Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

17. Xây dựng và phát triển văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam

 

17.  Xây dựng và phát triển văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam

 

Nghiên cứu văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam là một vấn đề mới, cấp thiết, đòi hỏi phải làm rõ cả về lý luận và thực tiễn. Trong đó, việc khái quát chính xác, luận giải thấu đáo những nhân tố quy định là một trong những nội dung quan trọng, góp phần tìm ra những giải pháp nhằm xây dựng và phát triển văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Những nhân tố quy định văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam

Với tư cách là một bộ phận, một phương diện của văn hóa nói chung, văn hóa chính trị có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh, định hướng mối quan hệ giữa các chủ thể chính trị, giữa con người với tổ chức, cộng đồng xã hội trong đời sống chính trị và đời sống xã hội sao cho phù hợp với những giá trị chân - thiện - mỹ. Sĩ quan trẻ là một bộ phận của đội ngũ sĩ quan quân đội, những người có chức vụ cán bộ cấp phân đội - nguồn cán bộ kế cận cán bộ cao cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ là tổng thể những giá trị, bao gồm tri thức, phẩm chất và năng lực của mỗi cá nhân sĩ quan trẻ trong quá trình tham gia vào hoạt động chính trị.

Ở góc độ khách thể, văn hóa chính trị là một trong những yếu tố tinh thần, góp phần khắc phục những mặt trái, những ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường, hoàn cảnh đến đạo đức, lối sống, đồng thời khơi dậy tính năng động, sáng tạo trong việc vận dụng cơ hội, điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách người cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh, toàn diện trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Do vậy, chăm lo xây dựng, phát triển văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam là vấn đề cấp thiết, xét cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Trong mối liên hệ phổ biến, văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam chịu sự quy định bởi các nhân tố sau:

Một là, đào tạo ở nhà trường và bồi dưỡng ở đơn vị  

Văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ không phải tự nhiên được hình thành, mà đó là kết quả của quá trình đào tạo, bồi dưỡng gắn với chuyên môn. Quá trình đào tạo ở nhà trường và bồi dưỡng ở đơn vị là những giai đoạn sĩ quan trẻ được tiếp nhận, tích lũy, bổ sung, củng cố, nâng cao tri thức, sự hiểu biết, phẩm chất và năng lực hoạt động chính trị. Vì vậy, quá trình đào tạo ở nhà trường và bồi dưỡng ở đơn vị là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu quy định văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ. Thông qua quá trình đào tạo này, hệ thống tri thức, phẩm chất và năng lực hoạt động chính trị của sĩ quan trẻ theo chuẩn giá trị văn hóa chính trị được hình thành và củng cố ngày càng vững chắc. Đồng thời, những nét đặc thù văn hóa chính trị gắn với chuyên môn, nghiệp vụ công tác trong quân đội cũng được định hình và phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu, chức trách, nhiệm vụ được giao.  

Đào tạo ở nhà trường là yếu tố tạo tiền đề hình thành văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ. Đào tạo cán bộ nói chung, sĩ quan trẻ nói riêng là một quá trình sư phạm bao gồm tổng thể các tác động có định hướng, có kế hoạch, chương trình cụ thể và cách thức tổ chức chặt chẽ. Mục đích của quá trình đào tạo là trang bị tri thức, hình thành phẩm chất, kỹ năng nghề nghiệp để người cán bộ có thể hoàn thành chức trách, nhiệm vụ trên từng cương vị công tác sau khi ra trường. Đại đa số sĩ quan trẻ được đào tạo cơ bản ở các học viện và trường sĩ quan quân đội, là nơi trang bị những tri thức khoa học toàn diện, trong đó có tri thức chính trị, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ theo từng quân chủng, binh chủng, tạo cơ sở tiền đề hình thành văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ.

Bồi dưỡng ở đơn vị còn giúp sĩ quan trẻ cập nhật, bổ sung, nâng cao tri thức, phẩm chất và năng lực hoạt động thực tiễn. Đây là quá trình tác động tích cực, chủ động, có mục đích, có kế hoạch và được tổ chức chặt chẽ giữa các chủ thể, nhằm củng cố, bổ sung, phát triển trình độ chuyên môn nghề nghiệp, năng lực thực tiễn, trong đó có văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ. Bồi dưỡng ở đơn vị là giai đoạn tiếp sau giai đoạn đào tạo ở nhà trường, có vai trò rất quan trọng để tiếp tục định hình chính xác và hoàn thiện mô hình văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ phù hợp với thực tiễn, chức trách, nhiệm vụ được giao. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trường huấn luyện đã giúp anh em biết phương hướng, biết nhắm mục đích mà đi...; rồi sau anh em còn phải học nữa, học mãi trong khi đi làm việc”(1).

Bồi dưỡng sĩ quan trẻ là hoạt động diễn ra thường xuyên, được thực hiện mọi lúc, mọi nơi, thông qua các đợt tập huấn, học tập tại chức, trong các hoạt động công tác tại đơn vị. Bồi dưỡng được thực hiện đa dạng, phong phú thông qua việc cấp trên bồi dưỡng cấp dưới, đồng đội bồi dưỡng, học hỏi lẫn nhau, thông qua góp ý, tự phê bình và phê bình..., qua đó, hệ thống tri thức chính trị gắn với chuyên môn nghề nghiệp được sĩ quan trẻ tích lũy toàn diện, mọi lúc, mọi nơi, tạo cơ sở tiền đề hình thành văn hóa chính trị của từng cá nhân. Đồng thời, thông qua các hình thức, phương pháp bồi dưỡng đa dạng ở đơn vị, phẩm chất, năng lực hoạt động chính trị của sĩ quan trẻ thường xuyên được định hướng, uốn nắn, rèn luyện, tạo sự thống nhất giữa nói và làm theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội và quy định của từng đơn vị.

Hai là, hoạt động chính trị thực tiễn

Văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ không chỉ biểu hiện ở tri thức và sự hiểu biết về chính trị, phẩm chất văn hóa chính trị mà quan trọng là ở năng lực hoạt động chính trị thực tiễn, đây là cơ sở hiện thực quy định văn hóa chính trị của của sĩ quan trẻ. Văn hóa chính trị được hình thành, phát triển và có giá trị hiện thực khi nó được thẩm thấu, lan tỏa, thực hành có hiệu quả thông qua hoạt động chính trị thực tiễn. Vì vậy, hoạt động chính trị thực tiễn là nhân tố có tính hiện thực trực tiếp quy định quá trình hình thành văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ.

C. Mác và Ph. Ăng-ghen khẳng định: “Hoạt động sống của họ như thế nào thì họ là như thế ấy”(2), điều đó có nghĩa rằng, phẩm chất, năng lực của con người luôn chịu sự quy định bởi hoạt động thực tiễn. Theo đó, văn hóa chính trị - một trong những phẩm chất quan trọng của sĩ quan trẻ - tất yếu cũng được hình thành thông qua hoạt động chính trị thực tiễn gắn với chức trách, nhiệm vụ ở đơn vị cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sĩ quan trẻ là chủ thể tham gia vào các hoạt động chính trị thực tiễn, gắn với chức trách, nhiệm vụ chính trị được giao về chuyên môn công tác. Theo đó, hoạt động chính trị thực tiễn của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam bao gồm: Hoạt động trực tiếp tổ chức và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, kỷ luật của quân đội; chế độ, nền nếp và quy định của đơn vị; trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, lao động, sản xuất, quản lý đối với quân nhân và đơn vị thuộc quyền.

Hoạt động chính trị thực tiễn của sĩ quan trẻ ở đơn vị là cơ sở, mục đích, tiêu chuẩn để kiểm tra, đánh giá trình độ văn hóa chính trị của họ. Vì vậy, hoạt động chính trị thực tiễn của sĩ quan trẻ càng đa dạng, phong phú, sát với chuyên ngành đào tạo, phù hợp với tâm lý tuổi trẻ thì quá trình hình thành, phát triển văn hóa chính trị của họ càng vững chắc.

Ba là, môi trường văn hóa chính trị ở đơn vị cơ sở

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, con người là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử, nhưng đồng thời cũng là chủ thể của hoàn cảnh lịch sử đó. C. Mác khẳng định: “Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy”(3). Văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ vừa là nhân tố tạo ra môi trường văn hóa chính trị tích cực, lành mạnh, đồng thời cũng chịu sự quy định bởi chính môi trường mà nó góp phần tạo ra. Vì vậy, môi trường văn hóa chính trị là một trong những nhân tố cơ bản quy định kết quả, mô hình văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ.

Môi trường văn hóa chính trị là tổng hòa những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, phản ánh tập trung quan hệ lợi ích, địa vị kinh tế của các giai cấp, dân tộc, tầng lớp trong xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Môi trường văn hóa chính trị ở vị đơn cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng hòa các giá trị văn hóa vật chất, tinh thần do cán bộ, chiến sĩ sáng tạo ra trong lĩnh vực chính trị, góp phần nuôi dưỡng, định hình, nâng cao ý thức, hành vi chính trị của cán bộ, chiến sĩ theo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội và quy định của đơn vị; được tạo thành bởi các thành tố cơ bản, như hệ giá trị chính trị, các quan hệ chính trị, các hoạt động chính trị thực tiễn và các thiết chế chính trị. Các thành tố này có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau hợp thành môi trường văn hóa chính trị thống nhất và thường xuyên tác động đến văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ.

Môi trường văn hóa chính trị ở đơn vị cơ sở là nơi cung cấp, định hướng, hướng dẫn, uốn nắn những chuẩn mực về tri thức, phẩm chất và năng lực hoạt động chính trị của sĩ quan trẻ. Do đó, phát triển văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ trong thực tiễn cần phải xây dựng môi trường văn hóa chính trị ở đơn vị cơ sở một cách tích cực, lành mạnh.

Bốn là, nhân tố chủ quan của sĩ quan trẻ

Văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ được hình thành, phát triển là kết quả của quá trình hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của chủ thể tác động và chủ thể tự giáo dục, rèn luyện, định hình, hoàn thiện của chính bản thân sĩ quan trẻ. Trong đó, chủ thể tác động giữ vai trò quan trọng song sĩ quan trẻ là đối tượng có vai trò trực tiếp quyết định đến kết quả hình thành văn hóa chính trị. Do đó, nhân tố chủ quan của sĩ quan trẻ là nhân tố trực tiếp quy định văn hóa chính trị của họ.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(4). Văn hóa chính trị cũng như các phẩm chất đạo đức, lối sống là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện khoa học của các chủ thể giáo dục và quá trình tự giáo dục, rèn luyện của bản thân mỗi sĩ quan trẻ. Theo đó, nhân tố chủ quan của sĩ quan trẻ càng phát huy cao độ, bền bỉ thì văn hóa chính trị của họ càng được định hình, phát triển vững chắc.  

Nhân tố chủ quan của sĩ quan trẻ là tổng thể các yếu tố tri thức, phẩm chất và năng lực của họ, được huy động, sử dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, chức trách ở đơn vị cơ sở. Tri thức của sĩ quan trẻ là cơ sở, tiền đề trực tiếp hình thành văn hóa chính trị của họ, bao gồm: Hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tri thức khoa học chuyên ngành và liên ngành… Phẩm chất tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kỷ luật... là cơ sở động lực tinh thần to lớn để sĩ quan trẻ tiếp nhận, chuyển hóa và hiện thực hóa tri thức, phẩm chất và năng lực hoạt động chính trị theo chuẩn văn hóa chính trị. Năng lực của sĩ quan trẻ là tổng hòa các khả năng chủ quan đáp ứng yêu cầu trong thực hiện các hoạt động thực tiễn, nhất là yêu cầu, nhiệm vụ trong quản lý, giáo dục, huấn luyện bộ đội. Năng lực của sĩ quan trẻ bao gồm năng lực nhận thức và năng lực thực tiễn, trong đó năng lực nhận thức giúp lĩnh hội sâu rộng tri thức khoa học, nhất là tri thức chính trị, tri thức khoa học quân sự, hậu cần, kỹ thuật, là tiền đề hình thành phẩm chất, năng lực hoạt động chính trị theo chuẩn văn hóa chính trị; năng lực thực tiễn là cơ sở hiện thực quy định quá trình hình thành, phát triển văn hóa chính trị của họ.

Một số giải pháp nhằm phát triển văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Để phát triển văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ hiện nay, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan trẻ  

Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định đến việc phát triển văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ hiện nay. Bởi thông qua đào tạo, bồi dưỡng, hệ thống tri thức, phẩm chất và năng lực hoạt động chính trị của từng sĩ quan trẻ ngày càng được bồi đắp, củng cố và phát triển, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan trẻ cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, định kỳ, với nhiều nội dung, hình thức đa dạng, phong phú. Trước hết, các chủ thể giáo dục cần tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhằm giúp sĩ quan trẻ đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ, cũng như sự biến đổi từ thực tiễn của đất nước và quân đội trong tình hình mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đã lựa chọn đúng cán bộ còn cần phải dạy bảo lý luận cho cán bộ. Chỉ thực hành mà không có lý luận cũng như có một mắt sáng, một mắt mù”(5). Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội, các quy chế, quy định của đơn vị. Nâng cao chất lượng, công tác định hướng nhận thức và hành động cho sĩ quan trẻ, nhằm giữ vững lập trường chính trị, kiên định vào mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới, thành công trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và sự phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thứ hai, xây dựng môi trường văn hóa chính trị ở đơn vị cơ sở

Môi trường văn hóa chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam có vai trò to lớn đối với quá trình hình thành và phát triển văn hóa chính trị của quân nhân nói chung, sĩ quan trẻ nói riêng. Do vậy, việc xây dựng môi trường văn hóa chính trị tốt đẹp, lành mạnh ở đơn vị cơ sở có vai trò rất quan trọng, góp phần tạo động lực, phát huy tính tích cực, chủ động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, phát triển tri thức, nâng cao phẩm chất và năng lực hoạt động chính trị cho sĩ quan trẻ; đồng thời tạo ra bầu không khí dân chủ, cởi mở, gắn bó keo sơn, tình thương yêu đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp trong đơn vị.

Kế thừa, xây dựng hệ giá trị văn hóa chính trị ở đơn vị cơ sở, phát triển thành thang giá trị của sĩ quan trẻ. Kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa chính trị Việt Nam, như lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Phát huy các giá trị truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam: “Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Củng cố, phát triển các quan hệ văn hóa chính trị ở đơn vị cơ sở giữa: lãnh đạo - đối tượng chịu sự lãnh đạo; lãnh đạo - chỉ huy; cấp trên - cấp dưới; cán bộ - cán bộ; chiến sĩ - chiến sĩ..., tạo điều kiện thuận lợi để sĩ quan trẻ tiếp nhận, thẩm thấu và lan tỏa các giá trị, chuẩn mực văn hóa từ các quan hệ văn hóa chính trị đó. Đồng thời, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước; sự tác động của các yếu tố phản giá trị, phản văn hóa xâm nhập vào đơn vị.

Củng cố, nâng cao hiệu quả hệ thống các hình thái, thiết chế hoạt động văn hóa chính trị nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống tổ chức cơ sở đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng ở đơn vị cơ sở nhằm đa dạng hóa các kênh tiếp xúc văn hóa, chuyển tải hệ thống giá trị văn hóa chính trị đến sĩ quan trẻ có tính sáng tạo, phù hợp với thực tiễn hoạt động của họ ở đơn vị cơ sở. Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đề cao sức hấp dẫn văn hóa chính trị từ sự nêu gương của đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy, chủ trì các cơ quan, đơn vị; phát huy vai trò của hệ thống thông tin đại chúng, các hình thức hợp tác, các loại hình nghệ thuật, giao lưu văn hóa...

Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động chính trị thực tiễn của sĩ quan trẻ

Nghị quyết số 769-NQ/QUTW, ngày 21-12-2012, của Quân ủy Trung ương, “Về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”, xác định tầm quan trọng của việc bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đặc biệt là cán bộ đảm nhiệm các chức danh từ cấp chiến thuật, chiến dịch trở lên. Gắn đào tạo cơ bản tại trường với bồi dưỡng tại chức và rèn luyện cán bộ trong thực tiễn. Thông qua thực tiễn để đánh giá, tuyển chọn, tạo nguồn và phát triển tài năng cán bộ. Nâng cao hiệu quả hoạt động chính trị thực tiễn của sĩ quan trẻ, trong đó cần tập trung vào các vấn đề cơ bản: Tạo chuyển biến nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể; chủ động xây dựng kế hoạch, phân cấp tổ chức hoạt động chính trị thực tiễn; đẩy mạnh hoạt động học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học nhằm phát triển tri thức chính trị của sĩ quan trẻ hiện nay. Tổ chức hiệu quả các phong trào thi đua, hội thi, hội thao, diễn tập đưa sĩ quan trẻ vào các tình huống chính trị thực tiễn nhằm bồi dưỡng phẩm chất và năng lực hoạt động chính trị. Coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để củng cố, hoàn thiện các yếu tố cấu thành văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ.

Thứ tư, phát huy tính năng động, tự chủ của sĩ quan trẻ trong tự giáo dục, rèn luyện

Thực hiện giải pháp này chính là quá trình chuyển hóa từ đối tượng chịu sự tác động trở thành chủ thể chủ động tiếp nhận, nhu cầu tự thân của sĩ quan trẻ. Cần nâng cao ý thức tự giáo dục, rèn luyện, tính tự chủ, sáng tạo văn hóa chính trị của sĩ quan trẻ. Quá trình tự học tập, tự giáo dục này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và trong suốt quá trình công tác trong quân đội của đội ngũ sĩ quan các cấp./.

 

16. Giải pháp xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay

 

16. Giải pháp xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay

 

Xây dựng Đảng về đạo đức được Đảng ta ngày càng coi trọng, bởi Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”. Văn hóa chính trị là một biểu hiện cụ thể của đạo đức cách mạng cần được thực hành ngày càng rộng rãi để trở thành nhu cầu nội sinh trong mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

 Qua thực tiễn 90 năm lãnh đạo, Đảng ta luôn xác định, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng nền gốc tinh thần vững chắc của Đảng. Có thể thấy, qua mỗi lần chỉnh đốn, Đảng ta thêm trong sạch, vững mạnh, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng cao; hệ giá trị văn hóa, đạo đức cách mạng được củng cố, bồi đắp.

Văn hóa chính trị là một biểu hiện cụ thể của đạo đức cách mạng cần được thực hành ngày càng rộng rãi để trở thành nhu cầu nội sinh trong mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên (Trong ảnh:  Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng với nhân dân xã Mỹ Tân, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá)_Ảnh: TTXVN

Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng” (năm 1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh 4 chuẩn mực đạo đức cách mạng: 1- “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”. 2- “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng”. 3- “Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. 4- “Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”(1).

Các chuẩn mực đạo đức cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, cho đến nay, vẫn giữ nguyên giá trị, là những tiêu chí, chuẩn mực để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa trong bối cảnh hiện nay.

“Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng” được thể hiện nổi bật nhất là sự trung thành với lý tưởng, với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà toàn Đảng, toàn dân ta đang nỗ lực thực hiện. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên mặt trận tư tưởng. Giữ vững lý tưởng, không dao động trước các âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ, người cách mạng “là phải giữ chủ nghĩa cho vững”. Trong bối cảnh hiện nay, giữ vững lý tưởng của Đảng cần được nhấn mạnh ở cả khía cạnh đấu tranh với những biểu hiện chệch hướng, sai lầm về tư tưởng và tự đấu tranh với các biểu hiện cơ hội chính trị vốn là những mầm mống dẫn đến nguy cơ phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Bản chất của những người cơ hội chính trị là sự thiếu trung thành và sự nhạt phai lý tưởng.

“Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng” không chỉ là làm cho hết công việc, mà cao hơn còn là sự cống hiến tâm huyết, tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao, chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, tôn trọng kỷ luật Đảng gắn liền với tuân thủ pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực thi công vụ. Ý thức giữ gìn kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước có mối liên hệ trực tiếp và chặt chẽ với giữ gìn văn hóa, đạo đức, lối sống. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng hầu hết đều có biểu hiện thiếu trách nhiệm, vi phạm các chuẩn mực đạo đức…

“Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc” là chuẩn mực quan trọng. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ, người cách mạng phải “ít lòng ham muốn về vật chất”; và khẳng định “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(2). Nhìn lại thời gian qua, sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên đều có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa cá nhân. Khi chủ nghĩa cá nhân thắng thế, lợi ích cá nhân làm lóa mắt, lòng tham nổi lên, nhiều cán bộ, đảng viên đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc, kỷ luật của Đảng, đánh mất phẩm giá của bản thân, làm hoen ố và tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức đảng. Chủ nghĩa cá nhân thực sự là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ.

Tuy nhiên, “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình” không có nghĩa là đề cao thái quá chủ nghĩa tập thể, bài trừ lợi ích cá nhân chính đáng, mà cần có sự hài hòa, từ đó động viên, khuyến khích các cá nhân cống hiến tài năng, tâm huyết cho tập thể.

“Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” - học tập lý luận không những để giữ chủ nghĩa cho vững mà còn để vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào thực tiễn công tác của từng cán bộ, đảng viên, phù hợp với từng vị trí công việc cụ thể.

Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức đảng và đảng viên. Tuy nhiên, hiện nay, có tình trạng ngụy tự phê bình và phê bình, khi sự độc đoán, chuyên quyền ở một số cán bộ lãnh đạo, quản lý được núp dưới bóng “tự phê bình và phê bình”. Các buổi sinh hoạt, góp ý tự phê bình, phê bình trở thành cơ hội để người đứng đầu đưa ra ý kiến đánh giá đề cao những người thuộc phe cánh mình, hạ thấp những người không hợp ý; trở thành nơi các cán bộ không ưa nhau “đấu tố nhau”, hạ uy tín của nhau. Rõ ràng, khi động cơ không còn trong sáng nữa thì tự phê bình và phê bình trở thành mảnh đất cho chủ nghĩa cá nhân phát triển. Do đó, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình luôn luôn phải đồng thời giữ được bản chất trong sáng, tính đúng đắn của nguyên tắc này, bảo đảm tự phê bình và phê bình phải thực chất, có cơ chế để ngăn chặn tình trạng lạm dụng, lợi dụng nguyên tắc tự phê bình và phê bình vì mục đích cá nhân. Tự phê bình và phê bình cũng trái ngược với cách ứng xử “dĩ hòa vi quý”, thấy sai không đấu tranh, thấy đúng không bảo vệ, né tránh để “giữ phiếu”. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức được vai trò, trách nhiệm công vụ của mình và phải có bổn phận làm tròn trách nhiệm đó, xóa bỏ tâm lý “giữ thân” vì lợi ích cá nhân…

 Sau khi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng được ban hành, trong đó chỉ rõ 9/27 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống bên cạnh các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, thì việc giáo dục đạo đức người cán bộ, đảng viên đã có căn cứ cụ thể hơn, nhiều ngành, nhiều đơn vị, tổ chức đã xây dựng tiêu chí đạo đức riêng cho cán bộ, đảng viên của ngành, đơn vị. Ý thức xây dựng văn hóa chính trị cũng đã và đang tiếp tục lan tỏa, các quy định hành vi văn hóa chuẩn mực trở thành nội dung không thể thiếu trong các quy định của nhiều cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể.

Để việc thực hành đạo đức cách mạng thực sự là nền tảng “sâu rễ bền gốc”, để đẩy lùi tình trạng suy thoái đạo đức trong cán bộ, đảng viên, thực hành văn hóa chính trị trở thành ý thức hằng ngày trong quá trình thực thi công vụ, cần quan tâm thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, giáo dục đạo đức cách mạng cần tiến hành thường xuyên, trở thành nền tảng cho xây dựng văn hóa chính trị. Xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng văn hóa chính trị phải được thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng và được cụ thể hóa trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Hai là, xây dựng môi trường văn hóa chính trị lành mạnh. Các tổ chức đảng là những hạt nhân chính trị, nơi thể hiện rõ nét, sinh động và trực tiếp nhất hoạt động lãnh đạo của Đảng, nơi mỗi cán bộ, đảng viên sinh hoạt hằng ngày phải là môi trường giàu đạo đức, văn hóa chính trị.

Trong môi trường văn hóa chính trị đó, mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý không ngừng học tập và thực hành đạo đức cách mạng, “đi trước”, làm gương cho quần chúng. Xây dựng đạo đức đảng viên trong bối cảnh hiện nay cần được cụ thể hóa thành những việc làm giản dị hằng ngày, như trách nhiệm với công việc, ứng xử với nhau trong cuộc sống, có văn hóa, lối sống lành mạnh... Mỗi cá nhân thường xuyên tự tiết chế chính mình, tự chiến thắng chủ nghĩa cá nhân vốn luôn thường trực trong mỗi con người; phải thực sự cầu thị, thực hiện tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, khắc phục tình trạng khắt khe với khuyết điểm của người khác, dễ dãi với mình, khi bản thân có khuyết điểm thì đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan mà không soát xét lại, tìm căn nguyên từ chính sự yếu kém, hạn chế của mình mà chỉnh đốn; khắc phục tư tưởng chỉ thiên về đòi quyền lợi, mà lảng tránh nghĩa vụ, trách nhiệm.

Ba là, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động hiệu quả, ứng dụng những phương tiện làm việc hiện đại, đẩy mạnh minh bạch thông tin gắn với trách nhiệm giải trình; xây dựng cơ chế, chế tài mạnh để “không dám tham nhũng”, “không thể tham nhũng”. Nâng cao thu nhập cho đội ngũ cán bộ, đảng viên tương xứng với hiệu quả công việc và xây dựng văn hóa tự trọng để “không muốn tham nhũng” trong thi hành công vụ.

Bốn là, gắn kết chặt chẽ giữa thực hành đạo đức cách mạng với thực hành văn hóa chính trị

Xây dựng Đảng trong các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức được xác định có quan hệ tương hỗ, biện chứng, là cơ sở, tiền đề và hệ quả của nhau, nên cần coi trọng và tiến hành đồng thời, trong đó xây dựng Đảng về đạo đức ngày càng phải được đề cao và gắn chặt với xây dựng và thực hành văn hóa chính trị.

Có thể thấy văn hóa và đạo đức đã thực sự hòa quyện, là hai yếu tố không thể tách rời, luôn được đề cao trong mọi hoạt động của Đảng, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, trong hành vi, ứng xử của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sau Đại hội IX, Đảng đã phát động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh; đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII đã nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, cho thấy Đảng ta hết sức coi trọng và ngày càng đề cao việc phải bổ sung, tăng cường yếu tố văn hóa, đạo đức vào công tác xây dựng Đảng. Xây dựng Đảng về đạo đức chính là xây dựng gốc cho thực hành văn hóa chính trị, xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc của Đảng.

Năm là, xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa văn hóa, đạo đức với pháp luật

Văn hóa, đạo đức và pháp luật là những thành tố tồn tại riêng biệt, nhưng luôn có mối liên hệ chặt chẽ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn rõ và giải quyết hài hòa mối quan hệ này, sự kết hợp “đức trị” và “pháp trị” đã trở thành một nét đặc sắc trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh. Trong tình hình hiện nay, cần gắn kết xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng văn hóa chính trị với pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Sáu là, thực hiện tốt các giải pháp về công tác tổ chức, cán bộ

Đạo đức cách mạng, văn hóa chính trị thể hiện ở tư cách của từng cán bộ, đảng viên và hoạt động của từng tổ chức đảng, do vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất tốt, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, gương mẫu trong sinh hoạt và công tác là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Bên cạnh đó, trên cơ sở tiêu chí chung, các cấp, các ngành cần cụ thể hóa và xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức về văn hóa công vụ riêng cho ngành mình. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước phù hợp với tình hình hiện nay, trong đó có các nội dung, yêu cầu về văn hóa, đạo đức, lối sống đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức… Cần sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm, theo hướng định danh và cụ thể hóa từng việc làm, từng hành động phản văn hóa, phi đạo đức của cán bộ, đảng viên và có chế tài xử lý thích đáng gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng nghiêm minh. Nghiên cứu hoàn chỉnh bộ tiêu chí xây dựng Đảng về đạo đức, các yêu cầu cụ thể về thực hành văn hóa chính trị làm cơ sở để các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vận dụng. Chú trọng phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, quần chúng nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu ở cả nơi công tác và nơi cư trú… Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức và văn hóa truyền thống trong hệ thống các cấp học, góp phần xây dựng một xã hội giàu văn hóa, coi trọng các giá trị đạo đức, làm nền tảng vững chắc cho thực hành đạo đức, thực hành văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên./.

-----------------------------

15. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

 

15. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

 

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận ở Việt Nam càng mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Nghiên cứu và phát triển lý luận được coi là công cụ nền tảng để xây dựng Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; đồng thời, tìm ra lời giải cho những bài toán hóc búa mà thực tiễn đặt ra, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp và dân tộc trong thời đại mới.

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận ở Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”(1). Vì vậy, “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”(2)Nghiên cứu lý luận là quá trình đi sâu tìm tòi, nắm bắt cái tất yếu, bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng cùng mọi quan hệ phức tạp ẩn giấu đằng sau các sự vật, hiện tượng đó.

Lý luận mà Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời nghiên cứu, phát triển là lý luận về cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, nghèo nàn và lạc hậu, đưa giai cấp công nhân, nhân dân và toàn dân tộc đi tới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghiên cứu và phát triển sáng tạo lý luận được thể hiện rõ nét trên ba phương diện: 1- Đặc biệt đề cao, coi trọng vai trò của lý luận đối với cách mạng, với Đảng, với mỗi con người, nhất là cán bộ, đảng viên; 2- Quan tâm, thường xuyên đề ra nội dung, phương pháp nghiên cứu lý luận và yêu cầu phải không ngừng kiên định và phát triển sáng tạo lý luận để đáp ứng thực tiễn cách mạng; 3- Bản thân là một nhà lý luận thực hành lỗi lạc, Người dày công nghiên cứu, vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách triệt để, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn nước ta. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi vĩ đại, trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng cách mạng trên toàn thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, bản chất của nghiên cứu lý luận là quá trình tìm tòi, phân tích kỹ lưỡng, thấu đáo những học thuyết tư tưởng của dân tộc và nhân loại; khẳng định giá trị, tính đúng đắn của chúng trong thực tiễn để rút ra những tri thức, hiểu biết mới và vận dụng sáng tạo những tri thức đó vào giải quyết những vấn đề của hiện tại và tương lai. Người nhiều lần căn dặn: “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm nhuần triệt để quan điểm của V.I. Lê-nin: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(4).

Bằng phương pháp tiếp cận khoa học, sáng tạo, bám sát thực tiễn của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt, luôn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; mặt khác, vận dụng sáng tạo các nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người đã bổ sung nhiều luận điểm góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lê-nin; đồng thời, xây dựng được một hệ thống lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc phù hợp về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước thuộc địa nửa phong kiến nghèo nàn, lạc hậu. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX đã chứng tỏ giá trị thực tiễn của việc nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở Chủ tịch Hồ Chí Minh và là bài học quý báu cho Đảng trong thời hiện đại.

Trước hết, về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển thêm một bước nhận thức lý luận khi cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính quốc. Trước đó, C. Mác cho rằng, cách mạng vô sản sẽ nổ ra và giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển. Còn V.I. Lê-nin nhận định, cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một số nước, thậm chí là một nước riêng lẻ của chủ nghĩa đế quốc và cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào việc giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp tại Việt Nam. Xuất phát từ mâu thuẫn chi phối toàn bộ cục diện cách mạng nước ta lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân xâm lược Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định con đường cách mạng vô sản tại Việt Nam phải là cách mạng giải phóng dân tộc rồi mới đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chính cương vắn tắt của Đảng năm 1930, do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, đã nêu: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(5). Nhận thức lý luận đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam, cũng chính là nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển một cách sáng tạo lý luận Mác - Lê-nin về đảng cộng sản vào việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở nước ta, một đất nước thuộc địa nửa phong kiến, tuyệt đại đa số là nông dân làm nông nghiệp, vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định, Đảng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Người đã dày công xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; quan tâm giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Ðảng và mỗi cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(6).

Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận Mác - Lê-nin về tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng. Người khẳng định, động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta là đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng về liên minh công - nông của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để quy tụ, tập hợp sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của các lực lượng yêu nước với thế trận chiến tranh nhân dân để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào việc xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dựa trên nguyên tắc pháp quyền ở Việt Nam. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Trên nền tảng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển một hệ thống các quan điểm sáng tạo về nhà nước kiểu mới: Tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân, một nhà nước của nhân dân, chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương do nhân dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do nhân dân tổ chức nên, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.

Thứ sáu, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy quan điểm Mác - Lê-nin làm nền tảng để phát triển tư duy, lý luận về văn hóa, đạo đức và quan hệ quốc tế trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Người chủ trương xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa có tính dân tộc với ba mặt thống nhất: Củng cố, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống; khắc phục những thiếu hụt của văn hóa truyền thống và sáng tạo những giá trị của nền văn hóa tương lai. Về đạo đức, Người đề cao con người với phẩm chất tốt đẹp: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân đều ra sức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Người cũng đặc biệt coi trọng vấn đề đoàn kết quốc tế để tranh thủ nguồn lực bên ngoài; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để hoàn thành sự nghiệp cách mạng nước nhà, đóng góp cho phong trào cách mạng thế giới. Người khẳng định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hòa bình”(7). Đây là thông điệp về hòa bình, hợp tác, hữu nghị, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản giữa các dân tộc, thể hiện tư duy lý luận cách mạng và nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những luận điểm sáng tạo về mặt tư duy lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy sự nỗ lực tìm tòi, khám phá không ngừng, bằng trí tuệ mẫn tiệp, kết hợp hài hòa giữa kinh nghiệm thực tiễn với nghiên cứu, lý luận. Thực tiễn biến đổi không ngừng, chân lý của ngày hôm qua không thể áp dụng cho hôm nay, vì vậy, lý luận phải không ngừng vận động và phát triển để phù hợp với thực tiễn: “Lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”(8).

