24. không thể phủ nhận tầm vóc vĩ đại của chủ tịch Hồ Chí Minh
Bôi nhọ hình ảnh, uy tín của Chủ tịch Hồ
Chí Minh là chiêu bài rất thâm hiểm của các thế lực thù địch, phần tử phản
động, cơ hội chính trị hòng làm mất đi tinh thần dân tộc, lòng tôn kính của
nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Gần đây, trên trang
Quyenduocbiet.com, Lê Bá Vận đăng bài “Bác Hồ khước từ Nguyễn Ái Quốc”. Theo đó,
bằng cách ngụy tạo chứng cứ, bóp méo tài liệu lịch sử, y trắng trợn xuyên tạc
“Nguyễn Ái Quốc là yếu tố bất lợi, làm hoan ố thanh danh và sự nghiệp cách mạng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, cần nhận diện,
đấu tranh phản bác và khẳng định như sau:
Thứ nhất, người Việt Nam yêu nước bằng ý chí, hành động, việc
làm đóng góp cho dân tộc, không có ai tự nhận yêu nước chỉ thông qua cái tên
hoặc lời nói. Lịch sử Việt Nam trong hàng nghìn năm đã bồi đắp
nên tình cảm yêu nước, ý chí kiên cường, dũng cảm, dám hi sinh lợi ích cá nhân,
đấu tranh giành giữ, bảo vệ độc lập dân tộc và ấm no, bình yên cho nhân dân. Yêu nước bằng ý chí, hành động, việc làm
đóng góp cho dân tộc là đặc
trưng tiêu biểu cho tính cách của con người Việt Nam và quy tụ sự đoàn kết dân tộc trở
thành cội nguồn sức mạnh nhấn chìm tất cả bè lũ
cướp nước và bán nước. Yêu nước không chỉ là tình cảm thiêng liêng của mỗi
người dân Việt Nam, mà còn gắn liền với niềm tin, khát vọng hành động xây dựng
đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc. Trong những năm tháng hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã hiện thực lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tạo ra một chế
độ mới, một thời đại mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, góp
phần to lớn vào sự nghiệp vì hòa bình, tự do, hạnh phúc của nhân loại. Điều
này, đã chứng tỏ luận điệu cho rằng “giành đặt tên” Ái quốc là “tự
cao, tự đại”, “dù
yêu nước” thực sự cũng
không nên lấy tên là Ái Quốc của Lê Bá Vận cũng chỉ là sự thêu dệt, suy diễn áp đặt để xuyên tạc
của Y.
Thứ hai, hành trình tìm đường cứu
nước, hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa, tầm vóc lịch sử
và không thể nghi ngờ. Cụm từ Việt Nam - Hồ Chí Minh
không còn xa lạ đối với bạn bè quốc tế, kể từ ngày 2-9-1945 và sau chiến thắng
Điện Biên Phủ 1954. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một biểu tượng
văn hóa, đạo đức thân thuộc trong tâm thức, trái tim của nhân dân Việt Nam và
nhân dân thế giới. Đúng
như Lê Bá Vận đã trích dẫn khẳng định: “cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một
chuỗi dài sự kiện có tầm vóc lịch sử”! Sự thật này được chứng minh bằng ý chí,
hành động dành cả cuộc đời cho đồng bào của Bác và được thể hiện ở nhiều công
trình khoa học, ấn phẩm như: Cuốn sách “Tình cảm của nhân dân
thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh (The world people's affection for President
Ho Chi Minh)” do Bộ Ngoại giao phối hợp với
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật xuất bản; trên cơ sở cuốn
sách “Hành trình theo chân Bác” của tác giả Trần Đức Tuấn, Nhà xuất bản Trẻ đã
ra mắt “Bản đồ Hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ”, đã tập hợp khối
tư liệu hình ảnh phong phú, khắc hoạ sâu sắc quá trình hoạt động cách mạng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách một người đi tìm đường cứu nước, giải phóng
dân tộc và tình cảm, niềm tin yêu, sự tôn vinh của Đảng, dân tộc Việt Nam, bạn
bè quốc tế đối với Người. Đây là những bằng chứng thép, bác bỏ luận điệu xuyên tạc cho rằng Hồ Chí
Minh và Nguyễn Ái Quốc là “2 người khác nhau”; con đường Bác chọn là “tha
phương lỡ vận”, những “nghi vấn về lai lịch”, mơ hồ về “gốc gác” của
Lê Bá Vận.
Mọi người dân Việt Nam cần chấp hành nghiêm khoản 1 Điều
20 Hiến pháp năm 2013, Nghị định 144/2021/NĐ-CP; Nghị định 14/NĐ-CP ngày 27/1/2022; không khiêu khích, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân
phẩm của người khác hoặc cung
cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc
phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Nâng cao cảnh giác
và tích cực đấu tranh bảo vệ truyền thống
tôn vinh những người có công, những anh hùng của dân tộc, giữ vững sự ổn định
chính trị, xã hội, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; đập tan những luận
điệu, hành vi sai trái của những kẻ như Lê Bá Vận./.
Gần đây, trên Bloger của hoianhemdanchu có bài viết: “Chủ
nghĩa Xã hội đối lập với độc tài Cộng sản Việt Nam”, cho rằng: chế độ độc tài cộng
sản Việt Nam và chủ nghĩa xã hội là mâu thuẫn, đối lập với nhau. Đây là mâu thuẫn
có tính chất triệt tiêu lẫn nhau. Những giá trị cốt lõi và tốt đẹp của chủ
nghĩa xã hội chưa bao giờ xuất hiện ở Việt Nam mà đang hiện diện trong đời sống
chính trị, kinh tế, xã hội hàng ngày ở các nước Tư bản Dân chủ. Do vậy, sự sụp
đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội mà Đảng cộng sản Việt Nam đang áp dụng ở Việt
Nam là tất yếu, khách quan và không thể đảo ngược. Thực tế chứng minh rằng, đi
lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của
lịch sử nhân loại.
Thứ nhất, trải qua 93 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập,
tự do; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm
chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo con đường xã hội chủ nghĩa. Có thể
khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh
tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến
bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc
trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát
triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước
trên thế giới.
Thứ hai, sau 36 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử, thay đổi đời sống mọi mặt của
người dân: kinh tế tăng trưởng ở mức tương đối cao, đời sống của nhân dân không
ngừng được cải thiện, tình hình chính trị và xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại
được mở rộng, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế,
đó chính là cơ sở kinh tế – xã hội, tiền đề, nền tảng cho chủ nghĩa xã hội hiện
thực. Cụ thể là: kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Nếu
như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng
năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt
8,2%/năm; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn
2016-2019 đạt mức bình quân 6,8%. Mặc dù năm 2020 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề
của dịch bệnh COVID-19 nhưng tốc độ tăng GDP của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước
tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới đạt 2.91%. Việc tăng trưởng kinh tế đã cơ
bản gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công
bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo
đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Công tác giảm
nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả
nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 22% năm 2005; 9,45% năm 2010, 7% năm 2015 và
còn dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Nhiều chỉ số về Giáo dục phổ
thông của Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực, như: tỷ lệ huy động trẻ 6
tuổi vào lớp 1 đạt 99% (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN, sau Singapore); tỷ lệ học
sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08%, đứng ở tốp
đầu của khối ASEAN. Vị thế các trường đại học của Việt Nam đã được nâng lên
trong bảng xếp hạng châu Á và thế giới, năm 2019 xếp thứ 68/196 quốc gia trên
thế giới, tăng 12 bậc so với năm 2018. Lần đầu tiên, Việt Nam có 4 cơ sở giáo dục
đại học được vào top 1.000 trường đại học tốt nhất thế giới. Việt Nam là một
trong số ít quốc gia có hệ thống y tế hoàn chỉnh, tổ chức rộng khắp tới tận
thôn, bản; làm chủ được nhiều kỹ thuật công nghệ cao mang tầm thế giới như:
ghép chi, tim, gan, thận…; kiểm soát được nhiều dịch bệnh nguy hiểm, trong đó
có COVID-19. Về quan hệ đối ngoại, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại
giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược
với 17 nước (tám nước là đối tác chiến lược toàn diện) và 9 nước đối tác chiến
lược; có quan hệ đối tác toàn diện với 13 nước.
Những thành tựu của công cuộc đổi mới kể trên là kết quả
của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
ta. Đây chính là tiền đề quan trọng, tạo ra tiềm lực, sức mạnh, niềm tin vào
con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tương lai của chúng ta./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét