Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, XÂY DỰNG NƯỚC VIỆT NAM GIÀU MẠNH, HẠNH PHÚC, VĂN MINH.

 

Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam, được hun đúc, bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, giá trị cốt lõi và động lực chủ yếu có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi thời đại. Đến lượt mình, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam được trang bị bởi thế giới quan, phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát huy mạnh mẽ, nâng cao giá trị đoàn kết của dân tộc lên một tầm cao mới, là nguồn sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là người truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta, khởi xướng và thực hành đoàn kết, trước hết thể hiện ở việc đoàn kết các giai tầng xã hội, thống nhất ba tổ chức cộng sản, thành lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng của sự đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, đoàn kết quốc tế vì mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, giải phóng con người khỏi ách nô lệ, hướng tới tự do, ấm no, hạnh phúc. Khó có một từ ngữ ngắn gọn nào có thể diễn tả hết tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết. Có một số liệu thống kê gây ấn tượng về điều này: đó là trong 1.921 bài nói, bài viết của Bác Hồ thì có tới 839 bài Người đề cập đến vấn đề "đoàn kết thống nhất" và có tới 1.809 lần Bác dùng từ “đoàn kết”, “đại đoàn kết”.


Trước khi "đi xa", trong bản Di chúc ngắn gọn nhưng đầy xúc tích, sâu sắc của mình, chưa đầy 20 dòng nói về Đảng nhưng đã có đến 5 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến “đoàn kết”. Người khẳng định: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Không chỉ nói đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nói đến ba cụm từ: “Đoàn kết chặt chẽ”, “Đoàn kết nhất trí”, “Đoàn kết và thống nhất” và đặc biệt là Người dùng hình ảnh “con ngươi của mắt” để ví với vấn đề giữ gìn sự đoàn kết nhất trí. “Đoàn kết là một truyền thống cực kì quí báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”;  “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.


Có thể khẳng định rằng, thời đại Hồ Chí Minh là thời đại huy hoàng bậc nhất về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc: Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam-hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công".


Kế thừa, phát huy giá trị truyền thống đoàn kết của dân tộc, tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã không ngừng đổi mới, phát triển tư duy về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là yếu tố cốt lõi trong đường lối chiến lược cách mạng, có ý nghĩa sống còn, bảo đảm cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trải qua gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta luôn luôn nhất quán, khẳng định giá trị trường tồn, sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về đại đoàn kết toàn dân tộc với quan điểm nổi bật là: Đại đoàn kết dân tộc nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại đoàn kết toàn dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai.


Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định  “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân" và bổ sung phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" thành "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra,  dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, nhờ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, nước ta đã tập trung thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước thu hẹp khoảng cách giàu-nghèo giữa các vùng, miền; quan tâm phát triển toàn diện khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, giữ vững sự ổn định chính trị-xã hội. Do vậy, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố, mở rộng và phát huy; đồng thuận xã hội được tăng cường, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố và nhân lên; các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động được đẩy mạnh, qua đó động viên nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, huy động được những nguồn lực, tiềm năng to lớn trong nhân dân vào phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, với việc tăng cường đoàn kết quốc tế, tạo không gian quan hệ mở rộng, tranh thủ được sự ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, trên cơ sở triển khai đồng bộ và toàn diện đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, phát triển quan hệ tốt đẹp với nhiều chính đảng, chính phủ, quốc hội các nước, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới. Công tác đối ngoại nhân dân góp phần quan trọng nâng cao vị thế, uy tín của Đảng và đất nước, sự coi trọng của các nước đối với Việt Nam; tranh thủ nhiều nguồn lực từ bên ngoài cho sự phát triển của đất nước; tích cực bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, tham gia đấu tranh với những âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch trên các lĩnh vực liên quan đến chủ quyền, dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền...


Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận những mặt còn hạn chế, có giải pháp khắc phục nhằm phát huy hơn nữa truyền thống yêu nước và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hiện có nhiều hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, nổi lên hai vấn đề lớn:


Cùng với sự chuyển hóa của các giai cấp và tầng lớp xã hội, xuất hiện sự chênh lệch ngày càng lớn về mức thu nhập và hưởng thụ giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp nhân dân… Một trong những khó khăn, bất cập ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc hiện là sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng. Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Chênh lệch giàu - nghèo có xu hướng gia tăng”; “Chênh lệch giàu - nghèo còn lớn; đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị thiên tai”; “khoảng cách phát triển giữa các địa phương, vùng, miền còn khá lớn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”. Vì vậy, từ lâu, Đảng ta đề ra quan điểm: "Bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội...".


Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”.


Là đảng duy nhất cầm quyền, Đảng phải xây dựng, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: “Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết”; “Kinh nghiệm của ta, cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi là do lực lượng đoàn kết, trước hết là đoàn kết trong Đảng". Sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng là điều kiện tiên quyết để Đảng thật sự là hạt nhân đoàn kết của cả dân tộc, của toàn xã hội. Tuy nhiên, tình trạng chạy theo chủ nghĩa cá nhân, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận là một trong những nguy cơ đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng, nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ.


Do vậy, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh được Đảng ta đặc biệt coi trọng, kiên trì thực hiện, đạt được những kết quả quan trọng. Kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực chính là điều kiện, cơ sở vững chắc để giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt, đồng bộ; kiên quyết, kiên trì xử lý nghiêm tổ chức, đảng viên vi phạm, nhiều vụ án tham nhũng được xét xử kịp thời, nghiêm minh, song cũng rất nhân văn, qua đó tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Chống tiêu cực, tham nhũng trong Đảng thành công chính là tiền đề để xây dựng Đảng ta đoàn kết, thống nhất, dân chủ, đạo đức, văn minh.


Cùng với các giải pháp đồng bộ khác thì Đảng cần dựa vào dân, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy dân chủ, cụ thể hoá phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh chính là yếu tố rất quan trọng để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng Việt Nam thành một nước "Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh"./.

ST


KINH TẾ PHÁT TRIỂN, ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN NGÀY CÀNG NÂNG CAO

 

Trong suốt 94 năm qua (1930-2024), dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử và thời đại, làm thay đổi cuộc đời mỗi con người và vận mệnh cả một dân tộc. 


Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn về phát triển kinh tế-xã hội. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 USD năm 2023…/.

ST


QUAN TÂM, CHĂM LO ĐỂ CÁC ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH, NGƯỜI CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN ĐƯỢC HƯỞNG TẾT TRỌN VẸN

 

Sáng 4/2, tại thành phố Cần Thơ, Thủ tướng Phạm Minh Chính tham dự Chương trình Lãnh đạo Đảng, Nhà nước thăm, tặng quà gia đình chính sách, hộ nghèo, công nhân lao động, người cao tuổi, trẻ em khó khăn nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 trên địa bàn thành phố. Cùng dự có đại diện lãnh đạo một số bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương.


Thời gian qua, thành phố Cần Thơ đã luôn dành sự quan tâm thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, đã huy động được sự tham gia tích cực của các địa phương, cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ; tăng cường sự tương tác và gắn kết giữa các cơ quan nhà nước với các đơn vị liên quan trong việc giải quyết vấn đề nghèo đói và phát triển kinh tế-xã hội ở các vùng khó khăn; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố.


Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố vẫn còn 764 hộ nghèo (tỷ lệ 0,21%, thấp nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long). Thành phố Cần Thơ đã quan tâm, chăm lo chu đáo, có nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa cho công nhân lao động, hộ nghèo; đến ngày cuối tháng 1/2024, Thành phố đã trao tặng 73.902 suất quà với tổng số tiền trị giá hơn 74 tỷ đồng...


Phát biểu ý kiến tại Chương trình, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ sự phấn khởi trong những ngày đầu năm mới 2024, chuẩn bị đón Tết cổ truyền của dân tộc - Tết Nguyên đán Giáp Thìn được đến dự Lễ tặng quà Tết Nguyên đán Giáp Thìn cho công nhân lao động, hộ nghèo trên địa bàn thành phố Cần Thơ.


