Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, những chỉ
dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận ở Việt
Nam càng mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Nghiên cứu và phát triển lý
luận được coi là công cụ nền tảng để xây dựng Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo,
sức chiến đấu của Đảng; đồng thời, tìm ra lời giải cho những bài toán hóc búa
mà thực tiễn đặt ra, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp và dân tộc trong
thời đại mới.
Những chỉ
dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận ở Việt
Nam
Chủ tịch
Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của
loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong
quá trình lịch sử”(1). Vì vậy, “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ
phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”(2). Nghiên
cứu lý luận là quá trình đi sâu tìm tòi, nắm bắt cái tất yếu, bản chất, quy
luật của sự vật, hiện tượng cùng mọi quan hệ phức tạp ẩn giấu đằng sau các sự
vật, hiện tượng đó.
Lý luận
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời nghiên cứu, phát triển là lý luận về cuộc đấu
tranh giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, nghèo nàn và lạc hậu, đưa
giai cấp công nhân, nhân dân và toàn dân tộc đi tới xã hội xã hội chủ nghĩa và
cộng sản chủ nghĩa. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghiên cứu và
phát triển sáng tạo lý luận được thể hiện rõ nét trên ba phương diện: 1- Đặc
biệt đề cao, coi trọng vai trò của lý luận đối với cách mạng, với Đảng, với mỗi
con người, nhất là cán bộ, đảng viên; 2- Quan tâm, thường xuyên đề
ra nội dung, phương pháp nghiên cứu lý luận và yêu cầu phải không ngừng kiên
định và phát triển sáng tạo lý luận để đáp ứng thực tiễn cách mạng; 3- Bản thân
là một nhà lý luận thực hành lỗi lạc, Người dày công nghiên cứu, vận dụng lý
luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách triệt để, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn
nước ta. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi vĩ đại, trở
thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng cách mạng trên toàn thế giới.
Chủ tịch
Hồ Chí Minh nhận định, bản chất của nghiên cứu lý luận là quá trình tìm tòi,
phân tích kỹ lưỡng, thấu đáo những học thuyết tư tưởng của dân tộc và nhân
loại; khẳng định giá trị, tính đúng đắn của chúng trong thực tiễn để rút ra
những tri thức, hiểu biết mới và vận dụng sáng tạo những tri thức đó vào giải
quyết những vấn đề của hiện tại và tương lai. Người nhiều lần căn dặn: “Không
có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(3). Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã thấm nhuần triệt để quan điểm của V.I. Lê-nin: “Chúng ta không hề coi
lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái
lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những
người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt,
nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(4).
Bằng
phương pháp tiếp cận khoa học, sáng tạo, bám sát thực tiễn của đất nước, Chủ
tịch Hồ Chí Minh, một mặt, luôn trung thành với những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; mặt khác, vận dụng sáng tạo các
nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người đã bổ sung nhiều luận
điểm góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lê-nin; đồng thời, xây dựng
được một hệ thống lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc phù hợp về thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước thuộc địa nửa phong kiến nghèo nàn, lạc
hậu. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX đã chứng tỏ
giá trị thực tiễn của việc nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa
Mác - Lê-nin ở Chủ tịch Hồ Chí Minh và là bài học quý báu cho Đảng trong thời
hiện đại.
Trước hết, về mối quan hệ giữa cách
mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc
địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển thêm một bước nhận thức lý luận khi cho
rằng, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có quan hệ chặt chẽ với
cách mạng chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc.
Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể giành thắng lợi trước cách
mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính quốc. Trước đó, C. Mác cho
rằng, cách mạng vô sản sẽ nổ ra và giành thắng lợi ở những nước tư bản phát
triển. Còn V.I. Lê-nin nhận định, cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở
một số nước, thậm chí là một nước riêng lẻ của chủ nghĩa đế quốc và cuộc đấu
tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh
của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa.
Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp
thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào việc giải quyết vấn đề dân
tộc và giai cấp tại Việt Nam. Xuất phát từ mâu thuẫn chi phối toàn bộ cục diện
cách mạng nước ta lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với
thực dân xâm lược Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định con đường cách mạng vô
sản tại Việt Nam phải là cách mạng giải phóng dân tộc rồi mới đến cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Chính cương vắn tắt của Đảng năm 1930, do Nguyễn Ái Quốc khởi
thảo, đã nêu: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội cộng sản”(5). Nhận thức lý luận đó hoàn toàn phù
hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam, cũng chính là nguyện vọng của quảng đại
quần chúng nhân dân.
Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát
triển một cách sáng tạo lý luận Mác - Lê-nin về đảng cộng sản vào việc xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở nước ta, một đất nước thuộc địa nửa phong kiến, tuyệt
đại đa số là nông dân làm nông nghiệp, vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác
định, Đảng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân
và phong trào yêu nước. Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Người đã dày
công xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo
đức; quan tâm giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán
bộ, đảng viên. Quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Ðảng và mỗi
cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung
thành của nhân dân”(6).
Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
phát triển lý luận Mác - Lê-nin về tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng. Người
khẳng định, động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta là đại đoàn
kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới
sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo
tư tưởng về liên minh công - nông của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để quy tụ, tập hợp
sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của các lực lượng yêu nước với thế trận
chiến tranh nhân dân để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự
do và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lê-nin vào việc xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dựa
trên nguyên tắc pháp quyền ở Việt Nam. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin,
sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên
chính vô sản. Trên nền tảng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển một hệ thống
các quan điểm sáng tạo về nhà nước kiểu mới: Tất cả mọi quyền lực đều là của
nhân dân, một nhà nước của nhân dân, chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương
do nhân dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do nhân dân tổ chức nên, được
tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, thể hiện cho ý
chí và nguyện vọng của nhân dân.
Thứ
sáu, Chủ tịch Hồ
Chí Minh lấy quan điểm Mác - Lê-nin làm nền tảng để phát triển tư duy, lý luận
về văn hóa, đạo đức và quan hệ quốc tế trong tiến trình cách mạng Việt Nam.
Người chủ trương xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa có tính dân tộc với
ba mặt thống nhất: Củng cố, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống; khắc
phục những thiếu hụt của văn hóa truyền thống và sáng tạo những giá trị của nền
văn hóa tương lai. Về đạo đức, Người đề cao con người với phẩm chất tốt đẹp:
Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi
người dân đều ra sức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, xây dựng con người
mới xã hội chủ nghĩa. Người cũng đặc biệt coi trọng vấn đề đoàn kết quốc tế để
tranh thủ nguồn lực bên ngoài; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để
hoàn thành sự nghiệp cách mạng nước nhà, đóng góp cho phong trào cách mạng thế
giới. Người khẳng định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan
hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự
hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không
can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hòa bình”(7).
Đây là thông điệp về hòa bình, hợp tác, hữu nghị, tôn trọng các quyền dân tộc
cơ bản giữa các dân tộc, thể hiện tư duy lý luận cách mạng và nhân văn của Chủ
tịch Hồ Chí Minh.
Những
luận điểm sáng tạo về mặt tư duy lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy sự
nỗ lực tìm tòi, khám phá không ngừng, bằng trí tuệ mẫn tiệp, kết hợp hài hòa
giữa kinh nghiệm thực tiễn với nghiên cứu, lý luận. Thực tiễn biến đổi không
ngừng, chân lý của ngày hôm qua không thể áp dụng cho hôm nay, vì vậy, lý luận
phải không ngừng vận động và phát triển để phù hợp với thực tiễn: “Lý luận
không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn
luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh
động”(8).
Vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận trong
giai đoạn hiện nay
Tư tưởng
Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và định hướng để Đảng xây dựng đường lối cách
mạng đúng đắn, tổ chức lực lượng và lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu vĩ
đại của dân tộc cho thấy, công tác lý luận luôn đóng vai trò định hướng sự phát
triển của cách mạng nước ta trong cả hiện tại lẫn tương lai. Chỉ bằng cách
không ngừng nghiên cứu, phát triển lý luận mới có thể làm cho chủ nghĩa Mác -
Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim
chỉ nam cho mọi hành động cách mạng, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của
giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay,
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tiếp tục phát triển nhanh
chóng, quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra mạnh mẽ. Ở trong nước, nguy
cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn tiềm ẩn; tệ quan liêu, nạn tham nhũng
và nguy cơ tụt hậu về kinh tế vẫn hiện hữu; các thế lực thù địch không ngừng
chống phá với âm mưu “diễn biến hòa bình”... Hàng loạt vấn đề đặt ra đòi hỏi
Đảng ta phải nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, xây dựng cho được một nền
tảng lý luận phù hợp, với ba yêu cầu cơ bản, đó là: Đáp ứng nhu cầu phát triển
của quảng đại quần chúng nhân dân; tạo động lực phát triển xã hội; gắn kết với
thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra.
Thực tế
cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng và không ngừng vận dụng, bổ
sung và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ
sở cho việc hoạch định các chủ trương, đường lối, tổ chức lực lượng cách mạng,
chỉ đạo các hoạt động thực tiễn, thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Tại Đại hội
VI của Đảng (tháng 12-1986), Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới, bắt đầu bằng
đổi mới tư duy với quan điểm: Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản
chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa di sản quý báu
về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trải qua gần 35 năm
đổi mới, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận
cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng; bảo đảm
sự thống nhất trong nhận thức của toàn Đảng để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ
cách mạng .
Đảng đã
vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc nghiên cứu, phát
triển lý luận, thấm nhuần quan điểm thực tiễn, lịch sử - cụ thể để làm rõ hơn
lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Với
quyết tâm khắc phục cách nghĩ, cách làm giản đơn, giáo điều, duy ý chí, xóa bỏ
cơ chế tập trung, bao cấp, tôn trọng quy luật khách quan, Đảng cũng xác định rõ
mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta với 8 đặc trưng cơ bản, trong đó nhấn mạnh
nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản
xuất tiến bộ phù hợp, nhằm thực hiện thành công mục tiêu xây dựng được về cơ
bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội và kiến trúc thượng tầng về chính
trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp.
Thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành trong thời kỳ
đổi mới và được Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn. Đó là nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế cùng tồn tại, phát triển, cạnh tranh bình đẳng, hợp tác cùng phát
triển, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một
động lực quan trọng của nền kinh tế. Đó là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ
theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội
chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nhận thức lý luận
về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự phát triển đầy
sáng tạo, một thành tựu lý luận có ý nghĩa to lớn làm thay đổi diện mạo của nền
kinh tế nước ta.
Đảng cũng
đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng,
củng cố liên minh giai cấp và đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của
nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng (năm 2001) chỉ rõ: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước
là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và
trí thức do Đảng lãnh đạo. Trên tinh thần đó, các Đại hội sau này của Đảng đều
tiếp tục khẳng định vai trò, tính tất yếu của liên minh giữa giai cấp công
nhân, nông dân và đội ngũ trí thức đối với việc củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân tộc và đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, có bổ sung
những quan điểm, định hướng và giải pháp mới phù hợp với thực tiễn đất nước và
bối cảnh quốc tế.
Lý luận
về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của Đảng ta ngày càng hoàn thiện hơn.
Qua nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Cương lĩnh chính trị của
Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội
tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của dân tộc; Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng,
lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Dân chủ phải được thực thi
một cách toàn diện, đầy đủ trong thực tế cuộc sống; gắn với kỷ luật, kỷ cương
xã hội và phải được thể chế hóa và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật. Nhà nước có
trách nhiệm bảo đảm các quyền con người, cuộc sống hạnh phúc và sự phát triển
tự do của mỗi người dân. Nhân dân là chủ và thực hiện quyền làm chủ của mình
thông qua hoạt động của Nhà nước, hệ thống chính trị. Nhận thức về Đảng và công
tác xây dựng Đảng ngày càng đầy đủ, khách quan và khoa học, thể hiện sự thấm
nhuần sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ xây dựng Đảng
trở thành khâu then chốt, là vấn đề sống còn đối với sự nghiệp cách mạng nước
ta và cũng là yêu cầu tất yếu phù hợp với thực tiễn cách mạng trong giai đoạn
mới.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét