Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

26. Ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác

 

26. Ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác

  “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác” - Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông (nay thuộc TP Hà Nội), ngày 7-6-1960. Đây là thời kỳ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc đạt được những thành tựu quan trọng, cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam gặp nhiều khó khăn, thử thách và rất khốc liệt. Trước tình hình đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tập hợp được đông đảo lực lượng cách mạng phục vụ cho sự nghiệp kiến thiết non sông và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai lợi ích của Đảng ta trước quốc dân đồng bào, thể hiện sâu sắc giá trị lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng Đảng; vừa thể hiện một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng; đồng thời là tư tưởng chỉ đạo để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên hành động đúng tôn chỉ, mục đích của Đảng, làm cho Đảng ta thực sự là đội tiên phong, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Thấm nhuần lời dạy của Bác, lớp lớp cán bộ, đảng viên của Đảng đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân, xây dựng Đảng ta TSVM, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu ngày càng cao, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, lời khẳng định trên của Bác đã trở thành một trong những nội dung cơ bản về công tác xây dựng Đảng, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để Đảng ta tự đổi mới, tự chỉnh đốn làm trong sạch chính mình, có đủ năng lực đảm đương vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Đảng bộ Quân đội và toàn quân luôn mẫu mực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; chấp hành tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ đoàn kết thống nhất cao, có chuyển biến quan trọng về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân không ngừng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng với danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

25. Nêu cao tinh thần thượng tôn pháp luật của cán bộ, chiến sĩ.

 

25. Nêu cao tinh thần thượng tôn pháp luật của cán bộ, chiến sĩ.

          Thực hiện quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, Ngày pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã được các cơ quan, đơn vị, các học viện, Nhà trường tích cực hưởng ứng, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, thường xuyên, liên tục, đi vào nề nếp với những hoạt động ngày càng cụ thể, hướng tới mục tiêu 365 ngày đều là Ngày pháp luật. (Ngày 20/6/2012, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó lấy ngày 9/11 (ngày Quốc hội thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta) là Ngày pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Đây là sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng, nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật; giáo dục, nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật của xã hội; xây dựng, bồi đắp niềm tin, tình cảm, thái độ ứng xử, ý thức bảo vệ pháp luật của toàn dân; coi trọng các giá trị truyền thống tốt đẹp; đề cao giá trị con người, xây dựng nhân cách, ý thức làm chủ, tôn trọng kỷ luật, kỷ cương trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Với chủ đề và khẩu hiệu hành động sát hợp, nội dung có trọng tâm, trọng điểm, Ngày pháp luật thực sự là ngày hội chính trị, pháp lý quan trọng, có sức lan tỏa mạnh mẽ và đã trở thành khẩu hiệu, phương châm hành động hàng ngày, trong từng hoạt động công tác, chiến đấu của mỗi cán bộ, chiến sĩ.

Thông qua các hoạt động hưởng ứng Ngày pháp luật, nhận thức của cán bộ, chiến sĩ Công an các cấp về vị trí, vai trò của Hiến pháp, pháp luật, ý thức trách nhiệm, tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng kỷ luật, kỷ cương cũng như năng lực áp dụng pháp luật, trách nhiệm thi hành và bảo vệ Hiến pháp, pháp luật được nâng lên rõ rệt, góp phần nâng cao hiệu quả công tác, chiến đấu của toàn lực lượng, đồng thời đề xuất, kiến nghị với Đảng, Quốc hội, Chính phủ nhiều biện pháp, giải pháp quan trọng nhằm đưa Hiến pháp, pháp luật vào thực tiễn công tác, chiến đấu, bảo đảm an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Thường xuyên quan tâm, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tổ chức tốt việc quán triệt, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Ngày pháp luật; nội dung các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành, các quy định của pháp luật có liên quan đến an ninh, trật tự; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính; cải cách tư pháp; thực hiện quy chế dân chủ trong mỗi cơ quan, đơn vị; thường xuyên, kịp thời kiểm tra, chấn chỉnh công tác thực thi và thi hành pháp luật.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Ngày pháp luật trong các cơ quan, đơn vị còn một số hạn chế, thiếu sót, như: lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đến việc triển khai thực hiện Ngày pháp luật; nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức thực hiện Ngày pháp luật ở một số đơn vị, địa phương còn mang tính hình thức.

Thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, đặt ra những khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước không ngừng gia tăng các hoạt động công kích, chống phá trên nhiều lĩnh vực, thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ ta; tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tiềm ẩn những nhân tố dễ gây mất ổn định. Nhất là trong bối cảnh tinhg hình dịch bệnh Covit đang diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch càng có những luận điệu xuyên tạc và chống phá. 

          Do vậy trong thời gian tới, để tiếp tục phát huy ý nghĩa thiết thực, hiệu quả của việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày pháp luật trong lực lượng vũ trang, góp phần bảo vệ Hiến pháp, nâng cao hiệu quả xây dựng, thi hành pháp luật và thực hiện tốt nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương tập trung thực hiện có hiệu quả các công tác trọng tâm sau đây:

Một là, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về Quốc phòng, an ninh, trật tự. Tập trung rà soát, xây dựng, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ những văn bản quy phạm pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn. 

Hai là, chú trọng nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, theo dõi, kiểm tra việc thi hành pháp luật nói chung, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN. Coi trọng việc tổ chức thực hiện nghiêm Ngày pháp luật để tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ cho mỗi cán bộ, chiến sĩ

Chủ động nghiên cứu, phối hợp với cơ quan hữu quan tham mưu với Chính phủ báo cáo, đề xuất Quốc hội ban hành Luật Theo dõi thi hành pháp luật, nhằm tạo cơ sở pháp lý đủ mạnh cho công tác theo dõi, thi hành pháp luật trong tình hình mới. Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới các khâu, quy trình công tác; rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Ba là, tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Kết luận Quốc hội số 22/2018/QH14 về Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội ban hành luật Quốc phòng; Luật Phổ biến giáo dục pháp luật và các văn bản liên quan; cần xác định nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Quốc phòng, an ninh. 

Bốn là, làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ; thường xuyên tổ chức thông tin thời sự và định hướng tư tưởng, dư luận xã hội; phổ biến, quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ những văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành, nhất là những văn bản liên quan trực tiếp đến công tác Quốc phòng, an ninh, nhằm trang bị cho cán bộ, chiến sĩ kiến thức lý luận, pháp lý vững chắc trong quá trình thực thi nhiệm vụ. 

Đối với lãnh đạo, chỉ huy, phải gương mẫu trong việc học tập, nâng cao trình độ về pháp luật và tích cực rèn luyện về năng lực chỉ đạo, chỉ huy, điều hành nhiệm vụ được giao trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp, pháp luật; có biện pháp khắc phục ngay những hạn chế, thiếu sót, ngăn ngừa sai phạm của cán bộ, chiến sĩ trong việc thực thi nhiệm vụ; đồng thời, thông qua việc gương mẫu chấp hành pháp luật của cán bộ, chiến sĩ để thuyết phục, giáo dục quần chúng, thành viên trong gia đình ý thức tôn trọng, chấp hành Hiến pháp, pháp luật.

Năm là, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp, báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật; bảo đảm kinh phí và các điều kiện cần thiết khác cho việc xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục, tổ chức thi hành pháp luật, theo dõi, kiểm tra việc thi hành pháp luật; thường xuyên sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, thiếu sót, kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật và thi hành pháp luật.

Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải bằng những hành động cụ thể, thiết thực, chung tay góp phần đưa Hiến pháp, pháp luật đi vào cuộc sống; nêu cao tính tiền phong gương mẫu và là tấm gương sáng trong việc chấp hành, bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, để từ đó lan tỏa tinh thần thượng tôn pháp luật, trở thành nếp sống văn hóa của mỗi người dân và của cộng đồng xã hội, vận động nhân dân tích cực tham gia Hiến pháp, pháp luật.

Kiên quyết vững bước trên con đường đã chọn

 

Ðảng Cộng sản ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là tất yếu khách quan, là sự lựa chọn của lịch sử.

Những thành tựu dưới sự lãnh đạo của Ðảng trong hơn 94 năm qua đã góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Thế nhưng, gần đây trên không gian mạng, các thế lực thù địch không ngừng nêu những quan điểm để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng ta, đòi đa nguyên, đa đảng... Ðó là quan điểm sai trái, thù địch muốn phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng, cần đấu tranh phản bác để đảm bảo sự lãnh đạo duy nhất của Ðảng ta trên con đường đã lựa chọn.

Ðấu tranh phản bác

 

Thứ nhất, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Ðông Âu là xuất phát từ việc đa nguyên, đa đảng.

Thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Liên Xô và các nước XHCN Ðông Âu dưới sự lãnh đạo, cầm quyền duy nhất của một đảng trong hơn 70 năm ra đời, xây dựng và phát triển là luận cứ sâu sắc nhất cả về lý luận và thực tiễn, những thành tựu đó đã được toàn nhân loại thừa nhận. Nhất là những thành tựu phát triển ở trình độ tiên tiến đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học, giáo dục, quốc phòng, an ninh... trong suốt hơn nửa thế kỷ từ năm 1945 đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX. Liên Xô và các nước XHCN Ðông Âu rơi vào khủng hoảng, sụp đổ là do một số nguyên nhân như: phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, xa rời nền tảng tư tưởng của Ðảng; coi nhẹ nguyên tắc tập trung dân chủ; xa rời quần chúng, mất uy tín nghiêm trọng trước Nhân dân, không được Nhân dân đồng tình ủng hộ; không xác định đúng đắn sự lãnh đạo của Ðảng, buông lơi sự lãnh đạo của Ðảng và công tác xây dựng Ðảng dẫn đến hàng ngàn tổ chức đảng yếu kém rơi vào hỗn loạn chính trị - tư tưởng, từ đó các phần tử cơ hội chính trị khuyến khích thành lập các đảng phái, đa đảng đối lập, đây là nguyên nhân cơ bản của sự sụp đổ ở Liên Xô và Ðông Âu.

Thứ hai, dân chủ không phụ thuộc vào nhất nguyên hay đa nguyên.

Thực tế đã chứng minh rằng, dân chủ không hề phụ thuộc vào nhất nguyên hay đa nguyên, mà phụ thuộc trước hết vào bản chất của chế độ kinh tế, xã hội. Trong chế độ tư bản chủ nghĩa sự phân hoá hai cực giàu - nghèo ngày càng trầm trọng, dân chủ chỉ là quyền của người dân lựa chọn đảng nào, lực lượng nào sẽ bóc lột, nô dịch họ mà thôi. Ở Việt Nam, Ðảng Cộng sản lãnh đạo xây dựng các cơ chế, thiết chế, chủ trương, chính sách, hiến pháp và pháp luật... phù hợp với công ước của Liên Hợp quốc và các cam kết quốc tế. Qua đó không ngừng phát huy sự tham gia của người dân vào các công việc của Nhà nước và xã hội để dần hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quản lý xã hội, đồng thời, Ðảng tự đặt quyền lãnh đạo của mình trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ðó là dân chủ.

Thứ ba, Ðảng Cộng sản lãnh đạo, cầm quyền là sự lựa chọn của lịch sử, phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân và của dân tộc Việt Nam.

Ðảng ta đã lãnh đạo toàn thể Nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thắng lợi hoàn toàn, cả nước cùng đi lên CNXH. Ðiều đó, khẳng định: chỉ có Ðảng Cộng sản Việt Nam được lịch sử lựa chọn để lãnh đạo Nhân dân và toàn thể dân tộc Việt Nam trên những chặng đường tiếp theo của sự nghiệp cách mạng.

Thứ tư, chính trị luôn chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế là một nguyên tắc.

Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, suy cho cùng thì kinh tế là yếu tố cũng quyết định so với chính trị, nhưng sự quyết định đó không bao giờ là thường xuyên và trực tiếp. Từ việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam mà cho rằng nên đa nguyên, đa đảng là không đúng, không có căn cứ khoa học, là sự suy diễn hình thức, giáo điều, là sự bịa đặt trắng trợn với âm mưu muốn chống phá và lật đổ sự lãnh đạo, cầm quyền duy nhất của Ðảng Cộng sản và chế độ XHCN ở Việt Nam.

Thứ năm, đa nguyên, đa đảng không phải là điều kiện để hội nhập quốc tế.

Hơn 94 năm dưới sự lãnh đạo duy nhất của mình, trong đó có gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Ðảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định mục tiêu, con đường đã lựa chọn, đó là con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Nhất nguyên chính trị, một đảng lãnh đạo, cầm quyền là sản phẩm khách quan của đời sống chính trị - xã hội Việt Nam, trong suốt quá trình lịch sử từ khi Ðảng ra đời đến nay đã thể hiện điều đó, không một cá nhân hay tổ chức nào có thể quyết định được.

Kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Ðảng, và được kiểm nghiệm qua thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam hơn 94 năm qua. Vì:

Một là, giá trị của học thuyết Mác - Lênin với các dân tộc bị áp bức và toàn thể nhân loại.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự kết tinh các giá trị văn minh, trí tuệ của nhân loại, là sản phẩm ra đời từ thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và là vũ khí tinh thần cho giai cấp công nhân đấu tranh giành thắng lợi.

Học thuyết Mác - Lênin xuất phát từ con người và cũng nhằm mục đích giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột và nô dịch thực dân, đế quốc. Khác với các học thuyết khác, học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ đưa ra lý thuyết luận giải về sự cùng khổ của con người dưới chế độ tư bản chủ nghĩa mà học thuyết còn chỉ ra nguồn gốc của sự đau khổ, đồng thời chỉ cho chúng ta phương pháp để đấu tranh giành lấy sự tự do. Ðể giải phóng con người khỏi áp bức bất công, trước hết phải giải phóng giai cấp công nhân. Và thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa nhân văn vì con người của học thuyết Mác - Lênin. Ra đi tìm đường cứu nước và đến với học thuyết Mác - Lênin, Hồ Chí Minh là người thấm nhuần những luận điểm đó. Người đã vận dụng và phát triển, sáng tạo vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam và đã dẫn dắt dân tộc ta khỏi kiếp nô lệ lầm than.

Hai là, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần của toàn thể dân tộc Việt Nam.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Ðảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta giành thắng lợi [1]”.

Do đó, để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Ðảng và pháp luật của Nhà nước thì mọi cán bộ, đảng viên phải nắm vững kiến thức cơ bản về nền tảng tư tưởng của Ðảng để có luận cứ đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch chống Ðảng, chống chế độ XHCN ở Việt Nam; nhận thức được và đúng âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động để có phương pháp, cách thức đấu tranh thích hợp.

Phải khẳng định nguyên tắc tập trung dân chủ phải là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Ðảng.

Sức mạnh của Ðảng là được tổ chức chặt chẽ, là sự thống nhất ý chí và hành động, là sự đoàn kết thống nhất của đội ngũ đảng viên. Ðảng muốn có được sức mạnh thì phải thực hiện triệt để nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, cá nhân phục tùng nguyên tắc của tổ chức.

Tăng cường công tác đối ngoại.

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác, bình đẳng cùng có lợi; tăng cường quan hệ ngoại giao với các nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước lớn trên thế giới... Nâng tầm đường lối đối ngoại của Ðảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao Nhân dân để nâng cao hơn nữa vị thế, uy tín và vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới với tinh thần: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Dựa vào Nhân dân để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Lịch sử ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam đã chứng minh “Quan nhất thời, dân vạn đại” hay “Chở thuyền, lật thuyền đều là dân”. “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”. Từ khi có Ðảng, nguồn gốc sức mạnh có được của Ðảng là từ Nhân dân, từ khối đại đoàn kết toàn dân. Ðảng ra đời với việc đề ra đường lối chính trị đúng đắn, được Nhân dân tin tưởng đi theo. Chính lực lượng hào hùng của Nhân dân đã làm nên những thắng lợi vĩ đại của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Ðảng hơn 94 năm qua. Ðiều đó cho thấy, chỉ có đường lối đúng đắn, đáp ứng được lợi ích của Nhân dân, Ðảng ta mới được Nhân dân đồng tình ủng hộ. Và sức mạnh của Ðảng có được “là mối liên hệ mật thiết với Nhân dân, cũng như sức mạnh của Nhân dân bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng và chỉ dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðó là quy luật tồn tại và phát triển của Ðảng Cộng sản, và là quy luật vận động và phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa [2]”. Nếu từ bỏ quy luật đó cũng có nghĩa là chúng ta từ bỏ mục tiêu và con đường đã lựa chọn, con đường mà toàn Ðảng, toàn quân và toàn thể dân tộc Việt Nam ta đã dày công xây dựng, con đường của lòng tự hào, của niềm tin và khát vọng của toàn Ðảng, toàn quân và toàn thể dân tộc Việt Nam trên con đường hội nhập.

 
 

24. không thể phủ nhận tầm vóc vĩ đại của chủ tịch Hồ Chí Minh

 

24. không thể phủ nhận tầm vóc vĩ đại của chủ tịch Hồ Chí Minh

             Bôi nhọ hình ảnh, uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chiêu bài rất thâm hiểm của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị hòng làm mất đi tinh thần dân tộc, lòng tôn kính của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Gần đây, trên trang Quyenduocbiet.com, Lê Bá Vận đăng bài “Bác Hồ khước từ Nguyễn Ái Quốc”. Theo đó, bằng cách ngụy tạo chứng cứ, bóp méo tài liệu lịch sử, y trắng trợn xuyên tạc “Nguyễn Ái Quốc là yếu tố bất lợi, làm hoan ố thanh danh và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, cần nhận diện, đấu tranh phản bác và khẳng định như sau:        

Thứ nhất, người Việt Nam yêu nước bằng ý chí, hành động, việc làm đóng góp cho dân tộc, không có ai tự nhận yêu nước chỉ thông qua cái tên hoặc lời nóiLịch sử Việt Nam trong hàng nghìn năm đã bồi đắp nên tình cảm yêu nước, ý chí kiên cường, dũng cảm, dám hi sinh lợi ích cá nhân, đấu tranh giành giữ, bảo vệ độc lập dân tộc và ấm no, bình yên cho nhân dân. Yêu nước bằng ý chí, hành động, việc làm đóng góp cho dân tộc là đặc trưng tiêu biểu cho tính cách của con người Việt Nam và quy tụ sự đoàn kết dân tộc trở thành cội nguồn sức mạnh nhấn chìm tất cả bè lũ cướp nước và bán nước. Yêu nước không chỉ là tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam, mà còn gắn liền với niềm tin, khát vọng hành động xây dựng đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc. Trong những năm tháng hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiện thực lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tạo ra một chế độ mới, một thời đại mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, góp phần to lớn vào sự nghiệp vì hòa bình, tự do, hạnh phúc của nhân loại. Điều này, đã chứng tỏ luận điệu cho rằng “giành đặt tên” Ái quốc là “tự cao, tự đại”, dù yêu nước thực sự cũng không nên lấy tên là Ái Quốc của Lê Bá Vận cũng chỉ là sự thêu dệt, suy diễn áp đặt để xuyên tạc của Y.

Thứ hai, hành trình tìm đường cứu nước, hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa, tầm vóc lịch sử và không thể nghi ngờCụm từ Việt Nam - Hồ Chí Minh không còn xa lạ đối với bạn bè quốc tế, kể từ ngày 2-9-1945 và sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một biểu tượng văn hóa, đạo đức thân thuộc trong tâm thức, trái tim của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới. Đúng như Lê Bá Vận đã trích dẫn khẳng định: “cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chuỗi dài sự kiện có tầm vóc lịch sử”! Sự thật này được chứng minh bằng ý chí, hành động dành cả cuộc đời cho đồng bào của Bác và được thể hiện ở nhiều công trình khoa học, ấn phẩm như: Cuốn sách “Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh (The world people's affection for President Ho Chi Minh)” do Bộ Ngoại giao phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật xuất bản; trên cơ sở cuốn sách “Hành trình theo chân Bác” của tác giả Trần Đức Tuấn, Nhà xuất bản Trẻ đã ra mắt “Bản đồ Hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ”, đã tập hợp khối tư liệu hình ảnh phong phú, khắc hoạ sâu sắc quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách một người đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc và tình cảm, niềm tin yêu, sự tôn vinh của Đảng, dân tộc Việt Nam, bạn bè quốc tế đối với Người. Đây là những bằng chứng thép, bác bỏ luận điệu xuyên tạc cho rằng Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc là “2 người khác nhau”; con đường Bác chọn là “tha phương lỡ vận”, những  “nghi vấn về lai lịch”, mơ hồ về “gốc gác” của Lê Bá Vận.

Mọi người dân Việt Nam cần chấp hành nghiêm khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013, Nghị định 144/2021/NĐ-CPNghị định 14/NĐ-CP ngày 27/1/2022; không khiêu khích, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Nâng cao cảnh giác và tích cực đấu tranh bảo vệ truyền thống tôn vinh những người có công, những anh hùng của dân tộc, giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; đập tan những luận điệu, hành vi sai trái của những kẻ như Lê Bá Vận./.