 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận trong giai đoạn hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và định hướng để Đảng xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn, tổ chức lực lượng và lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu vĩ đại của dân tộc cho thấy, công tác lý luận luôn đóng vai trò định hướng sự phát triển của cách mạng nước ta trong cả hiện tại lẫn tương lai. Chỉ bằng cách không ngừng nghiên cứu, phát triển lý luận mới có thể làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tiếp tục phát triển nhanh chóng, quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra mạnh mẽ. Ở trong nước, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn tiềm ẩn; tệ quan liêu, nạn tham nhũng và nguy cơ tụt hậu về kinh tế vẫn hiện hữu; các thế lực thù địch không ngừng chống phá với âm mưu “diễn biến hòa bình”... Hàng loạt vấn đề đặt ra đòi hỏi Đảng ta phải nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, xây dựng cho được một nền tảng lý luận phù hợp, với ba yêu cầu cơ bản, đó là: Đáp ứng nhu cầu phát triển của quảng đại quần chúng nhân dân; tạo động lực phát triển xã hội; gắn kết với thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra.

Thực tế cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng và không ngừng vận dụng, bổ sung và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở cho việc hoạch định các chủ trương, đường lối, tổ chức lực lượng cách mạng, chỉ đạo các hoạt động thực tiễn, thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Tại Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới, bắt đầu bằng đổi mới tư duy với quan điểm: Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trải qua gần 35 năm đổi mới, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng; bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức của toàn Đảng để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng .

Đảng đã vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc nghiên cứu, phát triển lý luận, thấm nhuần quan điểm thực tiễn, lịch sử - cụ thể để làm rõ hơn lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Với quyết tâm khắc phục cách nghĩ, cách làm giản đơn, giáo điều, duy ý chí, xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, tôn trọng quy luật khách quan, Đảng cũng xác định rõ mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta với 8 đặc trưng cơ bản, trong đó nhấn mạnh nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp, nhằm thực hiện thành công mục tiêu xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội và kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp.

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành trong thời kỳ đổi mới và được Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn. Đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, phát triển, cạnh tranh bình đẳng, hợp tác cùng phát triển, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đó là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nhận thức lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự phát triển đầy sáng tạo, một thành tựu lý luận có ý nghĩa to lớn làm thay đổi diện mạo của nền kinh tế nước ta.

Đảng cũng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng, củng cố liên minh giai cấp và đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001) chỉ rõ: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo. Trên tinh thần đó, các Đại hội sau này của Đảng đều tiếp tục khẳng định vai trò, tính tất yếu của liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức đối với việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, có bổ sung những quan điểm, định hướng và giải pháp mới phù hợp với thực tiễn đất nước và bối cảnh quốc tế.

Lý luận về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của Đảng ta ngày càng hoàn thiện hơn. Qua nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Cương lĩnh chính trị của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc; Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Dân chủ phải được thực thi một cách toàn diện, đầy đủ trong thực tế cuộc sống; gắn với kỷ luật, kỷ cương xã hội và phải được thể chế hóa và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các quyền con người, cuộc sống hạnh phúc và sự phát triển tự do của mỗi người dân. Nhân dân là chủ và thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua hoạt động của Nhà nước, hệ thống chính trị. Nhận thức về Đảng và công tác xây dựng Đảng ngày càng đầy đủ, khách quan và khoa học, thể hiện sự thấm nhuần sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ xây dựng Đảng trở thành khâu then chốt, là vấn đề sống còn đối với sự nghiệp cách mạng nước ta và cũng là yêu cầu tất yếu phù hợp với thực tiễn cách mạng trong giai đoạn mới.

14. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết và dân chủ

 

14. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết và dân chủ

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết và dân chủ là những vấn đề đặc biệt quan trọng mà mọi cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nghiên cứu, học tập, quán triệt và thực hiện. Đoàn kết và dân chủ có mối liên hệ mật thiết với nhau: Đoàn kết thật sự mới có dân chủ và thực hành dân chủ là nền tảng vững chắc để xây dựng đoàn kết trong Đảng, là hạt nhân, động lực để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết

Đoàn kết, thống nhất mục tiêu, ý chí và hành động có vai trò, ý nghĩa quyết định đến sự thành công của mọi tổ chức, cộng đồng và quốc gia - dân tộc. Chân lý này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết như sau:Muốn thắng lợi thì mỗi người phải dựa vào lực lượng của số đông người, tức là của tập thể, của xã hội. Riêng lẻ từng cá nhân thì nhất định không thắng nổi tự nhiên, không sống còn được. Để sống còn, loài người lại phải sản xuất mới có ăn, có mặc. Sản xuất cũng phải dựa vào lực lượng của tập thể, của xã hội. Chỉ riêng lẻ cá nhân cũng không sản xuất được. Thời đại chúng ta là thời đại văn minh, thời đại cách mạng, mọi việc càng phải dựa vào của tập thể, của xã hội; cá nhân càng không thể đứng riêng lẻ mà càng phải hòa mình trong tập thể, trong xã hội”(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã nông nghiệp Tân Lập, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (8-7-1958)_Nguồn: hochiminh.vn

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, đoàn kết là một nhu cầu khách quan, xuất phát từ mỗi cá nhân trong cộng đồng, vì lợi ích tương đồng mà có xu hướng tập hợp lại, tạo thành một khối, phát huy và cộng hưởng thế mạnh của từng cá nhân, tạo nên sức mạnh cộng đồng để cùng đạt mục tiêu chung. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đoàn kết là một trong những nguyên tắc sống còn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và thực hành trên ba nội dung cơ bản sau:

Một là, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là quan điểm chiến lược, cơ bản, nhất quán, có ý nghĩa sống còn, quyết định thành công của cách mạng Việt Nam. Từ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút rằng, cách mạng là công việc khó khăn, phức tạp, nếu chỉ dựa vào ít người, vào lực lượng của một tổ chức hay một đảng phái thì không thể thành công. Vì vậy, bên cạnh ý chí quyết tâm, đường lối cách mạng đúng đắn, phải có sự đồng tâm hiệp lực của nhiều người, phải dựa vào nhân dân, phải đoàn kết được đông đảo nhân dân và phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(2). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết toàn dân là nền tảng căn bản, là quan điểm xuyên suốt của Đảng trong tiến trình cách mạng Việt Nam. “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị”(3). Để xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nhân nguồn sức mạnh đó lên, Người luôn coi trọng việc giác ngộ, tập hợp nhân dân vào hàng ngũ cách mạng, biến ý chí, tư tưởng cách mạng của Đảng thành ý chí, tư tưởng, động lực để phát huy sức mạnh của nhân dân. Đặc biệt, Người chỉ rõ bước đi, cơ sở nền tảng trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây”(4). Đây là bài học kinh nghiệm quý báu, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với mọi giai đoạn của cách mạng nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh công nhân, nông dân với đội ngũ trí thức; đồng thời, cần mở rộng đoàn kết, phát triển đội ngũ doanh nhân, khuyến khích doanh nhân khởi nghiệp, sáng tạo, làm giàu chân chính, gắn với thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, Đảng quan tâm giáo dục, bồi dưỡng, phát triển thế hệ trẻ; bảo vệ bình đẳng giới và phát triển toàn diện phụ nữ; chăm sóc, phát huy kinh nghiệm, trí tuệ và sự gương mẫu của người cao tuổi cũng như bảo đảm sự bình đẳng, đoàn kết thực sự giữa các dân tộc, tôn giáo, giữa người dân trong nước với đồng bào ở nước ngoài. Đó chính là điều kiện khách quan về chính trị, làm nền tảng cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước.

Thứ hai, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đây là một trong những nhiệm vụ cốt yếu, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng, là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, một trong năm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo đảm sự thống nhất ý chí, hành động của toàn Đảng, là cơ sở tạo nên sức mạnh to lớn của Đảng. Đảng ta lấy lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân làm mục tiêu cao nhất; đồng thời, Đảng cũng là hạt nhân tập hợp, định hướng và lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiến hành sự nghiệp cách mạng. Muốn tập hợp, xây dựng và lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì trước hết phải xây dựng và giữ vững đoàn kết trong Đảng. Tinh thần đoàn kết, thống nhất trong Đảng vừa quyết định sự tồn vong của Đảng, vừa là trung tâm, động lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộcQuan điểm này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng, thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên. Người nói: “Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”(5).

Theo Người, việc xây dựng, duy trì, bảo vệ cho được sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, từ chi bộ cơ sở đến Ban Chấp hành Trung ương có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trước lúc đi xa, Bác căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(6). Quan điểm này đã được toàn Đảng, đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo cao nhất, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng qua các thời kỳ luôn quán triệt và thấm nhuần. Lịch sử lãnh đạo cách mạng của Đảng cho thấy, đoàn kết trong Đảng là động lực huy động sức mạnh của cả dân tộc đưa đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, đặc biệt là trong những thời kỳ gay go, khó khăn, thách thức nhất.

Thứ ba, đoàn kết quốc tế. Là một chiến sĩ cộng sản chân chính, thấm nhuần khẩu hiệu “vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” và từ thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, đi qua nhiều quốc gia, tiếp xúc, tìm hiểu, nắm bắt, tiếp thu được giá trị, tinh hoa văn hóa của nhiều dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ hơn ai hết vai trò quan trọng của đoàn kết quốc tế đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo Người, đoàn kết quốc tế trước hết là đoàn kết với những con người cụ thể, những cộng đồng, những người có cùng thân phận, cùng hoàn cảnh; từ đó hình thành nên “tình hữu ái”, sự đoàn kết giữa người Việt Nam, dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên thế giới. Người cho rằng, đoàn kết quốc tế là nguồn lực quan trọng, tăng cường sức mạnh cho sự nghiệp cách mạng trong nước, giúp kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp của cách mạng vì độc lập dân tộc, nền hòa bình, ổn định, phát triển và sự bình đẳng giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và ở sự ủng hộ của nhân dân thế giới... Sự đoàn kết quốc tế có một ý nghĩa to lớn đối với chúng tôi”(7). Giống như quan điểm về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Người chỉ rõ lực lượng đoàn kết quốc tế rất phong phú, đó là tất cả các quốc gia, tổ chức, cá nhân tôn trọng lợi ích chính đáng của nhân dân và đất nước Việt Nam, nhưng nòng cốt là đoàn kết với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình, dân chủ thế giới. Người cũng xác định vai trò quan trọng của các quốc gia láng giềng và của các nước lớn đối với Việt Nam.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau: 1- Bình đẳng về lợi ích và trách nhiệm; 2- Thực sự tôn trọng lẫn nhau; 3- Tự lực cánh sinh; 4- Có lý, có tình. Những nguyên tắc này đã được Người nêu: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hòa bình”(8). Đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; đó là “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế... Chú trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn, đối tác quan trọng. Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh. Mở rộng, làm sâu sắc hơn và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(9).

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ

Đứng trên phương diện chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một khái niệm đơn giản, dễ hiểu, đúng bản chất về dân chủ. Trong bài Dân vận đăng trên báo Sự thật, ngày 15-10-1949, Bác viết: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân(10).

Định nghĩa đó cũng chỉ ra phương thức tổ chức, vận hành của xã hội dân chủ và nêu rõ mô hình nhà nước dân chủ ở nước ta là “nhân dân bầu ra các hội đồng nhân dân, ủy ban kháng chiến hành chính địa phương và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương”(11). Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng, nhân dân là chủ thể gốc của quyền lực nhà nước, nhân dân ủy quyền cho Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân, phụng sự lợi ích, nhu cầu và cả ý chí của nhân dân; Nhà nước nhận sự ủy quyền của nhân dân để bảo vệ quyền tự do, bình đẳng của mọi công dân; đồng thời, Người khẳng định, “nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân, tức là: Tuân theo pháp luật Nhà nước. Tuân theo kỷ luật lao động”(12). Theo Bác, dân chủ không có nghĩa là vô chính phủ, ai muốn làm gì thì làm; Nhà nước nhận ủy quyền của nhân dân, xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân, tổ chức thực thi và bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật, người dân phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước.

Dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ bó hẹp trong chính trị mà bao chứa trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là quan hệ giữa con người với con người, là các giá trị đạo lý làm người. Trong phát triển kinh tế - xã hội, mà Người gọi là “công cuộc đổi mới và xây dựng” hay sự nghiệp “kiến quốc”, cũng do dân, vì dân với mục tiêu trước tiên là làm cho nhân dân “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong phân phối, nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi được Người chỉ rõ: “Ai không làm thì không được ăn” và “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít”(13), trừ người già cả, trẻ em và người ốm đau.

Thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cá nhân phải nhận thức mình là thành viên trong tập thể, phải đặt mình trong tập thể và lắng nghe ý kiến của các thành viên khác, có trách nhiệm phát biểu, trình bày ý kiến của mình vì lợi ích chung; đồng thời, phải phục tùng quyết định của tập thể trong khi vẫn có quyền đề nghị được bảo lưu ý kiến khác biệt của bản thân mình hoặc các thành viên khác. Mỗi thành viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo và người đứng đầu cần nhận thức rõ trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Mọi hành vi dùng quyền lực để đe dọa, ép buộc, tạo nên sự phục tùng trong sợ hãi, hoặc dùng lợi ích vật chất, chức vụ để mua chuộc, mặc cả, tạo nên sự đồng thuận đều là dân chủ hình thức, dân chủ giả hiệu, thậm chí là phản dân chủ, cần phải lên án và đấu tranh loại bỏ.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, trong suốt quá trình hình thành, phát triển và được nhân dân giao phó sứ mệnh là đảng cầm quyền, Đảng ta luôn xác định rõ việc phục vụ nhân dân, chấp nhận gian khổ, hy sinh đấu tranh vì lợi ích của nhân dân là tôn chỉ, mục đích, là lẽ sống của Đảng. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân... Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”(14).

Thực hiện đoàn kết và dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đoàn kết thực sự mới có dân chủ thực sự

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “đoàn kết” và “dân chủ” có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau. Người có tinh thần đoàn kết thực sự luôn biết tôn trọng lợi ích của các thành viên khác trong tập thể; biết lắng nghe, hợp tác, giúp đỡ các thành viên khác; có tinh thần cầu thị, tiếp thu ý kiến góp ý, phê bình từ các thành viên khác; biết vận động những thành viên khác lấy lợi ích của tập thể làm trung tâm; nhận thức rõ lợi ích cá nhân mình chỉ có được khi trở thành một phần hữu cơ trong lợi ích của tập thể. Như vậy, có thể thấy rõ, nếu mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo, có tinh thần đoàn kết thực sự thì mới tập hợp được quần chúng thành một tập thể gắn bó với nhau, trong đó quyền lợi của mỗi cá nhân đều được bảo đảm. Thực tiễn đã chứng minh, ở bất cứ quốc gia - dân tộc nào, nếu đảng cầm quyền biết tôn trọng và phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, hay nói cách khác dân chủ được thực thi, thì ở đó, có sự đồng thuận xã hội cao. Đây chính là biểu hiện đầy đủ nhất của sự đoàn kết.

Đại đoàn kết toàn dân tộc tạo thành sức mạnh to lớn đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi tới thắng lợi. Để làm được điều đó, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam phải được “tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi công việc của đảng đều được toàn thể các đảng viên, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời tất cả những người có trách nhiệm trong đảng, tất cả các ban lãnh đạo của đảng, tất cả các cơ quan của đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn”(15). Thực hành dân chủ trong Đảng, từ Trung ương đến cơ sở là nền tảng vững chắc để xây dựng một Đảng đoàn kết, thống nhất, trở thành hạt nhân, động lực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (tháng 2-2018)_Ảnh: Tư liệu

Tự phê bình và phê bình để đoàn kết, thực hành dân chủ trong Đảng

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để có đoàn kết và dân chủ thực sự, trong Đảng phải nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình: “Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình... Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ... Mọi người có quyền phê bình nhau để cùng tiến bộ. Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình”(16).

Mỗi cán bộ, đảng viên khi thực hiện tự phê bình cũng như được góp ý phê bình phải dũng cảm nhận khuyết điểm và đề ra biện pháp sửa chữa khuyết điểm. Để thực tâm đoàn kết và thực hành dân chủ, mỗi cán bộ, đảng viên phải thực tâm tự phê bình, “phải thật thà... có khuyết điểm gì nói hết, không giấu giếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao mà sai lầm? Sai lầm ấy sẽ thế nào? Dùng cách gì mà sửa chữa? Và phải kiên quyết sửa chữa. Tự phê bình và sửa khuyết điểm có khi dễ, nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn, vì tự ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân khác”(17)Một mặt, thực tâm tự phê bình là tự mình nêu lên những hạn chế, khuyết điểm của bản thân để đồng chí, đồng nghiệp giúp đỡ mình khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, đồng thời giúp cho người khác biết để tránh. Mặt khác, người có can đảm, thực tâm tự phê bình thì mới thực tâm, chân thành khi phê bình đồng chí, đồng nghiệp: “Phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang... Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng””(18).

Chỉ có tinh thần đoàn kết thực sự thì mới có sự chân thành, xây dựng trong phê bình đồng chí mình và có thái độ thực sự cầu thị khi tiếp thu phê bình từ đồng chí, đồng nghiệp. Chỉ có môi trường dân chủ thực sự thì cán bộ, đảng viên mới thấy tự tin, yên tâm để góp ý, phê bình khuyết điểm của đồng chí, của cấp trên, đồng thời mới có sự tỉnh táo, bình tĩnh để nhận thức đúng đắn và chân thành đón nhận sự phê bình, góp ý để tiến bộ. Thực tế cho thấy, để tự phê bình và phê bình thực sự có hiệu quả, việc nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức có ý nghĩa quyết định. Người đứng đầu cần dũng cảm, quyết liệt tự soi xét, phê bình bản thân mình, từ công việc, đời sống cho đến trong các quan hệ gia đình, xã hội, không né tránh, không giấu giếm; cần khiêm tốn, cầu thị khi tự đánh giá bản thân; có thái độ nghiêm khắc với những thiếu sót, khuyết điểm, hạn chế của bản thân mình. Chỉ khi người đứng đầu gương mẫu tự phê bình thì mới tạo ra được động lực để cả cơ quan, tổ chức tự phê bình một cách thực chất.

Đồng thời, người đứng đầu cũng cần nêu gương trong khi thực hiện phê bình đồng chí, cấp dưới của mình; phải xuất phát từ thực tâm mong muốn đồng chí mình tiến bộ, hoàn thiện hơn; đặc biệt, cần có phương pháp, cách thức phê bình sao cho người được phê bình thấy rõ được sai sót, khuyết điểm và quan trọng hơn là thấy mình trưởng thành hơn về nhận thức, qua đó có động lực khắc phục, sửa chữa sai sót để tiến bộ. Muốn nêu gương về phê bình, người đứng đầu cần phải thực tâm lắng nghe ý kiến nhận xét của quần chúng, đồng nghiệp và cấp dưới; từ đó, không chỉ thấy được khuyết điểm của mình để tìm ra biện pháp khắc phục, mà còn rút ra được những phương pháp, cách thức phê bình phù hợp, hiệu quả; vận dụng phương pháp phê bình hiệu quả để thực hành cho bản thân và phổ biến trong cơ quan, tổ chức cho đồng chí, đồng nghiệp cùng tham khảo. Tập thể lãnh đạo, người đứng đầu nêu gương tự phê bình và phê bình chính là hạt nhân, là động lực để xây dựng và phát huy được tinh thần đoàn kết, không khí dân chủ thực sự trong tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị./.