Thứ Tư, 8 tháng 5, 2024

Bác nói về bệnh quan liêu

 

CÁN BỘ PHẢI TUYỆT ĐỐI TRÁNH BỆNH QUAN LIÊU, MỆNH LỆNH, PHẢI HẾT SỨC CHỐNG BỆNH HÌNH THỨC, CHỐNG LÃNG PHÍ, THAM Ô

 

Lời nói trên, Bác Hồ nói trong buổi gặp gỡ đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, ngày 21 tháng 3 năm 1961, trong hoàn cảnh miền Bắc nước ta đang bắt tay vào việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, vừa xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tiếp tục cải tạo chủ nghĩa xã hội và củng cố quan hệ sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân về mọi mặt; đồng thời, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh giữ gìn trật tự an ninh bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần thiết thực vào thực hiện sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Bác mong muốn và nhắc nhở cán bộ dù ở cấp nào, ngành nào đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân, tất cả cán bộ phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân; phải hết sức quan tâm đến đời sống nhân dân; thực hiện theo đúng chính sách của Đảng; đồng thời, tuyệt đối tránh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí, tham ô. Do đó mà lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực, cụ thể và toàn diện. Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện chung chung. Trong mọi công việc đảng viên và đoàn viên thanh niên phải làm gương mẫu, để lôi cuốn nhân dân cùng tiến bộ.

Hiện nay tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch đang ra sức lôi kéo, thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; những tác động của mặt trái kinh tế thị trường đã làm thay đổi nấc thang giá trị đạo đức cách mạng. Song giá trị lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí, tham ô”, được Đảng ta quán triệt, thực hiện nghiêm túc và phát huy mạnh mẽ trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp, các ngành và cả trong sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vây, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ phải luôn coi trọng việc khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức trong sáng, kiến thức chuyên môn, trách nhiệm với công việc là vấn đề quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết.

Là một bộ phận cán bộ trọng yếu của Đảng trong quân đội, đội ngũ cán quân đội luôn thấm nhuần lời dạy của Bác, dù trong điều kiện hoàn cảnh nào đội ngũ cán bộ trong quân đội đều nhận thức rõ điều đó, luôn giữ vững lập trường quan điểm, phẩm chất đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu lý tưởng chiến đấu, tích cực tự giác nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Việc làm đó, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.

biểu hiện của quan điểm “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội

 Mục tiêu “phi chính trị hóa” quân đội mà các thế lực thù địch đang ráo riết tiến hành chính là muốn tách Quân đội nhân dân (QĐND )Việt Nam khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng làm suy yếu quân đội, làm cho quân đội mất mục tiêu chiến đấu.

Đây là âm mưu thủ đoạn hết sức nguy hiểm, chúng không thấy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với xã hội và đối với Quân đội. Không thấy lịch sử , quá trình hình thành, phát triển chiến đầu và chiến đấu thắng lợi của quân đội ta trong những năm qua luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

Tiếc thay một số cán bộ trong bộ máy công quyền của Đảng và một số cán bộ đã từng công tác trong quân đội cũng đã từng hùa theo luận điệu của các thế lực thù địch, phản động để đưa ra những đòi hỏi phi lý, thực chất là biểu hiện của quan điểm “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội…Điều này hoàn toàn trái ngược với nguồn gốc và bản chất của QĐND Việt Nam.

Để làm thất bại mọi mưu đồ của các thế lực thù địch thì phải vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng. Nhìn nhận chính xác tình hình chống phá của các thế lực thù địch để thấy rằng kẻ thù chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta. Từ đó mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, CNV trong quân đội phải luôn tỉnh táo, nhận thức rõ âm mưu thủ đoạn của chúng để kiên quyết đấu tranh có hiệu quả. Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của Quân đội ta./.

thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm về cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới.

 Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên để góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là nhiệm vụ rất quan trọng trong giai đoạn các bộ, ngành, địa phương quyết tâm  đưu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào thực tiễn cuộc sống xã hội.

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng thực hiện có hiệu quả nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các cấp ủy đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm về cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. 

Hai là, chủ động bám sát các vấn đề, sự kiện, cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo thế chủ động trong mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội.

Ba là, thường xuyên đổi mới phương thức, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, chủ động đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

Bốn là, tăng cường quản lý, chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách hiệu quả.

Thực hiện tốt những nội dung, định hướng cơ bản trên sẽ góp phần ngăn chặn hiệu quả, giảm tác hại từ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động trên internet, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông, góp phần thực hiện tốt nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ VIẾT VỀ NGÀY 7/5

 "Trận Điện Biên Phủ lịch sử được coi là một trong những trận đánh vĩ đại trong thế kỷ 20. Thất bại của Pháp dẫn đến việc ký kết Hiệp định Geneva vào năm 1954", Reuters bình luận.


Theo Reuters, "không nản lòng trước cơn mưa dai dẳng, hàng chục nghìn người tập trung đông đúc tại sân vận động chính Điện Biên Phủ để xem các cuộc diễu hành quân sự và các chương trình văn nghệ, cũng như lắng nghe các bài phát biểu được phát trên đài truyền hình quốc gia".

Reuters dẫn lời ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam, cho biết: "Bài học từ chiến dịch Điện Biên Phủ là Việt Nam phải xác định rõ ràng lợi ích quốc gia và theo đuổi những lợi ích này một cách chiến lược".

"Việt Nam đã hệ thống hóa cách tiếp cận này bằng chính sách "ngoại giao cây tre", kiên quyết và kiên định trên các nguyên tắc cơ bản, nhưng linh hoạt trong cách thức và phương tiện để đạt được các mục tiêu chiến lược", ông Thayer nói.

Hãng tin AFP (Pháp) cũng đăng tải bài viết về lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử. AFP đưa tin Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Sebastien Lecornu đã tham dự sự kiện.

AFP điểm lại các dấu mốc quan trọng, cũng như các sự kiện lịch sử, đồng thời mô tả bầu không khí tại lễ kỷ niệm.

"Những con đường rợp bóng cây ở Điện Biên Phủ được trang hoàng bằng các khẩu hiệu và biểu ngữ mang hình ảnh anh hùng đấu tranh giành độc lập Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ", theo AFP.

Ông Jean-Yves Guinard, 92 tuổi, một trong ba cựu binh Pháp trở lại Điện Biên Phủ dự lễ kỷ niệm, nói với AFP rằng ông "vẫn rất gắn bó" với Việt Nam. AFP đưa tin cả 3 cựu binh Pháp đã đến thăm Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và được người dân địa phương cũng như du khách chào đón.

AFP cũng dẫn lời quân nhân Ha Thi Duong chia sẻ: "Quá khứ đã qua rồi. Chúng tôi không còn nghĩ đến xung đột hay hận thù. Bắt tay là điều tốt vì tất cả chúng tôi đều muốn thêm bạn bớt thù".

Trong bài viết có tựa đề "Việt Nam kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp", hãng tin AP đưa tin hàng nghìn người dân địa phương và cựu chiến binh với huân chương treo đầy trên ngực áo, hầu hết đều ở độ tuổi 90, đã cổ vũ và vẫy cờ Việt Nam khi lễ diễu binh diễn ra dưới cơn mưa.

AP dẫn lời ông Nguyen Trung Dung, 94 tuổi, một trong những cựu chiến binh, cho biết sự kiện này là cơ hội để ông có dịp gặp lại đồng đội, những người đã sát cánh cùng ông trong trận Điện Biên Phủ.

Theo AP, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Sebastian Lecornu tham dự sự kiện, đánh dấu lần đầu tiên một quan chức cấp cao của Pháp đến thăm chiến trường xưa và dự lễ kỷ niệm ở Điện Biên Phủ.

AP cho biết, thời gian trôi qua, mối quan hệ giữa Việt Nam và Pháp cũng ngày càng phát triển.

"Khi chúng tôi chiến đấu, chúng tôi là kẻ thù. Nhưng bây giờ, chúng tôi bắt tay với họ. Chúng tôi cùng nhau đoàn kết xây dựng một thế giới hòa bình, hạnh phúc, không có chiến tranh", ông Pham Duc Cu, cựu chiến binh 94 tuổi từng chỉ huy một đại đội pháo binh trong trận chiến, cho biết./.

MẤU CHỐT THÀNH CÔNG

 Trong bài viết quan trọng nhân dịp kỷ niệm 94 năm thành lập Đảng (3-2-1930 - 3-2-2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ nhiều quan điểm lí luận mang tầm chiến lược về phát triển đất nước, trong đó nhấn mạnh: “Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế”. Nghị quyết 42-NQ/TW ngày 24-11-2023 Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới khẳng định: thực hiện tốt chính sách xã hội là “thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm chính sách xã hội”. Những quan điểm trên đây thống nhất với đường lối cách mạng của Đảng ta từ khi ra đời và là một mấu chốt tạo nên thành công của cách mạng Việt Nam thời kỳ đấu tranh giành và bảo vệ chính quyền (1930-1946).

Từ khi ra đời, Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng đã chỉ rõ đường lối đấu tranh chống chế độ thực dân, phong kiến: về kinh tế, tịch thu ruộng đất của tư bản Pháp và đại địa chủ để làm của công chia cho dân cày nghèo, bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang phát triển công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ. Hai khẩu hiệu ''Độc lập dân tộc'' và ''Ruộng đất dân cày'' được thể hiện rõ nét nhất trong cao trào cách mạng 1930-1931. Như vậy, ngay từ đầu, đường lối của Đảng đã nhấn mạnh đấu tranh thực hiện một chính sách xã hội tiến bộ, vì quyền lợi của đại đa số người lao động, vì đời sống giai cấp cần lao. Đó chính là một điểm mấu chốt thuyết phục, tập hợp quần chúng theo Đảng, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Trong cao trào cách mạng 1936-1939, đường lối của Đảng tiếp tục với khẩu hiệu "Chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do dân chủ, cơm áo và hòa bình". Đặc biệt, cao trào cách mạng 1939-1945, chủ trương tịch thu ruộng đất của thực dân đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng vẫn tiếp tục được thực hiện.

PHÊ VÀ TỰ PHÊ

 Xưa nay, ông cha ta thường răn dạy, phải biết “mang ơn, ghi nhớ” khi được quan tâm, giúp đỡ và rằng phải dám “nhận sai, sửa đổi” khi phạm lỗi lầm, khuyết điểm. Nhiều vị vua anh minh trong lịch sử cũng tự hạ mình nhận lỗi khi có sai lầm, thiếu sót trong chính sự; Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn “nhận sai lầm”, “khuyết điểm” và quyết tâm sửa sai trước Quốc hội và nhân dân về một số thiếu sót trong cải cách ruộng đất, thể hiện sự khiêm tốn, “chí công vô tư”, bản lĩnh của người cộng sản chân chính. Biết nhận sai chính là “tự phê bình và phê bình”, đồng thời, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn sự trong sạch, niềm tin cho cơ quan, tổ chức, là nét ứng xử văn hóa tốt đẹp trong truyền thống dân tộc.


Tiếc rằng, hiện nay, nhiều người vì danh, lợi mà sẵn sàng “phủi sạch” trách nhiệm, dù sai sót, hậu quả đã rành rành. Khi thiếu liêm sỉ, danh dự, người ta dễ “thờ ơ, vô cảm” trước chính những lỗi lầm của bản thân. Một số cán bộ, đảng viên không những có thói quen giấu giếm, chối bỏ, phủ nhận sai phạm, khuyết điểm, mà khi bị “lộ”, lại còn thiếu thành khẩn, thậm chí sẵn sàng đổ lỗi cho người khác. Chưa hết, nhiều người còn cậy thế, thách thức tổ chức, dư luận, gây mất đoàn kết, bất ổn trong nội bộ, cơ quan, đơn vị.

Ấy vậy là, nét văn hóa “nhận sai” tốt đẹp đó dường như nay vẫn là “của hiếm”!

Nguyên nhân là từ đâu? Trong một số cơ quan, đơn vị, cấp dưới thường có thái độ e dè, ngại va chạm với cấp trên, nhiều khi thấy lãnh đạo làm sai cũng không dám can ngăn, sợ bị hiểu lầm là “chống đối”, nên “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”(1), sợ ảnh hưởng tới lợi ích bản thân. Một số người khi ở cương vị lãnh đạo, quản lý, mỗi khi ra quyết định thường có xu hướng cho rằng, ý kiến của mình là nhất, từ đó, áp đặt mọi người phải làm theo ý mình, không chịu lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác. Kể cả khi biết sai, họ cũng không dám nhận sai, vì lo sợ trách nhiệm hay sợ bị đánh giá yếu kém.

“Nhân vô thập toàn”, con người ta không ai hoàn hảo, không có khiếm khuyết, sai lầm. Điều quan trọng là thái độ ứng xử của bản thân trước những những khuyết điểm, sai lầm ấy, biết thực tâm nhận lỗi, sửa sai đúng hoàn cảnh, đúng thời điểm.

Để có được đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ, có lẽ trong mỗi người cán bộ, đảng viên không thể thiếu được một phẩm chất, đó là “dám nhận sai”. Nhận sai để mạnh mẽ đứng lên làm cho đúng! Khi đó dân mới tin và tổ chức đảng, chính quyền mới thêm mạnh, thêm vững./.

KHÔNG THỂ NGỤY SỬ VÀ LẬT SỬ

 Từ đầu năm 2023 đến nay, lợi dụng những khó khăn do tình hình thế giới diễn biến phức tạp, một số địa phương tăng trưởng kinh tế chậm lại, người lao động thiếu việc làm, các thế lực thù địch đã viết bài, đưa thông tin, hình ảnh... lên mạng xã hội, trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách an sinh xã hội, ưu đãi đối với người có công. Chúng “phân tích” rằng kinh tế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho TB-LS, người có công. Mục đích là nhằm kích động, xuyên tạc chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, hủy hoại truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.


Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số ý kiến của những người tự xưng là “người yêu nước chân chính” kêu gọi cần phải “đối xử công bằng” với những người được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa”. Họ cho rằng “Quân lực Việt Nam cộng hòa” cũng “có công bảo vệ Tổ quốc”, vì thế cần phải “tôn vinh những người đã hy sinh vì Tổ quốc”. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết rằng chính thể “Việt Nam cộng hòa” năm 1955 mới ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía Nam của Việt Nam, đóng vai trò như một thực thể chính trị của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phục vụ lợi ích riêng của họ.  

Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945, sau cuộc Cách mạng Tháng Tám. Ngay trong năm 1946, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc với sự tham gia của đông đảo đồng bào và đã có bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua. Hai sự kiện này đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước dân chủ mới khai sinh. Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ban hành những sắc lệnh, những văn bản pháp lý đầu tiên khẳng định nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam.

Không những vậy, sau năm 1954, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa dù đang trên thế thắng về mặt quân sự (với trận Điện Biên Phủ lừng lẫy) vẫn chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử sòng phẳng trên tinh thần hòa hợp để thống nhất đất nước đang tạm thời bị chia cắt. Tuy nhiên, cả phía Mỹ và cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” đều kiên quyết từ chối thiện chí đó. Theo Hiệp định Geneva, Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt làm hai miền, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời và không phải là biên giới quốc gia. Theo hiệp định này, hai bên sẽ tiến hành hiệp thương để thống nhất đất nước trong năm 1956. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm-do CIA (Mỹ) “tìm thấy” và đưa về Việt Nam làm “Thủ tướng” của chính phủ bù nhìn Bảo Đại-đã tuyên bố: “Không có tổng tuyển cử gì hết”, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc.

ý nghĩa của bốn chữ “chí công vô tư”

 Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý “...trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư” cho nên mới mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.

Theo Người, những căn bệnh nguy hại sinh ra từ “chủ nghĩa cá nhân” là: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, kéo bè kéo cánh, hẹp hòi... Để chữa trị những căn bệnh này cần phải: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”. 
Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải luôn tự ý thức về vai trò tiên phong, gương mẫu.
Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Để làm tốt điều đó, Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”.
Cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu bởi đây là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì thế “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, dẫn dắt quần chúng trong mọi phong trào cách mạng. 
Không chỉ trong công việc, mà trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên không những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà cũng phải là tấm gương để gia đình, người thân và quần chúng noi theo./.

HOÀNG SA: LÀ NÚM RUỘT, LÀ MỘT PHẦN MÁU THỊT, LÀ CHỦ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM CỦA VIỆT NAM

 Quần đảo Hoàng Sa với hơn 30 đảo san hô, cồn cát và bãi ngầm tại biển Đông, vị trí từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc và từ 111°00′ đến 113°00′ Đông, có bốn điểm cực bắc-nam-tây-đông lần lượt tại đá Bắc, bãi Ốc Tai Voi, đảo Tri Tôn và bãi Gò Nổi. Độ dài đường bờ biển đạt 518 km. Điểm cao nhất của quần đảo là một vị trí trên đảo Đá với cao độ 14 m (hoặc 15,2 m).


Khoảng cách với đất liền: Hoàng Sa nằm gần Việt Nam nhất : từ Tri Tôn tới đảo Lý Sơn là 123 hải lý. Nếu lấy toạ độ của cù lao Ré (tên cũ của Lý Sơn) là 15°23,1’B 109° 09,0’Đ từ đường cơ sở của nước ta (12/11/1982) thì khoảng cách đến bờ Lý Sơn ngắn dưới 121 hải lí. Ngoài ra, từ đảo Tri Tôn đến mũi Ba Làng An (đất liền Việt Nam) là 135 hải lí. 
    
Trong khi đó, khoảng cách Hoàng Sa đến Lăng Thuỷ giác thuộc Hải Nam của TQ là 140 hải lí; từ Hoàng Sa tới đất liền TQ tối thiểu là 235 hải lí.  TQ lại lấy đá-bãi ngầm (Đá Bắc)để đo đến Lăng Thuỷ giác- Hải Nam Để có khoảng cách là 112 hải lí, nhưng bãi  ngầm thì không có giá trị (phải là đảo mới được tính) định ranh giới kiểu thất sách như vậy mà vẫn cứ luôn hùng hồn(?)

Hoàng Sa là ngư trường truyền thống bao đời của ngư dân Việt do nằm giữa khu vực có tiềm năng về hải sản nhưng lại không có dân bản địa sinh sống.  

Vào 1932, Pháp đang chiếm Đông Dương & chiếm giữ luôn quần đảo này;  rồi Việt Nam giữ tiếp chủ quyền đến 1974 (trừ Phú Lâm và Linh Côn TQ  đã chiếm từ 1956). 
    
Lợi dụng việc mất cảnh giác TQ chiếm  toàn bộ Hoàng Sa từ 1974 sau khi huy động quân-lính tấn công căn cứ của VNCH ở nhóm đảo phía tây trong "hải chiến Hoàng Sa 1974". Đài Loan cũng lên tiếng  tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này khi TQ chiếm.