 

Gần đây, trên Bloger của hoianhemdanchu có bài viết: “Chủ nghĩa Xã hội đối lập với độc tài Cộng sản Việt Nam”, cho rằng: chế độ độc tài cộng sản Việt Nam và chủ nghĩa xã hội là mâu thuẫn, đối lập với nhau. Đây là mâu thuẫn có tính chất triệt tiêu lẫn nhau. Những giá trị cốt lõi và tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội chưa bao giờ xuất hiện ở Việt Nam mà đang hiện diện trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội hàng ngày ở các nước Tư bản Dân chủ. Do vậy, sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội mà Đảng cộng sản Việt Nam đang áp dụng ở Việt Nam là tất yếu, khách quan và không thể đảo ngược. Thực tế chứng minh rằng, đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử nhân loại.

Thứ nhất, trải qua 93 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo con đường xã hội chủ nghĩa. Có thể khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Thứ hai, sau 36 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử, thay đổi đời sống mọi mặt của người dân: kinh tế tăng trưởng ở mức tương đối cao, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, tình hình chính trị và xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, đó chính là cơ sở kinh tế – xã hội, tiền đề, nền tảng cho chủ nghĩa xã hội hiện thực. Cụ thể là: kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016-2019 đạt mức bình quân 6,8%. Mặc dù năm 2020 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh COVID-19 nhưng tốc độ tăng GDP của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới đạt 2.91%. Việc tăng trưởng kinh tế đã cơ bản gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Công tác giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 22% năm 2005; 9,45% năm 2010, 7% năm 2015 và còn dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Nhiều chỉ số về Giáo dục phổ thông của Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực, như: tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99% (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN, sau Singapore); tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08%, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN. Vị thế các trường đại học của Việt Nam đã được nâng lên trong bảng xếp hạng châu Á và thế giới, năm 2019 xếp thứ 68/196 quốc gia trên thế giới, tăng 12 bậc so với năm 2018. Lần đầu tiên, Việt Nam có 4 cơ sở giáo dục đại học được vào top 1.000 trường đại học tốt nhất thế giới. Việt Nam là một trong số ít quốc gia có hệ thống y tế hoàn chỉnh, tổ chức rộng khắp tới tận thôn, bản; làm chủ được nhiều kỹ thuật công nghệ cao mang tầm thế giới như: ghép chi, tim, gan, thận…; kiểm soát được nhiều dịch bệnh nguy hiểm, trong đó có COVID-19. Về quan hệ đối ngoại, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước (tám nước là đối tác chiến lược toàn diện) và 9 nước đối tác chiến lược; có quan hệ đối tác toàn diện với 13 nước.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới kể trên là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đây chính là tiền đề quan trọng, tạo ra tiềm lực, sức mạnh, niềm tin vào con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tương lai của chúng ta./.

Để lãng phí là có tội với nhân dân

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi những hành động tham ô, lãng phí là “tội ác xấu xa”, “là hành động trộm cắp mà ai cũng phải thù ghét, phải trừ bỏ”; tham ô, lãng phí “là thứ giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”, “là kẻ thù nguy hiểm”.

“Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ trung, cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 11” ngày 14-2-1957, Người căn dặn: “Để lãng phí như "gió vào nhà trống", tham ô có tội, lãng phí cũng có tội, nhân dân giao tiền của cho mình, để lãng phí là có tội với nhân dân” (1). Lãng phí không chỉ có tội với nhân dân, mà còn gây nguy hại cho đất nước; trong nhiều bài nói, bài viết Người chỉ rõ nguy hại này: “vì lãng phí chỉ có hại cho dân, cho nước, cho nhà” (2) và “Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước, của tập thể thì lãng phí cũng có tội” (3)…

Vì vậy, ngày 24-7-1962, trong “Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước”, Người đề xuất mở một cuộc vận động “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”; trong đó Người nhấn mạnh: “Việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường xuyên. Nó có hai ý nghĩa quan trọng:

- Nó làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, ý thức bảo vệ của công, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân.

- Nó giúp cho cán bộ và đảng viên ta giữ gìn phẩm chất cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Do đó mà nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm” (4).

Quán triệt sâu sắc tư tưởng về phòng, chống lãng phí của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết, nhất trí và ra sức thực hiện cuộc vận động do Người đề xuất, Đảng ta chủ trương và luôn quyết tâm phòng, chống lãng phí; vì vậy, từ rất sớm, Đảng ta ban hành Thông tri số 03-TT/TW, ngày 12-1-1955 của Ban Bí thư Về việc tiết kiệm chi tiêu, chống lãng phí; Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV, trong phần nói về nhiệm vụ thứ nhất của đảng viên, đã nêu rõ: Đảng viên “tích cực bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân, chống lãng phí, tham ô”.

Do đó, đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn để hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975 tiếp tục giành “Thắng lợi có ý nghĩa lịch sử to lớn của nhân dân ta trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới tây nam và biên giới phía bắc đã ghi thêm vào lịch sử cách mạng nước ta những chiến công oanh liệt mới...” (5); nhất là sau gần 40 năm đổi mới: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII.

Trong giai đoạn mới, một trong các định hướng lớn bao quát những vấn đề phát triển quan trọng của đất nước và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 10 năm tới được xác định trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta kiên trì: “chống lãng phí”.

