết cấu hạ tầng đường bộ. Vấn nạn xe quá tải cày xới các con đường tại nhiều địa phương trên cả nước từ lâu đã nhức nhối. Với các giải pháp mới, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ vào kiểm tra, giám sát, kỳ vọng sẽ giải quyết triệt để tình trạng xe chở quá tải.

Đổi nguy hiểm lấy bình yên

 

Cả nước đang mở đợt cao điểm vận động người dân giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo. Nhiều địa phương có cách làm sáng tạo: Phát động chương trình “đổi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ lấy bình chữa cháy”. Đây có thể xem là biện pháp “nhất tiễn song điêu” .