Điểm lại những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Thủ tướng khẳng định, dịp Tết này, Lãnh đạo Đảng, Nhà nước rất quan tâm, đi thăm hỏi, tặng quà Tết cho các gia đình chính sách, hộ nghèo, công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn tại các địa phương. Đây được coi là chiến dịch an sinh xã hội bao trùm, rộng khắp trên cả nước.


Thủ tướng khẳng định, trong thành tựu chung của cả nước, có sự đóng góp quan trọng của thành phố Cần Thơ, thủ phủ của miền Tây, đánh dấu mốc son triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và Đại hội Đảng bộ Thành phố, nhất là làm tốt công tác an sinh xã hội.


Thủ tướng nêu rõ, năm mới 2024 đã đi qua 1 tháng, tình hình có những khởi sắc; mong thành phố Cần Thơ phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, khắc phục hạn chế, bất cập, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố, góp phần cùng cả nước hoàn thành mục tiêu mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra, từ đó cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vì Đảng bộ Thành phố Cần Thơ là đầu tàu trong thực hiện các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội trong vùng.


Thủ tướng mong muốn cấp ủy, chính quyền thành phố Cần Thơ cần nỗ lực giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn thành phố, góp phần cùng cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cả nước giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm an ninh trật tự, an toàn, an dân.


Thủ tướng đề nghị các cấp chính quyền thành phố rà soát lại trên địa bàn các chế độ, chính sách của các đối tượng chính sách được hưởng bảo trợ, kịp thời có hỗ trợ, nhất là những gia đình chính sách, có hoàn cảnh khó khăn, những đối tượng yếu thế, những người ốm đau trong dịp Tết này.


Thủ tướng lưu ý các lực lượng vũ trang trên địa bàn cần bảo đảm Tết an toàn, an ninh; hạn chế tai nạn giao thông, hạn chế tình trạng uống rượu say mà vẫn điều khiển phương tiện giao thông. Các lực lượng chức năng phải tăng cường kiểm soát chặt việc này, kiểm soát, trấn áp các loại tội phạm; các lực lượng chức năng như công an, bệnh viện, phòng cháy chữa cháy… phải tăng cường ứng trực dịp này để người dân được hưởng cái Tết vui vẻ, an lành, lành mạnh, nghĩa tình.


Thủ tướng đề nghị cấp ủy, chính quyền các cấp, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể thành phố Cần Thơ tiếp tục chung tay chăm lo Tết cho người dân.


Nhân dịp Xuân mới Giáp Thìn 2024, Thủ tướng chúc Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Cần Thơ một năm mới hạnh phúc, mạnh khỏe và thành công./.

ST


HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN: "SỰ LỰA CHỌN CHO ỔN ĐỊNH, TỰ DO, HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM"

 

Lịch sử chính trị thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học để thấy rằng sự chia rẽ, phân rã, thiếu tập trung về quyền lực chính trị sẽ dẫn đến sự bất hòa, đó chính là mầm mống cho những nỗi thống khổ, bất hạnh của người dân.


Tại Việt Nam, vào cuối thập niên 20 của thế kỷ trước, cùng với sự phát triển của các phong trào yêu nước, các tổ chức cộng sản đảng đã ra đời mà tiêu biểu là An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng và Tân Việt Cách mạng Đảng. Sau khi ra đời 3 tổ chức cộng sản đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế cộng sản và đều tự nhận mình là đảng cách mạng chân chính. Tuy nhiên sự xuất hiện và tồn tại 3 tổ chức cộng sản đảng cùng hoạt động cách mạng đã dẫn đến sự chia rẽ nguồn lực. Sự chia rẽ của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thời kỳ này đã gây tổn hại lớn cho sự phát triển của phong trào cách mạng và gây nên tâm trạng nghi ngờ, hoang mang trong quần chúng.


Để chấm dứt sự chia rẽ và công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản, đầu tháng giêng năm 1930, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng để triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03-02-1930 là minh chứng lịch sử cho chúng ta thấy cách thức tổ chức một đảng duy nhất cầm quyền, đây là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với đặc trưng văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta.


So với thể chế đa đảng đối lập, nhiều quan điểm cho rằng các quốc gia có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước đó là “chế độ độc đảng toàn trị”. Hằng năm, các báo cáo về chỉ số tự do dân chủ (Democracy Index) vẫn dựa vào tiêu chí đa đảng đối lập để đánh giá mức độ tự do, dân chủ của một quốc gia. Dựa vào các báo cáo này, họ rao giảng rằng các quốc gia như Việt Nam có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước thì xu hướng chung “đảng đó sẽ độc chiếm quyền lực, tiếm đoạt các chức năng của nhà nước, kiểm soát toàn bộ đời sống của xã hội nói chung, của cá nhân nói riêng”. Họ "khuyến cáo" rằng, "Việt Nam cần phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để thực hiện dân chủ"(!).


Tuy nhiên phải hiểu rằng, dù đề cập đến dân chủ như một giá trị tốt đẹp, dân chủ như một hình thức cai trị, một cách thức ra các quyết định chung hay dân chủ như một chế độ chính trị thì tất cả các ngữ nghĩa này đều không bắt nguồn từ cách thức tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Dù là chế độ một đảng nhưng chúng ta đã, đang thực hiện dân chủ theo những cách riêng, phù hợp với đặc trưng văn hóa, tập quán, lối sống và năng lực thực hành dân chủ của người dân Việt Nam.


Lịch sử đấu tranh cách mạng ở Việt Nam đã cho chúng ta thấy Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo đất nước, đó là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với phong tục, tập quán, năng lực thực hành dân chủ của người Việt. Nếu ai đó nói với chúng ta rằng Việt Nam cần phải học hỏi các quốc gia trên thế giới, phải xóa bỏ chế độ độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam để tổ chức đời sống chính trị theo chế độ đa đảng, nhất là đa đảng đối lập giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới thì chúng ta đừng hoang mang, dao động, mà hãy nhìn vào đời sống chính trị của các quốc gia theo chế độ đa đảng. Hãy nhìn vào cuộc sống hiện tại của người dân ở các quốc gia đã trải qua "mùa xuân Ả Rập" hay trải qua "cách mạng sắc màu", những người đã tin theo những lời xúi giục đó, họ đang khát khao như thế nào về một cuộc sống yên bình, ổn định, không có xung đột, đói nghèo và tội phạm gia tăng để cân nhắc quan điểm và lựa chọn hành động cho đúng.


Cho đến hiện nay, chế độ đa đảng, đặc biệt là đa đảng đối lập với đại diện theo tỷ lệ vẫn được các quốc gia phương Tây sử dụng như một “tiêu chuẩn của các nền dân chủ tiên tiến”. Lịch sử tổ chức đời sống chính trị trên thế giới lại cho chúng ta thấy rằng, dân chủ không bắt nguồn từ cách thức chúng ta tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Nếu bạn đọc ở đâu đó hay nghe ai đó thuyết giảng rằng Việt Nam cần phải xây dựng chế độ đa đảng giống như mô hình của nhiều quốc gia phương Tây, thì bạn hãy nhớ rằng: Hiện nay, trên thế giới đang có hàng chục quốc gia lựa chọn thể chế "đa nguyên, đa đảng" nhưng đang chìm trong đói nghèo, khủng hoảng chính trị triền miên. Chúng ta có lợi thế hơn họ bởi chúng ta có những tấm gương trước mắt để học hỏi và lựa chọn. Sự lựa chọn đúng đắn nhất của chúng ta là: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đây là sự lựa chọn cho sự ổn định, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta và sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam./.

ST


Nâng cao tính đảng và phát huy vai trò của người đứng đầu trong xây dựng Đảng ở doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa - Kết quả và nhiệm vụ chủ yếu

 Người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương là người lãnh đạo, quản lý, chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm cao nhất của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương đó. Người đứng đầu được trao thẩm quyền sử dụng một số quyền lực để thi hành chức trách, nhiệm vụ được giao. Đó là quyền lực của tập thể và họ là người đại diện cho quyền lực của tập thể để thực thi công vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Quyền lực mà họ đang nắm giữ, đang thực thi, không phải là của cá nhân họ và do vậy, để phòng, tránh nguy cơ “tha hóa quyền lực”, người đứng đầu phải luôn đề cao và giữ nghiêm tính đảng của người đảng viên.

Tính đảng của cán bộ, đảng viên được hiểu là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng, mục tiêu cách mạng của Đảng; sự tuân thủ tính tổ chức và tính kỷ luật; là những chuẩn mực đạo đức cách mạng trong mọi cử chỉ, hành vi, lời nói trong các hoạt động xã hội. Trong bất kỳ giai đoạn nào của sự nghiệp cách mạng, trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, việc nâng cao tính đảng của người cán bộ, đảng viên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nhằm tạo ra sự đồng thuận về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; sự thống nhất, đoàn kết trong hành động; bảo đảm vai trò tiên phong và là tấm gương sáng có sức thu hút, động viên, dẫn dắt quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ.

Nhận thức được vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng đó, nhiều  doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đã thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao tính đảng, phát huy vai trò của người đứng đầu trong công tác xây dựng Đảng và đạt được những kết quả tích cực, cụ thể như sau:

Công tác xây dựng Đảng luôn được chú trọng và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả trên các mặt công tác.

Nhìn chung, các đảng bộ doanh nghiệp, từ tập thể cấp ủy đến mỗi đảng viên, luôn đoàn kết và nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình. Đoàn kết giữa bí thư và các thành viên trong cấp ủy, đoàn kết giữa đảng viên, người lao động và đồng nghiệp ở các phòng ban, đơn vị làm việc, công tác; đoàn kết với các đơn vị thành viên, chính quyền và nhân dân địa phương luôn được đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa chú trọng và coi đó là nội dung trọng tâm trong hoạt động của tổ chức đảng và lãnh đạo doanh nghiệp. Đoàn kết trước hết là ở sự thống nhất mục tiêu, kế hoạch nhân sự, sản xuất kinh doanh hằng năm, hằng quý, hằng tháng của doanh nghiệp trên cơ sở công khai, minh bạch để thống nhất trong hành động, nâng cao quyết tâm hành động. Vì vậy, các đảng bộ xác định rõ, tổ chức cơ sở đảng luôn là nền móng của Đảng, có vai trò hạt nhân chính trị cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa hội đồng quản trị, ban giám đốc và người lao động.

Trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, để nâng cao vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng, thì điều quan trọng là cấp ủy, người đứng đầu và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự nêu cao ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác nêu gương và năng lực thực thi công việc hoàn thành nhiệm vụ, để quần chúng, người lao động noi theo. Trong cơ chế mới, để đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh, cấp ủy và hội đồng quản trị luôn nỗ lực tạo sự đồng thuận cao trong việc nâng cao năng lực thực hiện công việc cho mọi cán bộ, đảng viên và người lao động, tạo điều kiện cho mỗi người tự giác học tập, như mở các lớp tập huấn về luật pháp, nghiệp vụ kinh doanh. Nhờ đó, năng lực giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh và đề ra chủ trương, nghị quyết của thành viên cấp ủy được nâng cao, sát với thực tế, phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của mình, tạo sự đồng thuận cao giữa cấp ủy và hội đồng quản trị. Xác định sức thuyết phục của cán bộ, đảng viên đối với quần chúng, người lao động là năng lực công tác, hiểu biết phù hợp với thời đại khoa học - công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, hiểu đúng và làm việc theo pháp luật, nên doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn chú trọng nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ cho cán bộ ở các phòng, ban. Nhờ đó, quá trình sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa trong thời kỳ kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh được thuận lợi hơn, đạt hiệu quả thiết thực.

Đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn tích cực đổi mới công tác quản trị nhân sự, từ vấn đề nhân sự trong công tác cán bộ, sắp xếp lại và kiện toàn đội ngũ cán bộ từ cấp doanh nghiệp đến các phòng, ban phù hợp với cương vị lãnh đạo, yêu cầu chuyên môn của từng vị trí công việc. Việc học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, đảng viên trong nhiều doanh nghiệp đã trở thành phong trào, có tính tự giác cao. Hằng năm, các đảng ủy doanh nghiệp nhà nước cổ phẩn hóa chú trọng công tác phát triển đảng, cử quần chúng ưu tú học lớp tìm hiểu về Đảng, các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới.

Xây dựng và tạo lập được mối quan hệ tốt giữa cấp ủy, bí thư cấp ủy với hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, ban giám đốc doanh nghiệp.

Nhờ có sự đồng thuận giữa cấp ủy và hội đồng quản trị trong đánh giá năng lực làm việc của từng người, có chế độ khen thưởng công bằng, minh bạch đối với những người làm việc có hiệu quả thường xuyên hoặc đột xuất, nên không khí, môi trường làm việc, tinh thần phấn đấu, cống hiến cho doanh nghiệp, vì sự phát triển của doanh nghiệp của cán bộ, đảng viên, người lao động càng rõ nét, khởi sắc. Thực tế tại nhiều  doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa cho thấy, đội ngũ đảng viên đảm nhận hầu hết vị trí quan trọng ở các phòng, ban và lãnh đạo doanh nghiệp, nên tính đảng được phát huy và thể hiện ở ý thức trách nhiệm đối với công việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên này. Trong bối cảnh cán bộ, người lao động thường xuyên thay đổi công việc do nhu cầu cá nhân hoặc từ nguyên nhân khách quan, các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn chủ động công tác nhân sự, bảo đảm đội ngũ cán bộ tại chỗ đủ tiêu chuẩn và năng lực để bổ sung, thay thế, đề bạt kịp thời, không để xảy ra sự hụt hẫng về cán bộ quản lý.

Tại các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, công tác lãnh đạo, quản lý của hội đồng quản trị và đảng ủy các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đều được thực hiện tốt; đảng viên và người lao động dù ở vị trí, cương vị nào đều luôn tuân thủ, chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy chế, kỷ luật hoạt động của doanh nghiệp mình. Với tinh thần “chi bộ là gốc rễ của Đảng trong quần chúng, chi bộ tốt thì mọi đường lối, chủ trương của Đảng đều được thi hành tốt”, các chi bộ thường xuyên đổi mới nội dung sinh hoạt, bảo đảm thiết thực, sát với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, tuân thủ định hướng chiến lược hoạt động của doanh nghiệp mà hội đồng quản trị đã đề ra. Mọi đảng viên đều có thể đóng góp ý kiến vào việc sản xuất, kinh doanh, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích người lao động. Đảng viên thực hiện tốt, nghiêm các quy định về những điều đảng viên không được làm. Trong bối cảnh các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không ngừng bịa đặt, xuyên tạc chống phá Đảng trên không gian mạng, cấp ủy, đảng viên trong đảng bộ doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn quán triệt sâu sắc, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng và không tham gia phát tán, truyền bá tin tức không phù hợp, chưa được kiểm chứng. Các chi bộ không ngừng đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt, chú trọng tuyên truyền những điểm mới trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để đảng viên yên tâm với công việc, người lao động say mê lao động và cống hiến, biến lời nói thành hành động. Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn xác định, việc học tập, lao động hiệu quả, theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là thước đo chuẩn mực đạo đức, phẩm chất của cán bộ, đảng viên.

Sản xuất sợi quang tại Công ty cổ phần Thiết bị bưu điện (Postef)_Ảnh: TTXVN

Gắn chặt công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và người đứng đầu trong các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa thường xuyên duy trì nền nếp công tác kiểm tra, giám sát. Trước hết, cấp ủy, bí thư cấp ủy luôn nhận thức rõ: Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy; qua đó, giúp đảng viên nâng cao ý thức chính trị, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, uốn nắn, không để xảy ra tình trạng đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật... Để thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, trên cơ sở nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, của doanh nghiệp, ngay từ đầu các nhiệm kỳ, cấp ủy, ban thường vụ đảng ủy tiến hành xây dựng quy chế làm việc của ban chấp hành đảng bộ. Một mặt, công tác kiểm tra được cụ thể hóa thành mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, xử lý những vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa chủ đầu tư và quyền lợi khách hàng, bảo đảm hài hòa quyền lợi, đúng pháp luật với các địa phương nơi dự án triển khai,... Mặt khác, cấp ủy luôn lắng nghe ý kiến của tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, phòng, ban nghiệp vụ. Công đoàn và đoàn thanh niên chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên cán bộ, đoàn viên, người lao động tích cực hưởng ứng, tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Tổ chức đảng, công đoàn và đoàn thanh niên phối hợp chặt chẽ, tạo ra sức mạnh cộng hưởng, vừa giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh, vừa đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho người lao động và giữ vững sự ổn định của doanh nghiệp, giúp cho đảng bộ doanh nghiệp có được vai trò, uy tín cao đối với chủ đầu tư và người lao động.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa còn nhiều bất cập, hạn chế. Đó là việc một số cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc quan điểm, chủ trương về công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa; từ đó, hoạt động của tổ chức đảng ở những nơi này chậm đổi mới, nội dung chưa hấp dẫn và phương thức hoạt động ít nhiều còn mang tính hình thức. Thời gian tới, để nâng cao tính đảng và tăng cường xây dựng Đảng trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, cấp ủy, người đứng đầu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh.

Cấp ủy và ban giám đốc doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Phối hợp chặt chẽ, nâng cao tinh thần đồng thuận giữa người đứng đầu với cấp ủy và các phòng, ban chuyên môn trong quản lý, chỉ đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ xây dựng chiến lược đầu tư phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như hiện nay.

Hai là, nâng cao thẩm quyền, trách nhiệm của bí thư đảng ủy, chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc doanh nghiệp.

Chú trọng xây dựng những quy định gắn với trách nhiệm người đứng đầu trước doanh nghiệp, đoàn thể, người lao động. Để nâng cao được tính đảng trong đảng bộ các doanh nghiệp, thì điều quan trọng là phải phát huy hiệu quả vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cả về năng lực lãnh đạo, phẩm chất đạo đức, ý thức pháp luật. Muốn phát huy tốt, khẳng định vai trò của mình, người đứng đầu, tập thể cấp ủy và lãnh đạo phải bám sát cuộc sống, không ngừng đổi mới sáng tạo, đặt lợi ích tập thể, lợi ích người lao động lên trên hết, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Theo đó, một yêu cầu không thể thiếu đối với người đứng đầu là phải hết sức quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho đội ngũ lãnh đạo các cấp.

Quyền lực và trách nhiệm là hai mặt của một vấn đề trong công tác cán bộ; do đó, cấp ủy khi phân công và giao nhiệm vụ cho cán bộ thì phải rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phù hợp với yêu cầu công việc.

Ba là, chú trọng công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên, nâng cao tính đảng cho cán bộ, đảng viên

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ như hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên do thiếu trách nhiệm, nên thờ ơ, thậm chí cổ xúy cho những thông tin tiêu cực; vì vậy, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải đẩy mạnh đấu tranh chống tin tức xuyên tạc, xấu, độc, nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Để tổ chức đảng trong doanh nghiệp phát triển tương xứng và hiệu quả, đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa phải luôn chú trọng công tác phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên, lấy ý thức trách nhiệm với tập thể, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao và có uy tín trong quần chúng làm tiêu chuẩn và thước đo hàng đầu trong kết nạp đảng viên.

Nâng cao tính đảng xuất phát từ yêu cầu tự thân của Đảng, nhằm luôn giữ vững bản chất, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Tính đảng cần được nhận thức không chỉ là giá trị tự thân của mỗi đảng viên, mà còn là niềm tự hào của gia đình, dòng họ, cộng đồng làng xã, thôn xóm để mỗi cán bộ, đảng viên luôn tự giác nỗ lực, phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp cao cả mà mình đã lựa chọn. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất cao trong toàn Đảng. Củng cố và nâng cao hơn nữa tính đảng sẽ nhân thêm sức mạnh nội lực của Đảng; đồng thời, tạo ra thế và lực mới trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta giành thêm những thắng lợi mới.

Bốn là, tuân thủ nghiêm tính tổ chức và tính kỷ luật của Đảng, của doanh nghiệp.

Tăng cường kiện toàn và thắt chặt tính tổ chức, quán triệt, duy trì nghiêm khắc tính kỷ luật nhằm tạo sự chủ động trong công tác xây dựng Đảng, thực hiện đồng bộ và triệt để các giải pháp nhằm tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức cũng như hành động của cán bộ, đảng viên. Trong công tác xây dựng Đảng, người đứng đầu phải biết lắng nghe ý kiến đóng góp, nhắc nhở của cấp ủy, tổ chức đảng; kịp thời điều chỉnh hành vi và ứng xử trong quan hệ với tổ chức đảng, cấp ủy và trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ với thẩm quyền và chức trách của mình.

Đặc điểm, phạm vi hoạt động của nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, liên quan rất nhiều đến quy định của pháp luật, đồng thời có nhiều mối liên hệ với chính quyền các địa phương, lợi ích của người dân. Do đó, các doanh nghiệp này phải luôn nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức pháp luật cho mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt. Ngoài ra, việc thường xuyên tiếp xúc, đối thoại với người dân là một trong những yêu cầu quan trọng của công tác lãnh đạo, quản lý, nhằm kịp thời giải quyết vướng mắc, khó khăn ngay từ đầu, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cho địa phương hay các cơ quan quản lý của Nhà nước.

Năm là, xây dựng quy chế phối hợp, tạo mối quan hệ gắn bó, hài hòa giữa cấp ủy với hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc) doanh nghiệp.

Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa cấp ủy với hội đồng quản trị, bí thư cấp ủy với chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc); bảo đảm vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, chức năng quản lý của hội đồng quản trị, sự điều hành của ban giám đốc. Cấp ủy chủ động trao đổi với hội đồng quản trị, ban giám đốc doanh nghiệp về việc thực hiện chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng; ý kiến của cán bộ, đảng viên, người lao động về việc thực hiện nhiệm vụ và chính sách, chế độ trong doanh nghiệp. Hội đồng quản trị, ban giám đốc trao đổi với cấp ủy về hoạt động của doanh nghiệp để cấp ủy thảo luận, ra nghị quyết lãnh đạo cán bộ, đảng viên, quần chúng thực hiện. Bí thư cấp ủy phải chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng và cấp ủy cấp trên về hoạt động của tổ chức đảng, các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp. Chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc) phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và tổ chức đảng (nếu là đảng viên) khi để xảy ra vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong doanh nghiệp.

Công tác xây dựng Đảng ở doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa có vai trò phát huy sức sáng tạo trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước với tinh thần phục vụ lợi ích của xã hội, của người dân, góp phần phát triển đất nước. Trên lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, các  doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn động viên, cổ vũ cán bộ, đảng viên, người lao động tích cực tìm kiếm và nắm bắt cơ hội do công nghệ và thị trường mang lại. Mặc dù còn phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nhưng với sự đoàn kết, đồng thuận, quyết tâm cao của cán bộ, đảng viên và người lao động, doanh nghiệp  nhà nước cổ phần hóa luôn chú trọng xây dựng chiến lược sản xuất, kinh doanh, đầu tư, phối hợp để phát huy tiềm năng, thế mạnh, nguồn nhân lực, nguồn lực kinh tế, khoa học - công nghệ, nhằm tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước./.