Để chuẩn bị đất nước bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm có bài viết quan trọng “Chống lãng phí” - Đây là thông điệp mạnh mẽ, mang tính thức tỉnh sâu sắc, khuyến khích mọi người xem xét lại cách thức sử dụng và quản lý các nguồn lực trong toàn xã hội; từ đó, kêu gọi cả hệ thống chính trị và từng người dân cần có ý thức tránh xa lãng phí, không chỉ vì lợi ích quốc gia, lợi ích của bản thân, gia đình, xã hội mà còn vì trách nhiệm với thế hệ tương lai và “để lãng phí là có tội với nhân dân” như lời căn dặn của Bác Hồ.

 

 

23. Đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

 

23. Đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng xác định: “... Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước...”.

Không gian mạng là vùng “lãnh thổ đặc biệt” của quốc gia. Đấu tranh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là nhiệm vụ quan trọng thiết yếu, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Đấu tranh trên không gian mạng

Internet và mạng xã hội đã và đang mang lại nhiều giá trị tích cực; gắn kết cộng đồng, chia sẻ tình cảm, giao lưu công việc, kinh doanh, mang lại hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế và trên các lĩnh vực chính trị, xã hội... Thông qua đó, thông tin được truyền tải nhanh chóng, có tính lan toả rộng. Tuy nhiên, trên không gian mạng, bên cạnh số đông người sử dụng có ý thức, trách nhiệm thì vẫn còn những phát ngôn lệch chuẩn, đi ngược lại đạo lý, truyền thống của dân tộc, trở thành một trong những yếu tố tiềm năng nhất trong lan truyền quan điểm sai trái, thù địch; gây khó khăn cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, đồng thuận xã hội; gây mất ổn định an ninh chính trị, chia rẽ khối đoàn kết giữa Đảng với nhân dân. Đặc biệt, các thế lực thù địch lợi dụng trí tuệ nhân tạo (AI), chat GPT... tạo ra những nguy cơ, thách thức mới.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng là mặt trận quyết liệt, phức tạp và lâu dài. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng, nhất là mạng xã hội với khả năng tương tác, tạo hiệu ứng nhanh, rất khó kiểm soát, quản lý, giám sát, kiểm duyệt. Phương thức chủ yếu là tạo nguồn tin thật-giả lẫn lộn, gây nhiễu dư luận; cổ xúy tư tưởng đối lập, kích động, chống đối, chống phá rất bài bản, chặt chẽ, có mục tiêu rõ ràng, đó là: Tuyên truyền chống phá, kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng bằng thủ đoạn “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, “diễn biến hòa bình”.

 

 

Đáng chú ý: Một số quốc gia vẫn đang bí mật triển khai các hoạt động trinh sát, giám sát, tình báo, bố trí hệ thống vũ khí mạng, sẵn sàng tấn công, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên không gian mạng. Các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội, các kênh truyền thông, kết nối các đối tượng chống đối trong và ngoài nước xuyên biên giới “lớn giọng” rao giảng và chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, cho rằng Việt Nam là “kẻ thù của internet”; phát triển các kênh truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số, xúi giục các hoạt động ly khai, tự trị; móc nối, lôi kéo các đối tượng cơ hội chính trị, có cả cán bộ đương chức, một số cán bộ nghỉ hưu và thành phần chống đối trong trí thức, văn nghệ sĩ tăng cường chống Đảng; luôn rêu rao cho cái gọi là “dân chủ tư sản”, “xã hội dân sự”.

Các thế lực thù địch lợi dụng những sơ hở trong xử lý đất đai, vụ án kinh tế, công cuộc chống tham nhũng... tán phát bài xuyên tạc, hướng lái dư luận làm rối loạn an ninh chính trị trên mạng xã hội. Lợi dụng thông tin báo chí chính thống về các sự kiện chính trị, biển, đảo, những diễn biến phức tạp trên thế giới, khu vực... để tạo khách quan, rồi lồng ghép thông tin hư cấu, bóp méo sự thật. Lợi dụng sự hiếu kỳ, thiếu hiểu biết của không ít người dân để kích động cộng đồng mạng tham gia tán phát thông tin xấu độc, tạo dư luận xã hội để từ đó đẩy lên thành các vấn đề chính trị, gây nhiễu loạn thông tin.

Bởi vậy, nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng chính là cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; là vấn đề mang tính cấp thiết, nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là ý thức, trách nhiệm của toàn xã hội.

Bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng

Chủ quyền trên không gian mạng là một bộ phận không thể tách rời của chủ quyền quốc gia và bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng chính là bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc. Bởi vậy, cần phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ hệ thống thông tin, các dữ liệu, tài nguyên số, bảo đảm tính vẹn toàn, bí mật, sẵn sàng của thông tin. Trong thời đại chuyển đổi số mạnh mẽ, xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số, công dân số, nhất là trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh, không gian mạng đã trở thành môi trường tiến hành tác chiến mạng, tác chiến thông tin, đòi hỏi phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa khai thác, sử dụng và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Trước hết, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, sự vào cuộc quyết liệt, hiệu quả của các cấp, các ngành để huy động mọi nguồn lực. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, kỹ năng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thường xuyên, liên tục với nội dung và biện pháp phù hợp, hiệu quả. Tổ chức triển khai và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 29-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược an ninh mạng quốc gia.