Tháng 1/1982, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố sách trắng Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam, trong đó nêu nhiều  chứng lý  để  minh  định Hoàng Sa là của Việt Nam. Còn  rất nhiều bằng chứng độc lập, khách quan khác cho thấy Hoàng Sa là của Việt Nam.

Chủ quyền buộc phải dựa vào: điều kiện địa lý, dân cư, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và đặc biệt: phải trong phạm vi lãnh thổ được xác lập hợp pháp, phù hợp nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ theo luật pháp và thông lệ quốc tế hiện hành. Một nội dung pháp lý cực quan trọng: một yếu tố luôn có khi chứng minh quá trình xác lập và thực thi chủ quyền quốc gia với tư cách nhà nước trong phạm vi lãnh thổ của mình, nhất là trong tình trạng tranh chấp..
     
Việt Nam có đủ các chứng cứ quan trọng chứng minh quần đảo Hoàng sa-Trường sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và đã được Việt Nam gửi công hàm lưu chiểu vĩnh viễn tại Liên Hiệp Quốc, khẳng định: Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền với 2 quần đảo này từ khi chúng còn vô chủ, chí ít là từ thế kỷ thứ XVII. Việt Nam chiếm hữu và thực thi chủ quyền hai quần đảo này là liên tục, hòa bình, phù hợp với nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ hiện hành - nguyên tắc chiếm hữu thật sự - của công pháp quốc tế.

KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG GIỮA NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI KẺ PHẢN BỘI

Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo các gia đình thương binh, liệt sĩ (TB-LS), người có công và đẩy mạnh Phong trào "Ðền ơn đáp nghĩa". Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động đã tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc chính sách này. Nguy hiểm hơn, chúng đã đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người phản bội Tổ quốc.


Cách đây 76 năm, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL đặt ra “chế độ hưu bổng, thương tật, tiền tuất cho thân nhân, tử sĩ”. Để chỉ đạo công tác thương binh, tử sĩ trong cả nước, ngày 26-2-1947, Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục, Quân đội quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập. Tháng 7-1947, thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị được tổ chức tại xã Hùng Sơn (nay là thị trấn Hùng Sơn), huyện Đại Từ (Thái Nguyên) về công tác TB-LS đã chọn ngày 27-7 làm Ngày Thương binh. Đến năm 1955, Ngày Thương binh đổi thành Ngày TB-LS.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác TB-LS và người có công với cách mạng. Từ năm 1947 đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được chế định thành các văn bản quy phạm pháp luật cùng nhiều chính sách ưu đãi khác; đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân.

Ngày TB-LS (27-7) có ý nghĩa quan trọng với toàn dân Việt Nam, đó là ngày thể hiện truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những chiến sĩ đã hy sinh vì nền độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Ngày 27-7 cũng là ngày phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Vậy mà, thay vì đồng lòng ủng hộ các hoạt động thể hiện đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vào dịp kỷ niệm Ngày TB-LS hằng năm vẫn có tiếng nói xuyên tạc về chính sách với TB-LS và người có công. Thâm độc hơn, chúng còn đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người chết trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm làm tay sai cho thực dân, đế quốc, phản bội Tổ quốc.

Từ đầu năm 2023 đến nay, lợi dụng những khó khăn do tình hình thế giới diễn biến phức tạp, một số địa phương tăng trưởng kinh tế chậm lại, người lao động thiếu việc làm, các thế lực thù địch đã viết bài, đưa thông tin, hình ảnh... lên mạng xã hội, trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách an sinh xã hội, ưu đãi đối với người có công. Chúng “phân tích” rằng kinh tế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho TB-LS, người có công. Mục đích là nhằm kích động, xuyên tạc chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, hủy hoại truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số ý kiến của những người tự xưng là “người yêu nước chân chính” kêu gọi cần phải “đối xử công bằng” với những người được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa”. Họ cho rằng “Quân lực Việt Nam cộng hòa” cũng “có công bảo vệ Tổ quốc”, vì thế cần phải “tôn vinh những người đã hy sinh vì Tổ quốc”. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết rằng chính thể “Việt Nam cộng hòa” năm 1955 mới ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía Nam của Việt Nam, đóng vai trò như một thực thể chính trị của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phục vụ lợi ích riêng của họ.  

Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945, sau cuộc Cách mạng Tháng Tám. Ngay trong năm 1946, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc với sự tham gia của đông đảo đồng bào và đã có bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua. Hai sự kiện này đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước dân chủ mới khai sinh. Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ban hành những sắc lệnh, những văn bản pháp lý đầu tiên khẳng định nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam.

Không những vậy, sau năm 1954, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa dù đang trên thế thắng về mặt quân sự (với trận Điện Biên Phủ lừng lẫy) vẫn chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử sòng phẳng trên tinh thần hòa hợp để thống nhất đất nước đang tạm thời bị chia cắt. Tuy nhiên, cả phía Mỹ và cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” đều kiên quyết từ chối thiện chí đó. Theo Hiệp định Geneva, Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt làm hai miền, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời và không phải là biên giới quốc gia. Theo hiệp định này, hai bên sẽ tiến hành hiệp thương để thống nhất đất nước trong năm 1956. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm-do CIA (Mỹ) “tìm thấy” và đưa về Việt Nam làm “Thủ tướng” của chính phủ bù nhìn Bảo Đại-đã tuyên bố: “Không có tổng tuyển cử gì hết”, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc.

Thực tế lúc đó, Mỹ và phe cánh của Ngô Đình Diệm lo sợ uy tín to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận và Đảng Lao động Việt Nam. Chúng tin rằng nếu tiến hành bầu cử tự do, chắc chắn Đảng Lao động Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ thắng lớn. Do vậy, Ngô Đình Diệm với sự giúp đỡ của người Mỹ đã phải sử dụng nhiều thủ đoạn để củng cố quyền lực của mình. Ngô Đình Diệm đã áp dụng nhiều chiêu thức man rợ để tàn sát những người kháng chiến và người yêu nước chân chính, khủng bố tinh thần nhân dân, củng cố chính quyền phản động của mình, công khai phá hoại Hiệp định Geneva, mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước.

Chính thể “Việt Nam cộng hòa” là phi pháp nên các công cụ bạo lực của nó cũng chỉ là lực lượng phản dân, hại nước, làm tay sai cho các thế lực ngoại bang. Quân đội của chính thể “Việt Nam cộng hòa” được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa” thường khoe là “chiến đấu cho tự do”, thế nhưng thực chất, họ đã tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ để làm hại chính đồng bào mình. Với bản chất đánh thuê (và cả chết thuê nữa), “Quân lực Việt Nam cộng hòa” hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, thiếu lý tưởng, không thể đại diện cho dân tộc Việt Nam và cũng không thể kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc. Đến khi Mỹ rút viện trợ và ngưng yểm trợ thì quân đội này (cùng với chính thể “Việt Nam cộng hòa”) đã suy sụp nhanh chóng...

Với quan điểm nhân đạo và hòa bình, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đã có những chính sách tri ân đối với TB-LS và người có công, đối xử nhân đạo với tù hàng binh, thương xót những người lính Pháp, lính Mỹ tử vong trên lãnh thổ Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh. Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2011, tập 4, tr.510).

Trong nhiều năm qua, chúng ta đã giúp người Mỹ tìm kiếm và kiểm kê quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam. Mới đây, lễ hồi hương hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA) lần thứ 160 đã diễn ra tại sân bay quốc tế Đà Nẵng. Rất nhiều người đã từng phục vụ trong “Quân lực Việt Nam cộng hòa” trước kia nay trở thành những nhà khoa học, doanh nhân tiêu biểu của Việt Nam. Nếu những gia đình này gặp khó khăn, họ đều được hưởng chính sách an sinh xã hội, không hề có sự phân biệt đối xử. Thế nhưng không thể và không bao giờ được đánh đồng sự hy sinh, cống hiến vì cách mạng của đồng bào, chiến sĩ với những người làm tay sai cho ngoại bang.

Xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công là thủ đoạn thể hiện tính chất, bản chất vô ơn bạc nghĩa của những kẻ phản động, thù địch. Họ xuyên tạc nhằm phục vụ mục tiêu chống phá, hòng tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là tội ác mới, cần phải bị vạch trần và lên án.

76 năm qua kể từ năm 1947, vào mỗi dịp 27-7, nhiều hoạt động tri ân và tôn vinh các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, những người có công với cách mạng đã diễn ra trên khắp mọi miền Tổ quốc. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công là vinh dự, đồng thời là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị-xã hội và của quần chúng nhân dân; của thế hệ hôm nay và cả mai sau. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn trân trọng những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc. Không thể xuyên tạc được chính sách đối với người có công hợp lý, hợp tình, hợp pháp và hợp lòng dân của chúng ta.

NĂNG LỰC “NHẬN SAI”

Xưa nay, ông cha ta thường răn dạy, phải biết “mang ơn, ghi nhớ” khi được quan tâm, giúp đỡ và rằng phải dám “nhận sai, sửa đổi” khi phạm lỗi lầm, khuyết điểm. Nhiều vị vua anh minh trong lịch sử cũng tự hạ mình nhận lỗi khi có sai lầm, thiếu sót trong chính sự; Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn “nhận sai lầm”, “khuyết điểm” và quyết tâm sửa sai trước Quốc hội và nhân dân về một số thiếu sót trong cải cách ruộng đất, thể hiện sự khiêm tốn, “chí công vô tư”, bản lĩnh của người cộng sản chân chính. Biết nhận sai chính là “tự phê bình và phê bình”, đồng thời, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn sự trong sạch, niềm tin cho cơ quan, tổ chức, là nét ứng xử văn hóa tốt đẹp trong truyền thống dân tộc.


Tiếc rằng, hiện nay, nhiều người vì danh, lợi mà sẵn sàng “phủi sạch” trách nhiệm, dù sai sót, hậu quả đã rành rành. Khi thiếu liêm sỉ, danh dự, người ta dễ “thờ ơ, vô cảm” trước chính những lỗi lầm của bản thân. Một số cán bộ, đảng viên không những có thói quen giấu giếm, chối bỏ, phủ nhận sai phạm, khuyết điểm, mà khi bị “lộ”, lại còn thiếu thành khẩn, thậm chí sẵn sàng đổ lỗi cho người khác. Chưa hết, nhiều người còn cậy thế, thách thức tổ chức, dư luận, gây mất đoàn kết, bất ổn trong nội bộ, cơ quan, đơn vị.

Ấy vậy là, nét văn hóa “nhận sai” tốt đẹp đó dường như nay vẫn là “của hiếm”!

Nguyên nhân là từ đâu? Trong một số cơ quan, đơn vị, cấp dưới thường có thái độ e dè, ngại va chạm với cấp trên, nhiều khi thấy lãnh đạo làm sai cũng không dám can ngăn, sợ bị hiểu lầm là “chống đối”, nên “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”(1), sợ ảnh hưởng tới lợi ích bản thân. Một số người khi ở cương vị lãnh đạo, quản lý, mỗi khi ra quyết định thường có xu hướng cho rằng, ý kiến của mình là nhất, từ đó, áp đặt mọi người phải làm theo ý mình, không chịu lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác. Kể cả khi biết sai, họ cũng không dám nhận sai, vì lo sợ trách nhiệm hay sợ bị đánh giá yếu kém.

“Nhân vô thập toàn”, con người ta không ai hoàn hảo, không có khiếm khuyết, sai lầm. Điều quan trọng là thái độ ứng xử của bản thân trước những những khuyết điểm, sai lầm ấy, biết thực tâm nhận lỗi, sửa sai đúng hoàn cảnh, đúng thời điểm.

Để có được đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ, có lẽ trong mỗi người cán bộ, đảng viên không thể thiếu được một phẩm chất, đó là “dám nhận sai”. Nhận sai để mạnh mẽ đứng lên làm cho đúng! Khi đó dân mới tin và tổ chức đảng, chính quyền mới thêm mạnh, thêm vững./.

KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH

 Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. 

Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên.
Thứ nhất, luôn xác định rõ công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, quan trọng hàng đầu; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là trọng yếu.
Các cấp ủy đảng phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng mạnh trên tất cả các mặt: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, sát thực tiễn; chủ động đi sâu, đi sát cơ sở để nắm bắt tình hình địa phương, đơn vị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. 
Nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng là việc tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng. Nội dung này phải được tiến hành nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; chú trọng sơ kết, tổng kết thực tiễn, phải gắn việc học tập với hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.
Chú trọng việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Triển khai các giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng, giữ gìn mối đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình... Coi trọng công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên cả về số lượng và chất lượng.
Cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để bố trí phù hợp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; không quan liêu, tham nhũng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm. 
Trong công tác bố trí, sử dụng cán bộ, phải cân nhắc kỹ việc lựa chọn, sắp xếp bố trí; căn cứ vào năng lực, sở trường công tác của cán bộ để giao việc phù hợp; giao việc, bổ nhiệm những cán bộ trẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực công tác, khả năng phát triển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý; đảm bảo tính liên tục, kế thừa, dân chủ, khách quan trong công tác cán bộ. 
Công tâm, khách quan trong đánh giá cán bộ. Coi trọng đánh giá về đức và tài, trong đó đạo đức là nền tảng, là “cái gốc”; đánh giá đúng trình độ, năng lực, sở trường; lấy tiêu chuẩn hiệu quả, chất lượng công việc làm thước đo quan trọng để đánh giá cán bộ.
Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “sửa đổi lối làm việc”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định muốn sửa đổi lối làm việc thì phải thực hiện tốt nhất việc “phê bình và sửa chữa”. “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đứng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng” để mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm “đúng”, làm “khéo”, có như vậy “thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Người lưu ý: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu.
Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”; “...các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý “...trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư” cho nên mới mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.
Theo Người, những căn bệnh nguy hại sinh ra từ “chủ nghĩa cá nhân” là: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, kéo bè kéo cánh, hẹp hòi... Để chữa trị những căn bệnh này cần phải: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”. 
Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải luôn tự ý thức về vai trò tiên phong, gương mẫu.
Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Để làm tốt điều đó, Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”.
Cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu bởi đây là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì thế “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, dẫn dắt quần chúng trong mọi phong trào cách mạng. 
Không chỉ trong công việc, mà trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên không những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà cũng phải là tấm gương để gia đình, người thân và quần chúng noi theo./.

Khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

Gần đây, có nhiều dư luận trong nước và ở nước ngoài đưa ra quan điểm sai trái rằng: “Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm gần 50 năm rồi. Từ đó đến nay Việt Nam chưa gửi bất kỳ kháng nghị, đơn kiện nào lên tòa án công lý quốc tế hoặc tòa án quốc tế. Nếu Việt Nam không có bất kỳ kháng nghị hay đơn kiện nào thì theo luật quốc tế coi như Việt Nam chấp nhận mất Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa vĩnh viễn về tay Trung Quốc…”.Việt Nam có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và hai quần đảo ngoài khơi Biển Ðông là Hoàng Sa và Trường Sa. Ðây là hai quần đảo tiền tiêu của Tổ quốc; là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.


Từ những tư liệu lịch sử trong nước và ở nước ngoài, chúng ta khẳng định rằng: Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhiều tư liệu lịch sử quý giá

Từ nửa đầu thế kỷ 17, Chúa Nguyễn đã tổ chức “đội Hoàng Sa” (lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi) ra quần đảo Hoàng Sa (với khoảng thời gian từ sáu đến tám tháng mỗi năm) để thu lượm hàng hóa trôi dạt trên biển, đánh bắt hải sản quý hiếm; đồng thời, đo vẽ sơ đồ, hải trình, trồng cây và dựng mốc trên quần đảo.

Cũng với nhiệm vụ này, cho đến thế kỷ 19, nhà Nguyễn đã tổ chức thêm “đội Bắc Hải” (lấy người thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận) để tiến ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để thực hiện các hành động chủ quyền tại đây. Theo hiểu biết địa lý lúc bấy giờ, địa danh quần đảo Hoàng Sa liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Ðiều đó chứng tỏ ngay từ thế kỷ 17, Việt Nam đã xác lập, thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi hai quần đảo này còn là lãnh thổ vô chủ và có thể nói là quốc gia duy nhất thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo này một cách hòa bình, liên tục và không gặp phải sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào.

Thực tế này được chứng minh trong nhiều tư liệu, sách cổ, văn bản pháp lý của Nhà nước, bản đồ thể hiện việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được lưu giữ tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới như: Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư của Ðỗ Bá, tự Công Ðạo sưu tập, biên soạn và hoàn thành năm 1686; Phủ biên tạp lục của Lê Quý Ðôn (1776); Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821); Hoàng Việt địa dư chí (1833); Ðại Nam thực lục tiền biên (1844-1848); Ðại Nam thực lục chính biên (1844-1848), Việt sử cương giám khảo lược (1876), Ðại Nam nhất thống chí (1882); Dư địa chí Khâm định Ðại Nam Hội điển sự lệ (1910); Hải ngoại kỷ sự (năm 1696) của nhà sư Trung Quốc Thích Ðại Sán; Quốc triều chính biên toát yếu (1910), An Nam đại quốc họa đồ của giám mục người Pháp Louis Taberd (1838), Ðại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ chính thức của triều Minh Mạng) (1838)...

Ðặc biệt, bộ Atlas thế giới của Philipe Vandemaelen xuất bản năm 1827, tại Bỉ, trong đó, vẽ và miêu tả rõ quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ của Vương quốc An Nam.Năm 1988, khi Gạc Ma bị xâm chiếm bằng vũ lực, chính quyền Việt Nam đã liên tục ra các văn bản phản đối hành vi bất hợp pháp này. Chúng ta đã ban hành rất nhiều công hàm tại Liên hợp quốc cũng như các tuyên bố liên tục hằng năm để tiếp tục phản đối hành vi xâm phạm trái phép này.

Như vậy, chúng ta đã, đang và sẽ vẫn tiếp tục các hoạt động duy trì chủ quyền của mình với Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu, dù một phần máu thịt ấy đang bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp. Các hoạt động khẳng định và thực thi chủ quyền ấy bao gồm đủ cả yếu tố vật chất, lẫn tinh thần, là hai yếu tố cần và đủ trong Công pháp quốc tế.

Và vì thế, không có chuyện là chủ quyền của chúng ta sẽ bị mất, mà ngược lại, hành động xâm chiếm bất hợp pháp bằng vũ lực thì sẽ mãi mãi không được công nhận chủ quyền cho dù bên xâm chiếm đang kiểm soát phần lãnh thổ đó.

Ðối với việc kiện đòi lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa, theo quy định của luật pháp quốc tế, để giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, tòa án quốc tế bao gồm Tòa Trọng tài thường trực (PCA) và Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) chỉ có thẩm quyền xét xử nếu tất cả các bên đồng thuận trong việc đưa tranh chấp ra tòa án để giải quyết, mà Trung Quốc thì luôn luôn từ chối việc đưa ra tòa án xét xử. Chính vì vậy, việc khởi kiện về chủ quyền chưa thể thực hiện được.

Từ những phân tích trên cho thấy, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; đồng thời, Việt Nam là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu thật sự và quản lý hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình, phù hợp các quy định của luật pháp quốc tế.

 CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TIẾN BỘ - MỘT MẤU CHỐT THÀNH CÔNG TRONG ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG

Trong bài viết quan trọng nhân dịp kỷ niệm 94 năm thành lập Đảng (3-2-1930 - 3-2-2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ nhiều quan điểm lí luận mang tầm chiến lược về phát triển đất nước, trong đó nhấn mạnh: “Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế”. Nghị quyết 42-NQ/TW ngày 24-11-2023 Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới khẳng định: thực hiện tốt chính sách xã hội là “thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm chính sách xã hội”. Những quan điểm trên đây thống nhất với đường lối cách mạng của Đảng ta từ khi ra đời và là một mấu chốt tạo nên thành công của cách mạng Việt Nam thời kỳ đấu tranh giành và bảo vệ chính quyền (1930-1946).
Từ khi ra đời, Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng đã chỉ rõ đường lối đấu tranh chống chế độ thực dân, phong kiến: về kinh tế, tịch thu ruộng đất của tư bản Pháp và đại địa chủ để làm của công chia cho dân cày nghèo, bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang phát triển công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ. Hai khẩu hiệu ''Độc lập dân tộc'' và ''Ruộng đất dân cày'' được thể hiện rõ nét nhất trong cao trào cách mạng 1930-1931. Như vậy, ngay từ đầu, đường lối của Đảng đã nhấn mạnh đấu tranh thực hiện một chính sách xã hội tiến bộ, vì quyền lợi của đại đa số người lao động, vì đời sống giai cấp cần lao. Đó chính là một điểm mấu chốt thuyết phục, tập hợp quần chúng theo Đảng, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Trong cao trào cách mạng 1936-1939, đường lối của Đảng tiếp tục với khẩu hiệu "Chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do dân chủ, cơm áo và hòa bình". Đặc biệt, cao trào cách mạng 1939-1945, chủ trương tịch thu ruộng đất của thực dân đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng vẫn tiếp tục được thực hiện.
Ngay trước Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Cách mạng Tháng Tám, ngày 16, 17-8-1945 Quốc dân Đại hội đã họp tại Đình Tân Trào và thông qua Nghị quyết về Mười chính sách của Việt Minh, trong đó có bảy điều liên quan trực tiếp đến thực hiện chính sách xã hội tiến bộ, gồm: 1) Tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung công làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo. 2) Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ. 3) Ban bố những quyền của dân cho dân: Nhân quyền, tài quyền (quyền sở hữu), dân quyền. 4) Chia lại ruộng công cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân. 5) Ban bố luật lao động; ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm. 6) Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp. Mở quốc gia ngân hàng. 7) Xây dựng nền quốc dân giáo dục; chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp. Kiến thiết nền văn hoá mới. Những chính sách này nhanh chóng được triển khai thực hiện rộng rãi ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, giành chính quyền trong cả nước. Trước tình hình nạn đói hoành hành dữ dội, làm chết hàng triệu người, Đảng đưa ra khẩu hiệu: “Phá kho thóc giải quyết nạn đói”, vận động cứu đói dân nghèo để giải quyết khó khăn trước mắt, đồng thời, để xóa nạn đói bền vững, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Chính phủ và nêu 6 việc cấp bách cần phải làm ngay, trong đó có ba việc thuộc chính sách xã hội: 1) Phát động ngay một chiến dịch tăng gia sản xuất để chống đói, mở một cuộc lạc quyên để giúp đỡ người nghèo. 2) Phát động phong trào chống nạn mù chữ. 3) Bỏ ngay 3 thứ thuế: thuế thân, thuế chợ và thuế đò, cấm hút thuốc phiện. Đó là những nhiệm vụ trước mắt, nhưng cũng là những nhiệm vụ chiến lược, được nhân dân tuyệt đối tin tưởng, nhiệt liệt hưởng ứng, thu được kết quả rất to lớn trong chống giặc đói, giặc dốt, góp phần giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ vừa thành lập.
Các mục tiêu giành ruộng đất cho dân cày, tăng lương, giảm giờ làm, xóa mù chữ, thực hiện giáo dục phổ thông bắt buộc là những mục tiêu rất tiến bộ, trở thành động lực cách mạng lớn lao của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, phát huy nhân tài trong kháng chiến kiến quốc.
Giai đoạn ngay sau Cách mạng Tháng Tám (1945-1946) mặc dù chính quyền cách mạng non trẻ vừa thành lập, gặp muôn vàn khó khăn, nguy hiểm, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, chủ trương, chính sách xã hội vì đời sống nhân dân vẫn được ban hành, thực hiện. Đường lối của Đảng, chính sách của Mặt trận Việt Minh và các chính sách của Chính phủ lâm thời đã đề ra vẫn được thống nhất thực hiện trong các vùng tự do và ngay trong hoàn cảnh kháng chiến. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên, đời sống của chiến sĩ, nhất là những chiến sĩ bị thương gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Các chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sĩ được Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra kịp thời, góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sĩ. Ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Sắc lệnh số 20/SL "Quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ". Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ, tạo nên động lực lớn cho tinh thần cống hiến, hy sinh của nhân dân, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp sau này.
Trong mọi giai đoạn lãnh đạo giành và bảo vệ chính quyền, đề ra và thực hiện chính sách xã hội tiến bộ vì đời sống người lao động và nhân dân luôn được Đảng coi trọng. Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Chính sách xã hội phải luôn vì con người là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

 TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM LUÔN ĐẶT DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC

Tôn giáo du nhập, hình thành ở Việt Nam từ rất sớm, được người dân đón nhận bởi những giá trị nhân văn mà tôn giáo mang lại phù hợp với đạo lý, văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt. Trải qua chiều dài lịch sử dân tộc, tôn giáo luôn gắn kết chặt chẽ, đồng hành cùng dân tộc, biểu hiện rõ nét nhất là các giá trị đạo đức, văn hóa. Việt Nam đã công bố Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, minh bạch hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và thành tựu bảo đảm quyền tự do tôn giáo ở nước ta trong thời gian qua. Như vậy, khẳng định rằng, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam và được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật. Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “(1). Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; (2). Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; (3). Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cùng với Hiến pháp năm 2013, việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân.
Thế nhưng, gần đây nhất, trên trang Doithoainoline.com Phạm Trần có bài viết “Có tự do tôn giáo ở Việt Nam không?”.... Họ tự cho mình quyền được khuyến khích, cổ vũ các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa, gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, gây bức xúc trong xã hội và nhân dân. Họ xuyên tạc rằng “cả Hiến pháp và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều có những quy định nhằm hạn chế quyền tự do tôn giáo”. Họ cho rằng “Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam bao gồm: các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo” không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”. Họ lợi dụng triệt để quan điểm “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” để cho rằng “tự do tôn giáo của Việt Nam chỉ là hình thức”.. Họ dựa vào việc các tổ chức đội lốt tôn giáo, có những hoạt động vi phạm pháp luật, như: tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình (Tây Bắc), Hà Mòn (Tây Nguyên), tịnh thất Bồng Lai (Long An),… bị chính quyền xử lý để vu khống Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo, cấm đoán tôn giáo, đàn áp tôn giáo”, v.v.
Sau gần 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới, công tác tôn giáo ở Việt Nam ngày càng tốt hơn. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị khoá VI về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” và Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo đã có những bước đổi mới có tính đột phá, thừa nhận “tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân; đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” và “tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội”. Đây là những vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện một cách rõ ràng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không chỉ khẳng định sự “tồn tại lâu dài” của tôn giáo, mà còn phát triển lên mức cao hơn, làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Với quan điểm đó, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng vừa quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh việc chống lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Hòa trong dòng chảy lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam, với sức mạnh được hun đúc từ mạch nguồn văn hóa: lòng yêu nước nồng nàn, ý thức độc lập dân tộc, tự chủ, tự cường, đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “thương người như thể thương thân”, các tôn giáo ở Việt Nam đều có đóng góp nhất định trong những mức độ khác nhau vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không chỉ đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, tôn giáo còn là một bộ phận cấu thành của văn hoá Việt Nam. Những giá trị văn hóa tốt đẹp, tiến bộ của tôn giáo đã góp phần tạo nên sự phong phú, đặc sắc của nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Bằng những giáo lý nhân văn, bác ái của mình, các tôn giáo ở Việt Nam đã phát huy, lan toả các giá trị văn hóa, đạo đức nhân văn, bác ái ấy vào đời sống xã hội, góp phần tạo nên những chuẩn mực đạo đức, văn hóa, ứng xử nhân văn, nhân ái của dân tộc ta, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước, cụ thể hóa thành những hành động thiết thực, cứu người, giúp đời, chung tay cùng đồng bào tôn giáo và đồng bào không có tôn giáo xây dựng đất nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đoàn kết dân tộc, đồng lòng đồng sức của toàn thể nhân dân Việt Nam, kiều bào ở nước ngoài, chúng ta tin tưởng rằng, sự tương đồng trong mục tiêu phấn đấu vì con người, vì sự phồn vinh của đất nước, tín đồ các tôn giáo, trước hết là con dân Việt, công dân Việt, sẽ sống “tốt đời, đẹp đạo”, mãi tiếp bước trên con đường “đồng hành với dân tộc”, vượt lên mọi thách thức và đập tan mọi âm mưu đen tối của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam. Đưa đất nước vững bước đi lên, thực hiện thắng lợi mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

 KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Gần đây, trên nhiều diễn đàn phản động phát tán bài viết: “Khi dân chủ hoá trở thành một lựa chọn của thực tế” của Viễn Dương, bài viết cho rằng: “Đảng Cộng sản thất bại hoàn toàn trong lý luận thực tiễn”… viện dẫn hết sức phiến diện, bôi đen thực tiễn sống động nhiều thành tựu phát triển của đất nước hiện nay khi cho rằng “mù quáng tin vào một niềm tin rằng chế độ cộng sản sẽ tồn tại”,... từ những quy chụp này, chúng truyền bá tư tưởng chính trị đối lập nhằm lồng ghép vào đó các quan điểm sai trái, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đất nước. Đây là luận điệu phi lý, phiến diện, thiếu khách quan cần đấu tranh, bác bỏ.
Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Từ khi thành lập đến nay, suốt hơn 94 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để đạt được những thành quả cách mạng to lớn. Đó là giành lại độc lập dân tộc, kết thúc gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp, thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong gần 40 năm đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn “có ý nghĩa lịch sử”. Thực tế đã cho thấy, Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; mọi mặt đời sống của nhân dân được cải thiện. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố. Chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững. Vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đây là một sự thật lịch sử đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam tôn vinh, hoàn toàn không giống như những luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch: “Đảng Cộng sản thất bại hoàn toàn trong lý luận thực tiễn”. Những thành tựu đó cũng ngày càng khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Tại lễ Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2020) Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Thứ hai, Đảng luôn có thái độ khách quan, công tâm khi nhìn nhận những khuyết điểm, thiếu sót trong quá trình lãnh đạo đất nước. Nhìn nhận lại những chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua, có thể nhận thấy tinh thần nghiêm túc trong tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách mạng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc. Do đó, cần có thái độ khách quan, công tâm khi xem xét những sai lầm, khuyết điểm của Đảng. Cần tránh cả hai xu hướng xem nhẹ, bỏ qua những khiếm khuyết hoặc tuyệt đối hóa, thổi phồng những khuyết điểm bởi cả hai xu hướng này hoặc là dẫn đến thái độ chủ quan, lơ là; hoặc dẫn đến thái độ cực đoan, bất mãn. Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong thời gian qua là một bài học đắt giá cho công tác xây dựng Đảng, nhưng không vì thế mà đánh đồng với đóng góp của biết bao thế hệ đảng viên với sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Thứ ba, tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lòng dân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là sự kế thừa các bản Hiến pháp trước đó như. Hiến pháp năm 1980, năm 1992 đồng thời thể hiện ý chí, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn hợp hiến và hợp pháp. Hơn nữa, chính nhân dân Việt Nam đã tin tưởng lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất sự nghiệp cách mạng trong suốt thời gian qua. Mối quan hệ của Đảng với Nhân dân là mối quan hệ máu thịt bởi Đảng vì Nhân dân là phấn đấu, tôi luyện, trưởng thành, lấy hạnh phúc cho Nhân dân là mục tiêu phấn đấu; ngược lại, Nhân dân cũng luôn vững tin theo Đảng, cùng chung tay giúp sức xây dựng và chỉnh đốn Đảng, sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, luận điệu phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch là hoàn toàn trái với nguyện vọng, sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân Việt Nam. Mọi công dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác, không mắc mưu kẻ địch phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và trên xã hội./.