LHQ-ST

Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện “phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng”

 

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, đã chỉ ra 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; trong đó, “phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng” là một biểu hiện ở cấp độ cao nhất. Đấu tranh với biểu hiện này có ý nghĩa quan trọng trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ngăn chặn, triệt tiêu sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Nhận diện những biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng

Chúng ta biết, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng cách mạng xuyên suốt của Đảng và dân tộc Việt Nam; là con đường đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại để đưa đất nước ta ngày càng phát triển, trường tồn, nhân dân ta ấm no, hạnh phúc. Đó cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Trong suốt gần 80 năm qua, đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong Quân đội luôn thấm nhuần, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì mục tiêu cao cả đó. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan mà một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; biểu hiện trên một số khía cạnh cơ bản sau:

Thứ nhất, mơ hồ, hoài nghi về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; dao động, thiếu lòng tin vào mục tiêu của cách mạng, nền tảng tư tưởng của Đảng; nhận thức không đúng, không đầy đủ về Cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; mất phương hướng phấn đấu vươn lên.

Thứ hai, dao động về lập trường, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, cho rằng cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên từng vào sống ra chết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thứ ba, thờ ơ, bàng quan, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; không còn hết lòng vì nước, vì dân, vì tập thể cơ quan, đơn vị, dẫn tới không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

Thứ tư, vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ để tham ô, tham nhũng, tiêu cực làm thiệt hại tài sản của đất nước, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.

Đấu tranh với những biểu hiện “phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay

Những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng là rất nguy hiểm; làm xói mòn phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gây ra những tổn hại cho sự nghiệp cách mạng, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị và Quân đội. Do đó, kiên quyết đấu tranh, kịp thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện này là nhiệm vụ cấp bách, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp.

Một là, cấp ủy, tổ chức đảng nêu cao tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình, nhận rõ, kiên quyết đấu tranh với biểu hiện “phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng”. Thực tiễn cho thấy, biểu hiện suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên được thể hiện đa dạng, ở nhiều mức độ khác nhau, thậm chí được che giấu rất tinh vi. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần nêu cao tính chiến đấu thường xuyên và liên tục thông qua tự phê bình, phê bình mới làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng nhận ra và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện đó; giúp nhau sửa chữa, khắc phục. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất, là “thang thuốc hay nhất”, “hữu hiệu nhất” để sửa chữa chữa khuyết điểm. Để thực hiện tốt, các cấp ủy, tổ chức đảng phải duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình; đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải có “dũng khí”, dám nhìn thẳng vào khuyết điểm, “dám nói”, trên tinh thần vì sự tiến bộ của tổ chức, của đồng chí, đồng đội để đấu tranh với bản thân, với đồng chí, đồng đội, thậm chí là cấp trên về những biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Song, kiên quyết tránh động cơ cá nhân trong tự phê bình và phê bình làm ảnh hưởng đến uy tín, phẩm chất của tổ chức, cán bộ, đảng viên.

Hai là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Đây là giải pháp quan trọng để phát hiện, ngăn chặn từ sớm, từ xa những biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên, nhất là trong tình hình hiện nay. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng… chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên”1. Vì vậy, để tạo sức mạnh trong đấu tranh, ngăn chặn biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, cấp ủy, tổ chức đảng, Ủy ban kiểm tra đảng các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát định kỳ, đột xuất để kịp thời cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm. Nội dung kiểm tra, giám sát phải toàn diện, được tiến hành thường xuyên; chú trọng kiểm tra, giám sát về tư tưởng chính trị, thực hiện Cương lĩnh chính trị, các nghị quyết, nguyên tắc sinh hoạt của Đảng. Quá trình thực hiện cần phối hợp chặt chẽ với công tác bảo vệ chính trị nội bộ, các biện pháp hành chính, kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo tinh thần không có “vùng cấm”; đưa ra khỏi bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất làm trong sạch nội bộ.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp nền tảng, xuyên suốt góp phần làm cho mọi cán bộ, đảng viên luôn giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Theo đó, công tác giáo dục phải bao quát trên tất cả các nội dung, song cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi là: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng cách mạng; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương; đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần suốt đời phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân của người cán bộ, đảng viên. Trong quá trình giáo dục phải chỉ ra, kiên quyết đấu tranh với nhận thức sai trái, luận điệu xuyên tạc; những biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi cán bộ, đảng viên. Qua đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, khơi dậy niềm vinh dự, tự hào, khát vọng cống hiến, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, “vượt qua chính mình” trước những “cám dỗ” về vật chất, danh lợi, địa vị và sự lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch, ra sức phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Bốn là, xây dựng tổ chức cơ sở đảng các cấp trong sạch, vững mạnh, tạo môi trường tốt để rèn luyện, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên. Tổ chức cơ sở đảng là nơi đảng viên sinh hoạt, công tác; nơi quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên. Vì vậy, để đấu tranh hiệu quả với những biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên, việc xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ là giải pháp cơ bản, cấp bách. Theo đó, các tổ chức cơ sở đảng tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương, v.v. Qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nhất là khả năng đấu tranh trước những hiện tượng tiêu cực, biểu hiện suy thoái, chủ nghĩa cá nhân của cán bộ, đảng viên.

Năm là, nêu cao ý thức “tự soi, tự sửa” trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng là một trong những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, nó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu lơ là, xem nhẹ, buông lỏng, thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống sẽ là mảnh đất màu mỡ dẫn tới tha hóa, biến chất, thậm chí phản bội Tổ quốc. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật có nguyên nhân căn bản từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần “tự soi, tự sửa”, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, cả trong tư tưởng, suy nghĩ và hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”2. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao nhận thức về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, đó không chỉ là yêu cầu của cấp ủy, tổ chức đảng, mà thực hiện tốt góp phần làm cho bản thân ngày càng hoàn thiện hơn. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải có quyết tâm cao, kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện; đăng ký với cấp ủy, tổ chức đảng để theo dõi, giám sát, đôn đốc, nhắc nhở; định kỳ kiểm điểm, đánh giá, kịp thời khắc phục những hạn chế, khuyết điểm.

Chủ nghĩa cá nhân, biểu hiện “phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, tuy đã được ngăn chặn bước đầu, song vẫn diễn biến phức tạp, làm suy yếu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức mạnh, sự đoàn kết, thống nhất trong mỗi tổ chức đảng, phai nhạt phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên; đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần nhận thức sâu sắc, quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, chủ động, sáng tạo, thực hiện đồng bộ các giải pháp. Qua đó, không chỉ tạo ra nguồn cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, đẩy lùi biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, mà còn tô thắm và làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Sưu tầm

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình sắp xếp, hoạt động và đổi mới doanh nghiệp

 Thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm tạo ra loại hình doanh nghiệp đa sở hữu, nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm nguồn vốn khác trong xã hội để phát triển sản xuất, kinh doanh; tạo động lực mạnh mẽ và xây dựng cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước; phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp nhà nước; bảo đảm hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động; từng bước đổi mới thiết bị, công nghệ, máy móc hiện đại, mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng tích lũy và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao đời sống của người lao động.

Tính từ năm 2011 đến nay, tổng số doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa là 631 doanh nghiệp(1), thu hút hàng trăm nghìn lao động, có đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật lành nghề, đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ mới. Quản trị doanh nghiệp được cải thiện, cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch hơn. Thực tế nhiều năm qua, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đã nỗ lực khơi dậy tiềm năng, nội lực, khám phá thị trường, thúc đẩy tinh thần dám nghĩ, dám làm và đổi mới các hình thức quản lý phù hợp với năng lực vốn có của mình. Sự hợp tác lành mạnh, hiệu quả giữa các loại hình doanh nghiệp đã làm tăng năng lực xã hội, cả về tri thức, khoa học - kỹ thuật, công nghệ và năng lực sáng tạo của đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật và người công nhân.

Các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được hình thành do tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nên đều được kế thừa tổ chức đảng (đảng bộ hoặc chi bộ) và các đoàn thể quần chúng từ doanh nghiệp nhà nước chuyển sang. Tuy nhiên, do có sự thay đổi về chế độ sở hữu và cơ chế quản lý, nên nhận thức của một số cán bộ, đảng viên về vai trò, vị trí của tổ chức đảng trong loại hình doanh nghiệp này còn chưa đúng mức; nội dung và phương thức hoạt động chậm được đổi mới, còn lúng túng, hiệu quả thấp.

Để phù hợp với cơ chế quản lý mới, nhiều đảng bộ, chi bộ cơ sở đã xây dựng được quy chế hoạt động, xác định phương thức lãnh đạo và mối quan hệ phối hợp giữa cấp ủy và hội đồng quản trị, ban giám đốc, bảo đảm đảng bộ, chi bộ cơ sở trong doanh nghiệp là hạt nhân chính trị, lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên, người lao động thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm vai trò lãnh đạo chính trị của tổ chức đảng, chức năng quản lý của hội đồng quản trị, sự chủ động, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành sản xuất, kinh doanh của tổng giám đốc (giám đốc).

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà 7 Nguyễn Mạnh Thắng phát huy trí tuệ của tập thể trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao_Ảnh: Tư liệu

Nhận rõ vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa trong nền kinh tế đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng trong loại hình doanh nghiệp này, coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm tăng cường và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ và xây dựng tổ chức đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và doanh nghiệp khu vực tư nhân(2). Nhờ đó, trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, nhiều tổ chức đảng đã xây dựng được quy chế hoạt động, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và các mối quan hệ công tác với hội đồng quản trị, ban giám đốc, từng bước khắc phục tình trạng buông lỏng lãnh đạo của tổ chức đảng trong doanh nghiệp; phát huy vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên và người lao động thực hiện hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ở những doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, hoạt động của tổ chức đảng chưa phát huy được hết vai trò lãnh đạo, nhất là ở những nơi mà chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc không tham gia cấp ủy hoặc không phải là đảng viên.

Do đó, nhiều vấn đề đang đặt ra và cần có giải pháp, như cần phát huy vai trò lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ cơ sở như thế nào; thực hiện mối quan hệ giữa cấp ủy với đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc để bảo đảm thực chất, hiệu quả đối với những doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối.

LHQ-ST

XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” TRONG BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

“Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” - lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của các cấp chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, trở thành bài học quý báu đối với mọi mặt công tác Công an, đặc biệt là trong công cuộc xây dựng “thế trận lòng dân” trong bảo vệ Tổ quốc - từ lịch sử đến hiện tại.


Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng có tính cốt tử của “lòng dân” và “thế trận lòng dân”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.


Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đưa nội dung xây dựng “thế trận lòng dân” lên một tầm cao mới, không chỉ tiếp tục khẳng định vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân” mà còn bổ sung vấn đề “phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. Về điều này, Đại tướng, GS.TS Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an cho rằng đây không chỉ đơn thuần là sự sắp xếp cơ học mà còn là sự khẳng định, bổ sung, có sự phát triển mới trong tư duy của Đảng về đường lối an ninh, quốc phòng và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xác định rõ vị trí, ý nghĩa của “thế trận lòng dân”.


Cùng với khẳng định, nâng tầm “thế trận lòng dân” là một trong những sức mạnh nội sinh của dân tộc, Nghị quyết Đại hội XIII cũng nêu vấn đề này một cách rõ nét, toàn diện hơn, đó là: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”. “Thế trận lòng dân” không chỉ là nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân mà hơn nữa, “thế trận lòng dân” thâm nhập từng yếu tố, tạo sức mạnh nội sinh, trên cơ sở đó phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Xây dựng “thế trận lòng dân” là vấn đề có tính chiến lược, toàn dân, toàn diện, thường xuyên, liên tục, có sự thống nhất cao giữa “ý Đảng” và “lòng dân”; thể hiện sự đồng thuận của nhân dân một lòng đi theo sự lãnh đạo của Đảng, tham gia nhiệm vụ quốc phòng - an ninh dưới sự hướng dẫn của lực lượng vũ trang nhân dân. Sự ủng hộ, tham gia của nhân dân là động lực, sức mạnh tinh thần to lớn, chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, sự ủng hộ, giúp đỡ, tham gia của nhân dân là nền tảng để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân toàn diện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu và ngày càng vững chắc.


Bàn về “thế trận lòng dân”, Thượng tướng, PGS.TS. Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng đó là loại hình thế trận đặc biệt, không thể hiện ra bằng hình hài cụ thể mà được thể hiện bằng sức mạnh nội sinh của quốc gia, dân tộc theo từng cấp độ khác nhau. “Thế trận lòng dân” là tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu, phấn đấu của toàn dân tộc được khơi dậy, quy tụ, tập hợp, phát huy, tạo thành nền tảng chính trị vững chắc, sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, sẵn sàng huy động nhằm thực hiện các mục tiêu của cách mạng. “Thế trận lòng dân” là nguồn sức mạnh nội sinh có ý nghĩa quyết định để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc.


“Thế trận lòng dân” và sức mạnh của nó có nền gốc từ sự thống nhất lợi ích và việc giải quyết mối quan hệ lợi ích cơ bản giữa Đảng, Nhà nước, quốc gia - dân tộc và của toàn dân, tạo nên sự đồng thuận cao trong toàn xã hội. Các mối quan hệ lợi ích cơ bản được giải quyết một cách hài hòa thì sẽ tạo được sự đoàn kết, thống nhất cao của mọi giai tầng trong xã hội; và ngược lại không làm được điều đó sẽ xảy ra xung đột trong lòng xã hội, không thể tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.


Bộ trưởng Tô Lâm chỉ rõ, để tiếp tục xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” trong nền an ninh nhân dân vững chắc, cần tập trung vào các công tác trọng tâm: Một là cấp ủy, chính quyền, cơ quan đoàn thể các cấp cần nhận thức thống nhất, đầy đủ tính chất, tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của việc xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp đảm bảo an ninh, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, trong đó lực lượng Công an làm tham mưu, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện.


Hai là tăng cường xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh, chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp theo hướng gần dân, chăm lo cho dân, tạo sức mạnh và uy tín để củng cố niềm tin trong nhân dân; bảo đảm vững chắc và tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, nâng cao  hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị, xã hội; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, có cơ chế phù hợp để nhân dân được tham gia bàn bạc, giám sát, phản biện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo sự đồng thuận. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa then chốt, tác động trực tiếp đến nhận thức, thái độ, trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân, trên cơ sở đó, định hướng hành động xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” bảo vệ Tổ quốc.


Ba là đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống và làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chống bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các hành động phá hoại “thế trận lòng dân”, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng theo hướng tích cực phòng ngừa là chủ yếu, kết hợp với xử lý nghiêm các hành vi vi phạm cũng như các biểu hiện dung túng, bao che hoặc ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí dưới mọi hình thức. Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các bộ, ban, ngành, địa phương và là giải pháp góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh. 


Bốn là nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, trọng tâm là các địa bàn chiến lược, tuyến biên giới, biển đảo, vùng dân tộc... Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc phải được chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất, thường xuyên của cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, từ thành thị tới nông thôn, trong cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường... Đẩy mạnh phong trào thi đua nhằm tạo ra các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân”, từ đó tổ chức học tập, rút kinh nghiệm và nhân rộng trên phạm vi cả nước. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Công an nhân dân với Quân đội nhân dân, các bộ, ban, ngành, địa phương trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân”, thế trận an ninh nhân dân vững chắc gắn với thế trận quốc phòng toàn dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc.