Hoàn thiện chiến lược bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng. Bổ sung, thể chế hoá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Tiếp tục triển khai việc xác lập và thực thi đầy đủ chủ quyền, lợi ích an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam trên không gian mạng. Hoàn thiện khung khổ luật pháp quốc gia, ban hành cơ chế, chính sách phù hợp với các quy định quốc tế, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về an toàn thông tin, an ninh mạng. Sẵn sàng ứng phó với các thách thức an ninh mạng; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Xác định rõ vai trò, tầm quan trọng của chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng. Tự chủ công nghệ, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhất là hạ tầng công nghệ, phần cứng, từ hạ tầng lõi đến các thiết bị điện tử cá nhân để hạn chế sự xâm nhập các mã độc, bởi hiện nay chúng ta cơ bản nhập khẩu từ nước ngoài nên độ bảo mật vẫn còn nhiều lỗ hổng. Chủ động “xây” và “chống”, “đấu tranh” và “bảo vệ”, kịp thời phát hiện và đáp trả các mối đe doạ an ninh mạng, gián điệp mạng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ vững chủ quyền trên không gian mạng.

Tăng cường củng cố và phát triển lực lượng chuyên trách, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao về lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng, bảo đảm tinh thông nghiệp vụ, nhạy bén về chính trị, hiểu biết pháp luật. Hiện đại hoá vũ khí, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu tác chiến mạng và an ninh mạng trong tình hình mới. Huy động sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân; phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng Quân đội, Công an, thông tin-truyền thông và các lực lượng khác, trong đó Quân đội và Công an làm nòng cốt. Tập trung đấu tranh với các đối tượng, như: Các thế lực thù địch, đồng minh, tay sai có âm mưu, hành động sử dụng không gian mạng can thiệp, xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa; các tổ chức phản động trong và ngoài nước; lực lượng cơ hội, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có âm mưu, hành động cấu kết với thế lực bên ngoài, sử dụng không gian mạng chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; các tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng thực hiện các hoạt động xâm nhập, phá hoại về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự, không gian mạng là môi trường tác chiến, cho phép người chỉ huy, người lính sử dụng hệ thống thông tin quản lý, điều hành, điều khiển vũ khí, trinh sát kỹ thuật; sử dụng các hệ thống tự động hoá chỉ huy để tương tác trong các hoạt động tác chiến. Sự ra đời không gian mạng xuất hiện hình thái chiến tranh và lực lượng tác chiến mới, ví như cuộc chiến Nga-Ukraine... đã làm thay đổi học thuyết, tư duy và phương thức tiến hành chiến tranh.

Trên cơ sở công tác quản lý của Nhà nước về các dịch vụ trên không gian mạng, cần tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành, địa phương để tạo thế trận phòng thủ vững chắc; giám sát, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, phục vụ nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; nâng cao ý thức và năng lực tự bảo vệ của người dân khi tham gia các hoạt động trên không gian mạng, tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Tăng cường hợp tác quốc tế để bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế để đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái chống phá Việt Nam. Tham gia các công ước quốc tế phù hợp với luật pháp Việt Nam. Phối hợp có hiệu quả trong thực thi các nghị định thư, thoả thuận hợp tác phòng, chống tội phạm.

Đấu tranh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong tiến trình thực hiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Không gian mạng vừa mang lại nhiều cơ hội mới để xây dựng và phát triển đất nước, nhưng cũng tạo ra không ít thách thức chi phối, ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống xã hội. Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, quyết tâm thực hiện mạnh mẽ chuyển đổi số để xây dựng Việt Nam hùng cường, giàu mạnh, phát triển.

22. Nhận diện và xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội

 

22. Nhận diện và xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường và không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, cần nhận diện rõ bối cảnh mới, những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó đề ra định hướng, giải pháp phù hợp.

Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu. 

Đặc biệt, nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán liên tiếp xảy ra. Đó là minh chứng hết sức sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta; càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản nổi, để xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, đất nước ta tiếp tục đi lên, dân tộc ta phát triển cường thịnh, trường tồn.

Tuy nhiên, đất nước ta càng đạt được những thành tựu phát triển to lớn, các thế lực thù địch, phản động lại càng hằn học tìm mọi cách để chống phá. Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo, tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, trước đây chưa từng có, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá chúng ta.

Chúng thay đổi phương thức, thủ đoạn chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng một cách tinh vi và xảo quyệt hơn. Hoạt động của chúng có lúc âm thầm, lẩn khuất, có lúc công khai, trắng trợn; thường tập trung vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hoặc thời điểm xảy ra các vụ, việc phức tạp, nhạy cảm.

Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn này ở chỗ, chúng tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi, hoang mang, dao động, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm lung lay niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tạo tâm lý bức xúc, chống đối trong xã hội. Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, luôn toan tính tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận trong đời sống chính trị - xã hội của nước ta, với âm mưu cơ bản, lâu dài và rất thâm độc là xoay chuyển quỹ đạo phát triển của đất nước ta đi chệch hướng XHCN.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội (Zalo, Facebook, TikTok…), các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”. Chúng tận dụng tối đa hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài, các kênh facebook, youtube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Chúng dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống như của Đài Truyền hình Việt Nam, Truyền hình Thông tấn và một số báo, đài chính thống để đưa tin. Mánh lới của chúng là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người.

Trong thời điểm tiến hành Đại hội đảng các cấp (năm 2020, 2021), các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị càng tăng cường, ra sức nhào nặn, bóp méo thông tin, xuyên tạc, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng tập trung công kích dự thảo các văn kiện trình Đại hội, xuyên tạc rằng các văn kiện lần này vẫn là “bổn cũ viết lại”, “sao chép theo lối mòn”, không có gì mới, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại; các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đưa ra trong dự thảo văn kiện là “bất khả thi”, “không có cơ sở để thực hiện”... Cùng với đó, chúng tấn công vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược; liên tục tung tin giả về thân thế, sự nghiệp, tài sản, “sai phạm” của lãnh đạo cấp cao; xuyên tạc công tác nhân sự của Trung ương, công tác phòng, chống tham nhũng,... hòng gây bất ổn chính trị - xã hội, gây ra những khó khăn, thách thức không nhỏ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

 

 

Nhận diện để đấu tranh

Nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động tấn công vào nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có thể nói, nắm bắt những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ đầu tiên để nhận diện rõ các đối tượng này, nhất là khi chúng là những kẻ thù giấu mặt, cơ hội chính trị, lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, để từ đó, chúng ta có đối sách, phương pháp đấu tranh phù hợp, đạt hiệu quả cao.

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Thủ đoạn mới của chúng là chuyển từ bôi nhọ bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận” sang đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập Chủ nghĩa Mác với Chủ nghĩa Lênin, kêu gọi dùng “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin mà cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên, rõ ràng rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Chúng trích dẫn một cách cắt xén, nửa vời những quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài gài bẫy bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng, sai. Chúng rêu rao rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam, giới lý luận và các nhà khoa học của ta đã dịch sai, hiểu sai quan điểm của Mác, Ph.Ăng-ghen; đồng thời, chúng diễn giải lại theo cách hiểu xuyên tạc, méo mó, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cùng với việc công kích trực tiếp vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị và xã hội.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị XHCN bằng các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng XHCN, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng XHCN”. Chúng còn cho rằng chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, với âm mưu không gì khác ngoài việc chống phá sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta.

Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai, dịch Covid-19... nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thủ đoạn thường được chúng sử dụng là: Kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi thực hành tôn giáo trái pháp luật; kích động giáo dân, đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập biểu tình. Chúng kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an. Đặc biệt, trong thời gian qua, các đối tượng chống đối triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội.

Thứ tư, lợi dụng thông tin về những mặt hạn chế, bất cập của đất nước, các thế lực thù địch, phản động khoét sâu vào những điểm yếu kém trong thực thi công vụ của một số cơ quan, cán bộ lãnh đạo, quản lý, hòng chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, âm mưu cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, hướng lái tạo ra những tư tưởng, tâm lý nghi kỵ, hẹp hòi, hành động sai trái, chống đối, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng, quy kết những biểu hiện cá biệt, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá nhân đảng viên thành bản chất của Đảng cầm quyền, từ đó kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, các thế lực thù địch, phản động tiến hành móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, hòng dựng lên “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. Chúng không ngừng tìm kiếm những phần tử thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tán phát tư tưởng phản động, chống phá Đảng, Nhà nước. Để tăng thêm sức lan tỏa, độ tin cậy của thông tin, chúng chú ý tập hợp, dẫn dụ những ý kiến, phát biểu gây “sốc” trái với đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước từ những đối tượng “dân túy”, tạo dựng ra cái gọi là chân dung “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, “những cán bộ của nhân dân”... nhằm trực tiếp tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái.

Thứ sáu, các thế lực thù địch, phản động phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài, như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xúy chủ nghĩa ly khai. Đáng chú ý, các đối tượng này triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để tung tin thất thiệt, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tổ chức tán phát các “thư ngỏ”, “tuyên bố”, “kiến nghị” để lôi kéo, kích động đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền.

 

 

Đề xuất một số giải pháp

Những âm mưu, thủ đoạn trên có thể nhận diện được nhưng để tạo sức mạnh đấu tranh có hiệu quả thì luôn cần có sự thông suốt, thống nhất tư tưởng, hành động trong toàn Đảng, tinh thần chiến đấu của từng đảng viên, sự thấu hiểu và ủng hộ của quần chúng nhân dân. Trong thời gian tới, để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp như sau:

Một là, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan Đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.   

Hai là, đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân. Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên internet và mạng xã hội. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.

Ba là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế-xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên internet. Cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu gương sáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, trước hết. Muốn đấu tranh, trước hết phải tránh xa cám dỗ, thói hư, tật xấu, xây dựng đạo đức thực thi công vụ trong sáng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; kiên trì, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để định hình, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chú ý nhận diện những vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung chống phá để xây dựng luận cứ khoa học thuyết phục, phục vụ và trực tiếp đấu tranh phản bác. Tập trung bảo vệ và làm lan tỏa những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận; trong đó, chú trọng bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận mới về: Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh trong tình hình mới... Nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời, nghiên cứu sâu các vấn đề quốc tế, các sự kiện gây “sốc” trên thế giới, để “mở mắt” cho các thế lực thù địch, phản động - những kẻ thường xuyên viện dẫn một cách lệch lạc, khập khiễng các vấn đề bên ngoài để bôi xấu, chỉ trích, xuyên tạc tình hình trong nước.

Năm là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc. Tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phương pháp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.