Năm là tiếp tục xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, thật sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Công an các đơn vị, địa phương và mỗi cán bộ, chiến sĩ cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự của đất nước trước bối cảnh tình hình mới rất phức tạp hiện nay để trọng dân, dựa vào dân, vì nhân dân phục vụ nhiều hơn nữa; coi đây là thước đo hết sức quan trọng về phẩm chất, đạo đức cách mạng, bản lĩnh, tác phong, hiệu quả công tác, chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân. Mọi lĩnh vực, hoạt động của công tác công an phải được thực hiện trên cơ sở công tác dân vận, giáo dục, thuyết phục nhân dân tham gia bảo vệ an ninh, trật tự.


Trong dân vận, lấy suy nghĩ, việc làm, hành động trọng dân, gần dân, vì nhân dân phục vụ làm cơ sở, nền tảng, phát huy tài năng, trí tuệ, sức sáng tạo của nhân dân để vận động, thuyết phục, hướng dẫn nhân dân, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân trước âm mưu, phương thức thủ đoạn hoạt động chống phá, phạm tội của các thế lực thù địch và các loại tội phạm. Làm cho nhân dân hiểu rõ hơn về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm an ninh, trật tự, về quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia các quan hệ xã hội để hình thành ý thức thượng tôn pháp luật, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh./. 

ST

BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA - TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA


Quan điểm về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là kết quả sự phát triển tư duy mới, lý luận nhận thức mới của Đảng ta về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; thể hiện tính biện chứng của quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, phương châm, nhiệm vụ và các giải pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của quốc phòng, an ninh phù hợp với bối cảnh mới, trước tác động đa chiều của tình hình thế giới, khu vực với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường.


Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy phản ánh sâu sắc trong các văn kiện, nghị quyết Đại hội Đảng từ khóa IX đến khóa XIII, tập trung ở Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX), Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược an ninh quốc gia… Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc; nghiên cứu dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước; thể hiện tư duy mới, tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta; trở thành phương châm lãnh đạo, chỉ đạo, nhận thức và hành động của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị về việc chủ động chuẩn bị trước một bước về mọi mặt, nhất là chuẩn bị về tâm thế, các tiềm lực, nguồn lực, thế trận để đủ sức thực thi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời bình; là cơ sở khoa học để thống nhất nhận thức, sự lãnh đạo, chỉ đạo về phòng tránh các nguy cơ xung đột, chiến tranh từ trong “trứng nước”; các mối đe dọa từ ngoài biên giới; không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống.


1. Chủ động quán triệt và thực hiện quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là một khâu quan trọng đầu tiên của quy trình triển khai, đưa quan điểm của Đảng vào cuộc sống, chuyển hóa lý luận thành hoạt động thực tiễn; xử lý kịp thời, hiệu quả những nhân tố gây bất lợi do chủ quan, duy ý chí gây nên; đặc biệt là những nhân tố có thể gây đột biến, ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Qua đó, kiểm nghiệm tính đúng đắn của nhận thức, quan điểm; đánh giá hiệu quả của quá trình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cung cấp luận cứ khoa học; bổ sung, phát triển lý luận, đề xuất quan điểm mới; làm cho nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, nhất là chủ động quán triệt và thực hiện quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy để có đối sách, kế sách ứng phó kịp thời, hợp lý trước các tình huống.


Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là cuộc chiến đấu trong thời bình, là tự mình khẳng định sức mạnh chiến thắng chính mình, có thái độ và hành động đúng đắn trong đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch. Nói một cách khác, đó là kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thui chột ý định, mưu đồ thôn tính, xâm lược nước ta từ trong “trứng nước” của kẻ thù, kịp thời chống lại mọi hành vi xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; xây dựng quốc gia hùng cường, thịnh vượng; phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.


Việc nhận thức đúng, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là vấn đề cơ bản, hàng đầu, có ý nghĩa quyết định mọi thành công. Vì vậy, trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào cũng cần thận trọng, đặt lên hàng đầu sự cần thiết phải tự giác và ý thức rõ ràng về vị trí, vai trò, giá trị và ý nghĩa của việc chủ động, tích cực trong quán triệt quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy trên mọi khía cạnh.


Từ đó, sử dụng có hiệu quả thời gian, lựa chọn chính xác các phương án tối ưu để chủ động triển khai, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện chu đáo, hiệu quả từng mặt, từng nội dung quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trên thực tế ở phạm vi cả nước, các ban, bộ, ngành, địa phương, Quân đội, Công an và mọi người dân.


2. Chú trọng xử lý khôn khéo, hiệu quả các mối quan hệ ứng xử với các nước lớn, với các nước bạn bè truyền thống, các nước có chung đường biên giới trên đất liền và trên biển, thực hiện đúng quan điểm và nguyên tắc “bốn không” của Việt Nam. Đồng thời, nhấn mạnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc tình hình đang diễn biến phức tạp từ sớm, từ xa để lường trước mọi khó khăn, các tình huống, có quyết tâm, có phương án ứng phó và biện pháp thích ứng, xử lý khôn khéo, mạnh mẽ, quyết liệt, kiên quyết, kiên trì, chủ động đấu tranh phòng ngừa, không để xảy ra những tình huống xấu; không để bị động, bất ngờ trong bất cứ tình huống nào, cả lúc an bình, cả lúc có tình huống bất trắc xảy ra; đặc biệt là đối với các vấn đề tranh chấp chủ quyền biển, đảo.


Việt Nam có đủ thực lực, sức mạnh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ được Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN. Do đó, cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, Quân ủy Trung ương, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, Bộ Quốc phòng; không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình mới.


Phương châm chỉ đạo việc quán triệt và thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là đẩy mạnh nghiên cứu dự báo chiến lược, nắm chắc diễn biến tình hình; kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, lấy “bất biến ứng vạn biến”. Kiên quyết giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chủ động đấu tranh với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.


Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là làm mọi cách có thể, chủ động chuẩn bị trước, từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy để không bị động, bất ngờ./. 

ST


Không thể xuyên tạc vai trò của Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội

 

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, có nhiệm vụ chính trị là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đồng thời, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, phủ nhận. Đây là vấn đề không mới nhưng rất nguy hiểm, cần vạch trần, lên án và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Trên một số diễn đàn, trang mạng, phương tiện truyền thông, như: BBC, RFA, VOA, “Viettan”, “Dân làm báo”, “Báo tiếng dân”,… các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thi nhau lu loa rằng: Quân đội tham gia phối hợp với Công an trong bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là không đúng chức năng, nhiệm vụ. Họ bịa đặt, xuyên tạc rằng: Quân đội “lấn sân”, “đàn áp nhân dân”, “quân sự hóa hoạt động dân sự”,... trắng trợn hơn, chúng còn kích động người dân ngăn cản các đơn vị Quân đội tham gia thực thi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, chúng triệt để lợi dụng sự hiểu biết chưa đầy đủ của một số cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh, cái chung và cái riêng của mỗi lĩnh vực, từ đó khoét sâu vào những thiếu sót, bất cập ở một số địa phương khi giải quyết những vấn đề an ninh để thổi phồng, kích động, làm cho tình hình thêm phức tạp. Mục đích của chúng là nhằm chia rẽ mối quan hệ, sự đoàn kết, thống nhất giữa hai lực lượng Quân đội và Công an trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Chiêu thức này vô cùng nguy hiểm vì nó làm cho không ít người dân, kể cả một số cán bộ, đảng viên nảy sinh tư tưởng giao động, mơ hồ, hoài nghi, hiềm khích mối quan hệ giữa Quân đội và Công an.

Cần khẳng định rõ: các luận điệu xuyên tạc trên là hoàn toàn sai trái, không thể chấp nhận và phải bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ. Bởi, nhiệm vụ tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của Quân đội ta được khẳng định cả phương diện về lý luận và thực tiễn.

Thứ nhất, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là xuất phát từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: quốc phòng có mối quan hệ biện chứng với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, đối ngoại. Và “bạo lực là bà đỡ cho mọi xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới trong lòng”, do đó tất yếu phải sử dụng bạo lực cách mạng với nhiều hình thức khác nhau kể cả hình thức vũ trang nhằm cải tạo xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng, khắc phục sự chống đối của lực lượng phản động. Việc quân đội cách mạng tham gia thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc gia khác về bản chất so với quân đội tư sản. Theo đó, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh là tạo tiền đề cho nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, bởi sự ổn định rất cần thiết cho phát triển. Trong khi đó, khái niệm an ninh ngày càng được mở rộng. Trong an ninh hàm chứa cả yếu tố kinh tế, trạng thái bình yên của xã hội, của nhà nước, ổn định của chế độ chính trị, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng văn hóa và đối ngoại; yếu tố an ninh đã bao hàm trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh mạng, an ninh con người và cả yếu tố quốc phòng. Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia đã trở thành nhân tố quan trọng, không thể thiếu để đem lại thành công cho sự nghiệp cách mạng mà nhân dân tiến hành. Đây là cơ sở lý luận phản bác luận điểm của các thế lực thù địch đồng nhất bạo lực cách mạng với bạo lực phản cách mạng, đồng nhất sự tham gia trấn áp các thế lực phản động, giữ vững an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của quân đội cách mạng với hành động đàn áp phong trào cách mạng do quân đội tư sản tiến hành.

Hơn thế nữa, theo V.I.Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ”; đồng thời, chỉ ra trách nhiệm của toàn dân, toàn quân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội với nguyên tắc cơ bản nhất là Đảng Cộng sản phải lãnh đạo Quân đội, Công an trong mọi tình huống: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông... chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ... Có Hồng quân mạnh, chúng ta sẽ vô địch”. Như vậy, luận điệu cho rằng, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là không đúng chức năng, nhiệm vụ đã hoàn toàn sai về phương diện lý luận.

Thứ hai, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nhất quán trong đường lối lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ta. Chúng ta biết, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mối liên hệ chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh, Quân đội với Công an đã được thể hiện rõ nét. Theo Người, quốc phòng không đơn thuần chỉ là để chống lại sự xâm lược của kẻ thù từ bên ngoài, an ninh không chỉ là giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, chống các thế lực phản động bên trong, mà cả hai tuy có nhiệm vụ cụ thể riêng, phương thức bảo vệ riêng nhưng quan hệ mật thiết trong mục tiêu chung bảo vệ Tổ quốc; trong nhiệm vụ quốc phòng có cả an ninh, trong nhiệm vụ an ninh có cả quốc phòng. Người khẳng định: “Công an và Quân đội là hai cánh tay của Nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, ra sức phát triển ưu điểm, khắc phục những tư tưởng không đúng”. Bác căn dặn: “Công an và bộ đội phải cảnh giác, phải biết trấn áp kẻ địch bên trong và kẻ địch bên ngoài. Kẻ địch bên trong là bọn phản động, bọn phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; kẻ địch bên ngoài là bọn đế quốc, bọn xâm lược. Chống bọn xâm lược và bọn phá hoại là nhiệm vụ của quân đội, của công an nói riêng và toàn dân nói chung”Người phê bình những quan điểm sai trái: “Cũng có người có ý nghĩ quân đội hơn công an, hoặc công an hơn quân đội. Nghĩ như thế càng không đúng, bởi vì mỗi ngành có nghiệp vụ chuyên môn của nó. Nhưng cả hai đều phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng cả. Vì vậy, không nên coi mình là giỏi mà phải luôn luôn học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ nhau để càng ngày càng tiến bộ”.

Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nói chung và nhiệm vụ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội nói riêng. Điều đó được thể hiện trong kế thừa, vận dụng, phát triển các quan điểm, chủ trương đã có từ trước về Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội để hoạch định các chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn; được triển khai thực hiện đồng bộ trong Chiến lược bảo vệ Tổ Quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, v.v. Nghị quyết Đại hội XIII khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”.

Cùng với đó, trong công tác quản lý nhà nước, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội,... có trách nhiệm phối hợp với Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; Luật Công an nhân dân năm 2018 chỉ rõ: Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và xây dựng Công an nhân dân. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg, ngày 02/6/2003 về Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới; Nghị định số 77/2010/NĐ-CP, ngày 12/7/2010 về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng (nay là Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 05/9/2019 về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng) tạo cơ sở pháp lý để Quân đội thực hiện nhiệm vụ. Như vậy, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ta.

Thứ ba, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thể hiện truyền thống đoàn kết, gắn bó, hiệp đồng chiến đấu giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Là “hai cánh tay của Đảng, Chính phủ, của Nhân dân và của chuyên chính vô sản”, “thanh bảo kiếm và lá chắn” bảo vệ hòa bình, chế độ xã hội chủ nghĩa, gần 80 năm qua, trong mọi hoàn cảnh, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân luôn kề vai, sát cánh, đoàn kết, hiệp đồng chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đã trở thành truyền thống vẻ vang, kinh nghiệm quý của hai lực lượng. Nước nhà độc lập, trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, lực lượng Quân đội, Công an, dân quân tự vệ đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ đập tan mọi âm mưu chống phá cách mạng của các tổ chức phản động ngay trong trứng nước; cùng với nhân dân chiến đấu anh dũng “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” bảo vệ Thủ đô; đồng cam, cộng khổ, hy sinh, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu chống hoạt động do thám, gián điệp, phản động tay sai, càn quét của địch, bảo vệ vững chắc hậu phương và khu căn cứ kháng chiến, góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Mối quan hệ tốt đẹp đó còn được thể hiện ở sự phối hợp, hiệp đồng đấu tranh chống gián điệp, biệt kích của Mỹ - ngụy phá hoại miền Bắc cũng như bảo vệ các cơ sở, căn cứ cách mạng miền Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, v.v. Đó là biểu tượng cao đẹp, tô thắm truyền thống đoàn kết, gắn bó, hiệp đồng chiến đấu giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

Cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, hai lực lượng tiếp tục đoàn kết, thường xuyên trao đổi, nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; trực tiếp triệt phá các tổ chức Fulro, các băng nhóm tội phạm, các nhen nhóm phản động, bảo đảm an ninh, trật tự khu vực biên giới, biển, đảo và nội địa, nhất là địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Tích cực cùng nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, đặc biệt là trong đại dịch Covid-19, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã phát huy văn hóa, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, cống hiến, hy sinh, khắc phục mọi khó khăn gian khổ để đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Cùng với đó, Quân đội còn tích cực tham gia có hiệu quả xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh với các mô hình: “Liên kết xây dựng vùng giáp ranh an toàn về an ninh, trật tự”, “Tiếng kẻng vùng biên”, “Xóm chài bình yên”, “Cụm tàu thuyền an toàn”,... tạo sức mạnh tổng hợp xây dựng thế trận quốc phòng và an ninh vững chắc. Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định: “Thời gian qua, những vấn đề phức tạp về quốc phòng, an ninh được hai lực lượng phối hợp tham mưu với Đảng, Nhà nước, triển khai xử lý kịp thời, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Sự đoàn kết, phối hợp giữa hai lực lượng đã trở thành truyền thống, là nhân tố không thể thiếu, góp phần làm nên sức mạnh của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân”.

Thực tiễn lịch sử đã minh chứng, Quân đội tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội đã góp phần tạo thế chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cùng với toàn Đảng, toàn dân phấn đấu vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Sự thật này không ai có thể chối cãi được! Vì thế, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nhằm hạ thấp vai trò của Quân đội, chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất giữa Quân đội và Công an trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa phải bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ.

Sưu tầm