Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học với những minh chứng sinh động bởi các sự kiện
cách mạng, những thành
tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của cácnước xã hội chủ nghĩa, trong
đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiênđịnh,
tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xãhội chủ nghĩa
mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.
Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học là cơ sở để khẳng định việc sự cần
thiết của việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng,chống
mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hóa, biến chất
trong đảng vàcả xã hội, giáo dục lý luận chính trị
- xã hội một cách cơ bản khoa học tức là ta tiếnhành củng cố niềm tin thật sự
đối với chủ nghĩa xã hội… cho mọi cán bộ, đảng viên, học sinh, sinhviên, thanh thiếu niên,
phụ nữ và nhân
dân.
Góp phần đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở rộnghợp
tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, xây dựng “kinh tế tri thức”, xây dựng
nềnkinh tế
thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa… đang là những vận hội lớn, đồng thờicũng có những thách thức lớn
đối với nhân dân ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rấtnặng nề và vẻ vang cả thế hệ
trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa,cộng sản chủ nghĩa, cộng sản
chủ nghĩa trên đất nước ta.
Chủ nghĩa xã hội
khoa học góp phần quan trọng trong việc giáo dục niềm tinkhoa
học cho Nhân dân vào
mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lênchủ
nghĩa xã hội. Niềm tin khoa học là sự thống nhất giữa
nhận thức, tình cảm, ý chí và quyết tâm trở thành động lực tinh thần hướng con
người đến hoạt động thực tiễn một cách chủ động, tự giác, sáng tạo và cách
mạng.
Đối với cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi
trấn, việc nghiên cứu nắm vững lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học giúp họ thấm
nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; nắm được quy luật vận động, phát
triển tất yếu của lịch sử, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, quản
lý của nhà nước, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ đó, tự
nguyện, tự giác chấp hành đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định
của địa phương, quyết tâm xây dựng quyê hương giàu mạnh. Đồng thời, trên cơ sở
giác ngộ sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, Chủ nghĩa xã hội khoa học
nói riêng, cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi trấn mới có cơ sở để làm
tốt nhiệm vụ tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã, phường, thị trấn lãnh đạo, chỉ đạo,
quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự theo quy định của
pháp luật; làm tốt công tác tuyên truyền
đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện
giáo dục quốc phòng và an ninh; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện;
thực hiện chính sách hậu phương quân đội, chính sách ưu đãi người có công với
cách mạng...
Nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí luôn là việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng - Ảnh: T.L
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thể hiện năng lực tư duy khoa học, sáng tạo và phẩm chất đạo đức, phong cách, lối sống thanh cao của một danh nhân văn hóa kiệt xuất nhưng lại rất gần gũi với cuộc sống, công việc hàng ngày, ai cũng có thể học tập, làm theo được. Theo Người, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí không chỉ là một yêu cầu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, là điều kiện bắt buộc trong thực thi đời sống mới mà còn là một phẩm chất đạo đức cần phải có của người cách mạng. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách mệnh dùng để huấn luyện lớp cán bộ cách mạng đầu tiên, Hồ Chí Minh đã chỉ ra tư cách của người cách mệnh: tự mình phải cần kiệm, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, ít lòng ham muốn vật chất... Trong nhiều bài viết và nói sau này, Người đều đề cập đến bốn đức quan trọng là cần, kiệm, liêm, chính. Theo Người, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu. “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí”(1).
Tấm gương mẫu mực Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí biểu hiện xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Rất nhiều câu chuyện được kể lại từ những người được sống và làm việc cùng Bác đã minh chứng cho nhân cách của vị lãnh tụ “một đời thanh bạch, chẳng vàng son”, “nâng niu tất cả, chỉ quên mình”: Trong kháng chiến chống Pháp, Bác cũng sinh hoạt như anh em bảo vệ, ăn chung với mọi người… Trời rét (...), chỉ đắp chiếc chăn cũ nhuộm nâu, quần áo của Bác đều nhuộm nâu. Bác tự đánh máy (...). Văn phòng Trung ương cử một đồng chí sang giúp Bác đánh máy, Bác phê bình là lãng phí(2). Chỉ khi sắp sang Pháp, vào cuối tháng 5/1946, Bác mới may thêm một bộ dạ đen, cũng cùng một kiểu với bộ kaki vẫn mặc. Hành lý của một vị Chủ tịch nước sang đàm phán về việc sống còn của dân tộc với Chính phủ Pháp, xếp không đầy một vali khổ nhỡ. Ngoài mấy bộ quần áo nói trên, có một đôi giầy da. Không có bác sĩ đi theo để săn sóc Bác dọc đường. Đồ dùng riêng của Bác là cái đồng hồ cũ kỹ(3).
Đồng chí Việt Phương, nguyên Thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhớ mãi về một chi tiết trong đời sống hàng ngày của Bác: Đó là bất kỳ cái gì có tí lãng phí cũng quyết không để lãng phí nhưng đã cần thì dùng cho đủ mức cần. Tháng 2/1969, Bác muốn đi thăm rừng quốc gia Cúc Phương. Một số đồng chí lãnh đạo giới thiệu ở đó có nhiều cái hay. Anh em xin Bác đi máy bay lên thẳng cho đỡ mệt nhưng Bác không chịu và nói rằng: “Các chú cho hễ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước thì đi đâu muốn dùng phương tiện gì thì dùng à? Không phải thế đâu. Để Bác khỏe lên, Bác đi ô tô đến thăm rừng Cúc Phương (...). Máy bay lên thẳng, để khi nào có người của chúng ta bị tai nạn hoặc bị đau nặng ở vùng hẻo lánh khó chạy chữa thì dùng máy bay lên thẳng đón về nơi trung tâm có bệnh viện lớn. Hoặc lúc nào nước sông lên to, mùa bão cần đi hộ đê thì lấy máy bay lên thẳng mà dùng. Chứ không phải bất kỳ đi đâu, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước cứ dùng máy bay lên thẳng mà đi”. Bác nhất định như vậy và vì thế ý muốn của Bác là đi thăm rừng Cúc Phương cuối cùng Bác không thực hiện được. Nhưng thà thế chứ Bác không dùng máy bay lên thẳng(4).
Đồng chí Lê Hữu Lập, nguyên cán bộ văn phòng Bác kể lại: “Bác Hồ tiết kiệm, cũng cần hiểu tiết kiệm của Bác. Một buổi sáng làm việc với Bác bên dưới nhà sàn, tôi đã chuẩn bị tài liệu và một chiếc bút chì xanh đỏ để trên bàn, ra ngoài một lát trở vào không biết anh nào đã cầm cây bút đi mất. Tìm không thấy mà Bác đang ngồi chờ, tôi lục ống bút chì chỉ còn một mẩu xanh đỏ bằng ngón tay, đành phải cầm vậy. Sang đọc tài liệu đến chỗ cần đánh dấu, tôi cẩn thận cầm kín mẩu bút trong lòng bàn tay, sợ Bác nhìn thấy. Lần thứ hai, Bác phát hiện. Bác với tay lấy cây bút xanh đỏ trong ống bút của Bác đưa cho tôi và vẫn nhẹ nhàng bảo: “Làm gì mà chú phải khổ sở thế!”. Bác giản dị nhưng đàng hoàng. Trời nóng ngồi làm việc một mình với chúng tôi có thể Bác mặc áo may ô, quần cộc, nhưng đi ra ngoài dù kaki, quần áo nâu cũng phải phẳng phiu. Không chỉ một lần Bác phê bình đồng chí cán bộ cao cấp ra chỗ tiếp khách không ăn mặc chỉnh tề, tuy đồng chí này không phải nhân vật chủ chốt”(5).
Cả một đời vì nước, vì dân, tất cả những gì Bác tiết kiệm trong cuộc sống cá nhân đều là để dành phục vụ tổ chức, đoàn thể, cách mạng. Đồng bào trong nước và các bạn nước ngoài tặng Bác nhiều vải lụa tốt, nhưng Bác không cho may mà dùng để làm tặng phẩm cho đồng bào và chiến sĩ có thành tích trong kháng chiến. Với sách cũng vậy, dù Bác nhận được rất nhiều sách của các tác giả, các nhà xuất bản gửi biếu, sách của những cá nhân và tổ chức nước ngoài gửi tặng qua Bộ Ngoại giao hoặc các đoàn của ta đi công tác mang về... nhưng Bác không có thư viện riêng. Sách báo đọc xong, Bác thường gửi tới các nơi cần sử dụng. Những sách báo cần làm tư liệu, Bác giữ lại, nhưng sử dụng xong Bác cũng gửi đi tới các nơi cần sử dụng. Bác có một cuốn sổ tiết kiệm (đứng tên đồng chí Lê Hữu Lập) gửi ở quầy tiết kiệm phố Hàng Gai, Hà Nội. Tiền tiết kiệm được dành dụm từ tiền lương hàng tháng còn lại sau khi trừ mọi chi tiêu sinh hoạt và tiền nhuận bút mà Bác viết bài cho báo Nhân dân. Bác thường dùng tiền tiết kiệm làm quà tặng trong những dịp cần thiết (như có dịp đi công tác về, Bác thấy bộ đội phòng không trực chiến dưới ánh nắng chói chang của mùa hè, Bác đã chỉ thị rút số tiền tiết kiệm trong sổ trao cho Bộ Quốc phòng làm quà tặng bộ đội phòng không để có thêm nước giải khát). Dịp Bác đi nước ngoài dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền và Bác đã dặn thư ký Vũ Kỳ nhập số tiền đó vào quỹ Đảng. Bác coi số tiền đó là của chung chứ không để vào sổ tiết kiệm của Người.
Trong tình hình kinh tế và chính trị của dân ta hồi đó, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh hoạt bình thường như cán bộ và nhân dân chứng tỏ Bác hiểu rất rõ, rất sát tình hình đời sống vật chất của nhân dân và cán bộ, đồng thời thể hiện tấm lòng của Bác, một lãnh tụ muốn cùng chịu gian khổ với dân. Sự giản dị ấy, phong thái ung dung ấy kết hợp nhuần nhị những nét cao đẹp của tính cách dân tộc với đạo đức cộng sản, có sức thu hút mạnh mẽ trái tim mọi người và khiến cho Bác càng trở nên vĩ đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm, tích cực chống lãng phí để xây dựng đất nước, xây dựng CNXH. Người luôn nhấn mạnh đến vấn đề này tại mỗi hội nghị, mỗi đại hội, mỗi kỳ họp Quốc hội và nhiều bài nói, bài viết khác. Trong bài Quốc hội ta vĩ đại thật (Báo Nhân dân, số 2304, ngày 10/7/1960) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến nhiệm vụ của mỗi vị đại biểu Quốc hội để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân là phải: “- Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; - Một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội; - Làm gương mẫu trong việc thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô”. Người còn viết nhiều tài liệu để tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân, yêu cầu trong mọi hành động, mọi lĩnh vực và mỗi người đều phải tiết kiệm, chống lãng phí. Bác lưu ý đặc biệt việc phải triệt để tiết kiệm của công vì đó là mồ hôi, công sức của dân, xương máu của bộ đội, chiến sĩ. Với viên chức tại các công sở, Bác yêu cầu: “phải biết tiết kiệm đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các sở. Rút bớt hết những sự gì không cần thiết, chớ phao phí giấy má và các thứ của công(6). Với bộ đội, Bác căn dặn rất cụ thể về việc giữ gìn, bảo vệ chiến lợi phẩm bởi đó cũng là của công, của nhân dân, của quốc gia, không phải của địch; chiến sĩ ta phải đổ máu mới lấy lại được cho nên “Không được phung phí, hoặc chiếm làm của riêng cá nhân, khi canh gác phải biết thu dọn cho ngăn nắp, và che mưa nắng cho chu đáo”(7). Bác còn chỉ dẫn các cấp chỉ huy trong quân đội: “Không tiêu hoang phí tiền riêng của các chú cũng chưa phải là Kiệm. Các chú còn phải biết tiết kiệm của công, dạy cho bộ đội biết tiết kiệm của công, thì mới thật là Kiệm. Các chú không lấy của công làm của tư, không lấy chiến lợi phẩm về cho gia đình bè bạn mới chỉ là Liêm một nửa. Các chú phải dạy cho bộ đội và khuyến khích nhân dân không lấy của công, không lấy chiến lợi phẩm làm của riêng mới thật là Liêm”(8). Với thanh niên là những chủ nhân tương lai của nước nhà, Bác đặt ra yêu cầu không chỉ giáo dục cho họ về vấn đề tiết kiệm, chống lãng phí mà còn phải rèn luyện tạo thành thói quen trong công việc và cuộc sống hàng ngày. Từ tháng 2/1955, trong bài viết “Bảo vệ tài sản công”, Bác đã căn dặn: “Các ngành giáo dục cần phải bồi dưỡng cho thanh niên thói quen tiết kiệm, bảo vệ của chung; chống lãng phí xa hoa, xem khinh lao động” . Với chị em phụ nữ Việt Nam vốn có tính cách tốt đẹp là cần cù, chịu khó, biết lo toan, Bác khuyến khích chị em hăng hái thi đua thực hiện “cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình”. Với cán bộ ngành ngoại giao, Bác căn dặn những điều cần chú ý: “Cán bộ ngoại giao ta ra ngoài phải có hình thức làm sao cho gọn ghẽ, sạch sẽ, nhưng không được lãng phí, xa hoa. Trường hợp làm tiệc mặn, song nếu ta làm được tiệc trà thay vào là tốt nhất. Ta không thể đua với người được. Người giàu có, còn ta thì nghèo. Chính vì vậy, phải hết sức tiết kiệm. Ngoại giao càng phải tiết kiệm”(9). Trong Thư gửi đồng bào công giáo nhân dịp lễ Nôen 1953, Bác kêu gọi đồng bào công giáo tham gia kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do. Bác khẳng định đó cũng chính là “làm trọn chính sách của Chính phủ cũng là làm trọn tinh thần của Chúa Cơ đốc”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết nhiều bài báo biểu dương trực tiếp các cá nhân, tập thể kiểu mẫu, gương mẫu, điển hình trong sản xuất và tiết kiệm, chống lãng phí như trong bài báo Một làng tiến đến kiểu mẫu (Báo Cứu quốc số 2141, ngày 12/8/1952) Người đã làm thơ ca ngợi gương của làng Thọ Xuân (Thanh Hóa):“Phân công hợp lý cả làng/ Sản xuất tiết kiệm rõ ràng thi đua/ Một mùa gặt bằng hai mùa/ Dân no, nước mạnh tha hồ đánh Tây”; bài báo Công nhân gương mẫu và gương mẫu của công nhân (Báo Nhân dân, số 247, ngày 27/10/1954) ca ngợi các cá nhân và tập thể công nhân các nhà máy Gia Lâm, nhà máy điện Bờ Hồ trong thực hiện cần kiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; bài báo Gương tốt của thanh niên Lỗ Khê (Báo Nhân dân, số 3582, ngày 18/1/1964) với kế hoạch Tết tươi vui và tiết kiệm, tạo phong trào thi đua cho các chi đoàn Hà Nội và nhiều tỉnh khác… Bởi theo quan niệm của Người, một tấm gương sống, một điển hình thực tế và sinh động có giá trị thuyết phục hơn nhiều lần những bài diễn văn tuyên truyền. Nếu cán bộ, đảng viên, công chức kêu gọi nhân dân cần kiệm mà mình lười biếng, sống xa xỉ, lãng phí thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích.
Cùng với tuyên truyền, kêu gọi thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bản thân Người luôn gương mẫu cho cán bộ, đảng viên, nhân dân làm theo. Những ngày đầu vừa thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trước nạn đói đang trầm trọng, trên tinh thần “sẻ cơm nhường áo”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với đồng bào cả nước và bản thân Người đã gương mẫu thực hiện trước: “Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(10). Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Bác kể lại: Nhân dân ta lúc đó dù còn nhiều khó khăn nhưng Cụ Hồ đã kêu gọi thì từ Nam chí Bắc đều hưởng ứng nhiệt liệt. Bởi, không phải Cụ Hồ chỉ kêu gọi mà chính Cụ Hồ đã làm, đã thực hiện và là người thực hiện đầu tiên... Nhớ hồi đó có nhiều thư từ khắp nơi gửi đến, có thư của các cụ già, của phụ nữ, của cả các cháu thiếu nhi... gửi đến Chính phủ, đến Cụ Hồ, đề nghị Bác đừng nhịn ăn. Cảm động hơn có nhiều người xin nhịn thêm để thay phần cho Bác. Nhưng câu trả lời là: “Tôi là người nêu ra, tôi phải làm gương mẫu”(11). Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được hàng vạn tấn gạo cứu đói. Phong trào tăng gia sản xuất được đẩy mạnh, diện tích trồng lúa và hoa màu tăng lên, nạn đói đã sớm được khắc phục.
Tấm gương đạo đức sống trong sạch, tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là mẫu mực cho mọi người Việt Nam học tập, làm theo mà còn được báo chí nước ngoài, bạn bè quốc tế nhiều lần nhắc đến, mến phục. Học giả Trung Quốc Cốc Nguyên Dương nhận xét: “Suốt đời, Người luôn luôn gìn giữ đạo đức cao đẹp “cần kiệm liêm chính” và “chí công vô tư”, dùng 8 chữ đó để giáo dục cán bộ và nhân dân”(12). Đồng chí Gian-nét Véc-mét Tô-rê, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp viết: “Người sống trong một căn nhà nhỏ đơn sơ, trong đó chỉ có một cái giường con, và một chiếc bàn làm việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mặc chiếc áo khoác ngoài cũ, đi đôi dép cao su làm bằng lốp ô tô, không có gì hơn thế. Giữa bạn bè người ta không biết lấy gì biếu Chủ tịch mà hình như Chủ tịch cũng không cần điều gì khác hơn là sự ủng hộ chính nghĩa đối với Việt Nam”(13). Nhà báo Pháp Phơ-răng-xoa Phông-vi-ây An-ki-ê ca ngợi: “Vinh quang đến tột đỉnh, nhưng con người Cụ vẫn như trước kia, nghĩa là vẫn ghét xa hoa, hào nhoáng, vẫn giản dị về ăn mặc cũng như trong tác phong sinh hoạt. Khi Cụ để cho các em học sinh vuốt râu mình lúc đến thăm trường, hoặc khi Cụ đi đôi dép bằng lốp cao su, thì đều không có chút gì là mị dân hoặc giả tạo cả”(14). Như vậy, nếp sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là tiết kiệm mà mang ý nghĩa rất cao đẹp.
2. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiết kiệm không chỉ xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước, mà còn từ tấm lòng yêu nước thương dân tha thiết. Điều này không chỉ cần thiết trong thời kỳ đất nước còn trong chiến tranh, mà còn có giá trị thực tiễn đối với giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đời sống của nhân dân lao động được cải thiện rõ rệt. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí luôn được Ðảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm chỉ đạo, là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, xuyên suốt từ chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách đến tổ chức thực hiện, nhằm quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế cho phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã góp phần đưa công cuộc đổi mới đạt những thành tựu vĩ đại; đạt và vượt hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội qua các nhiệm kỳ; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả, lãng phí còn diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều dạng thức khác nhau, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho phát triển. Trong văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã coi lãng phí là một căn bệnh - “bệnh lãng phí”, nếu không có những giải pháp đồng bộ phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả sẽ gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho phát triển. Mới đây, trong bài viết Chống lãng phí, Tổng bí thư Tô Lâm cũng chỉ ra thực trạng lãng phí đã và đang còn tồn tại ở nước ta, thậm chí là tồn tại dai dẳng, không chỉ khiến mất đi tài sản công, lãng phí nguồn lực quốc gia, thu hẹp những cơ hội phát triển mà đau xót hơn là gây mất lòng tin trong nhân dân đối với Đảng cầm quyền.
Việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí vào thực tiễn để đưa ra giải pháp phù hợp đối với mỗi tổ chức, đơn vị trong giai đoạn hiện nay là nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ những giải pháp để chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Người nhấn mạnh, muốn đánh thắng nó, phải có chuẩn bị thật chu đáo, có kế hoạch, có tổ chức, có lãnh đạo và điều quan trọng là phải đào tạo được một đội ngũ cán bộ trung kiên làm nòng cốt để chống. Người phản đối việc bố trí những người đã “nhúng chàm” làm nhiệm vụ chống tham ô, lãng phí, quan liêu, vì làm như vậy, thực chất là “nối giáo cho giặc”. Theo quan điểm, tư tưởng của Người, các bước cần tiến hành để trừ khử tham ô, lãng phí, quan liêu là:
Một là, phải làm tốt công tác tư tưởng, làm cho mọi người hiểu tham ô, lãng phí, quan liêu có hại cho dân, cho nước như thế nào và vì sao phải chống những nạn ấy? Phải kiên quyết sửa chữa những nhận thức không đúng về chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Để có thể tiết kiệm, chống lãng phí, cán bộ, đảng viên cũng cần rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc từ đó tạo ra sự tin tưởng, đồng thuận trong dân, tạo ảnh hưởng tích cực đến công tác xây dựng và phát triển đất nước.
Hai là, phải nghiên cứu để có lý luận chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Nghiên cứu kỹ và vận dụng tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu; phải sửa đổi lối làm việc; nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình. Đặc biệt, đối với cán bộ cao cấp phải “thật thà tự kiểm thảo để làm gương mẫu”; phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Phải kiên quyết “nhổ cỏ” và khi đã nhổ thì phải nhổ tận gốc rễ.
Ba là, phải nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc, nâng cao trình độ quản lý kinh tế - tài chính; tăng cường kiểm tra, giám sát, không để tạo kẽ hở cho bọn tham ô, lãng phí, quan liêu đục khoét. Trong cuộc đấu tranh này, phải dựa vào nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi, huy động lực lượng quần chúng tham gia. “Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng”.
Bốn là, phải có phương pháp giữ gìn tiền bạc, phải thực hành một chế độ tiết kiệm nghiêm ngặt, nhất là tiết kiệm trong chi tiêu ở các cơ quan hành chính, giảm thiểu việc họp hành nếu xét thấy nó không cần thiết.
Năm là, trong công cuộc đấu tranh chống lãng phí, các cơ quan thanh tra nhà nước đóng vai trò rất quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “các ban thanh tra phải chú ý kiểm tra chống lãng phí, tham ô. Phát hiện ra những việc lãng phí, tham ô, chẳng những cần báo cáo với Trung ương và Chính phủ biết và giải quyết mà còn giúp các cấp lãnh đạo địa phương tìm ra những biện pháp để tích cực chống lãng phí, tham ô”. Như vậy, thanh tra, kiểm tra không những để phát hiện vi phạm, phát hiện lãng phí để xử lý. Quan trọng hơn, qua kiểm tra, các cơ quan thanh tra nhà nước tìm hiểu nguyên nhân, tìm ra biện pháp chống lãng phí, từ đó, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với bản thân các cơ quan là đối tượng thanh tra, kiểm tra để có các giải pháp hữu hiệu nhằm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có hiệu quả.
Cuộc đấu tranh chống lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong cuộc chiến với thứ “giặc nội xâm” đầy cam go, phức tạp này, cần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên và người lao động, trước hết là sự nêu gương của người đứng đầu tại từng cơ quan, tổ chức, cá nhân khu vực công, khu vực tư để từ đó “tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, trở thành tự nguyện, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân, văn hóa ứng xử trong thời đại mới” như Tổng bí thư Tô Lâm đã kêu gọi./.
Tiến hành cách mạng về chính trị nhằm lật đổ quyền thống trị của giai cấp
tư sản để giành quyền lãnh đạo xã hội về giai cấp công nhân, giải phóng nhân
dân lao động khỏi địa vị nô lệ và trở thành người làm chủ xã hội mới. Đây là
nội dung quan
trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân
lãnh đạo, là cơ sở và tiền đềđể thực
hiện các nội dung về kinh tế, văn hoá và tư tưởng. Do vậy, để xoá bỏ xã hội tư bản
chủ nghĩa và xây dựng xã hội mới, thì giai cấp công nhân thông qua chính đảng
của mình lãnh đạo nhân dân lao động làm cuộc cách mạng về chính trị là màn giáo
đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Để tiến hành nội dung cách mạng về chính trị giành
thắng lợi, giai cấp công nhân ở mỗi nước phải tập hợp được đông đảo quần chúng
nhân dân lao động dùng bạo lực cách mạng để đập tan nhà nước tư sản, xây dựng
nhà nước chuyên chính vô sản. Sau khi giành được chính quyền nhà nước, giai cấp
công nhân thực hiện bước tiếp theo là không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt cho
nhân dân lao động, bảo đảm cho họ thực hiện quyền làm chủ xã hội, thực hiện các
quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Nhà nước chuyên chính vô sản phải thường xuyên
được củng cố vững chắc, không chia sẻ quyền lực chính trị của giai cấp công
nhân cho bất kỳ một lực lượng nào, từng bước xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ
nghĩa.
Tính chất của một
cuộc cách mạng là yếu tố cơ bản để phân biệt các cuộc cách mạng khác nhau trong
lịch sử. Cơ sở để xác định tính chất của một cuộc cách mạng là dựa vào bản chất
của giai cấp lãnh đạo cách mạng và mục tiêu, nhiệm vụ mà cuộc cách mạng đó
hướng tới, giải quyết. Cách mạng xã hội chủ nghĩa mang tính chất toàn diện,
triệt để, gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài; mang tính nhân dân; tính
quốc tế sâu sắc.
Tính chất toàn diện, triệt để, gay go, quyết liệt,
phức tạp và lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh khách quan tính chất cuộc
đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Cách mạng xã hội
chủ nghĩa thực chất là hệ quả tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp
vô sản với giai cấp tư sản, đây là cuộc đấu tranh cuối cùng trong lịch sử xã
hội loài người, diễn ra trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm xoá bỏ triệt để mọi nguồn gốc của áp bức, bóc
lột và bất công, xây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa không còn áp
bức, bóc lột. Đây là công việc vô cùng
khó khăn gian khổ, phức tạp và lâu dài vì những nhân tố mới của xã hội - xã hội
chủ nghĩa không có sẵn trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa.Mặt khác giai cấp tư sản là một lực lượng
quốc tế, nó có thể bị lật đổ địa vị thống trị xã hội ở một quốc gia, những mối
liên hệ quốc tế và những tiềm lực kinh tế, quân sự, chính trị, còn tồn tại lâu
dài. Thực tế đã chứng minh, giai cấp công nhân ở một số nước thông qua vai trò
lãnh đạo của Đảng cộng sản giành được chính quyền nhà nước, đã có một quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng do sai lầm chủ quan kết hợp với sự chống phá
của các lực lượng phản cách mạng đã quay lại phát triển theo con đường tư bản
chủ nghĩa. Chủ nghĩa đế quốc, cùng các thế lực thù địch luôn sử dụng mọi âm
mưu, thủ đoạn để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa để lấy lại và mở rộng phạm
vi của chủ nghĩa tư bản.
Tính chất nhân dân của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
được biểu hiện đây là cuộc cách mạng do nhân dân lao động tiến hành thông qua
vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, đem lại lợi ích chính đáng và đáp ứng
nguyện vọng giải phóng họ khỏi mọi áp bức, bóc lột của chế độ xã hội tư bản chủ
nghĩa. Còn các cuộc cách mạng xã hội khác đã diễn ra trong lịch sử chỉ là những
cuộc cách mạng đem lại lợi ích cho một bộ phận thiểu số - giai cấp thống trị,
khi thắng lợi quay lưng lại với nhân dân lao động, không đem lại lợi ích chính
đáng cho họ. Vì vậy, trong tất cả các cuộc cách mạng xã hội đã diễn ra, thì chỉ
có cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng mang tính nhân dân sâu
sắc.
Tính chất quốc tế của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
được thể hiện đây là cuộc cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo khi giành
được thắng lợi sẽ ảnh hưởng to lớn đến xu hướng vận động, phát triển của nhân
loại tiến bộ. Nó sẽ thu hẹp phạm vi tồn tại thực tế của chủ nghĩa tư bản thế
giới, từng bước hoàn thành sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân là
xoá bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản văn minh trên toàn thế giới. Đồng thời, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở mỗi nước muốn giành được thắng lợi phải có sự giúp đỡ của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới cả về vật chất và tinh thần.
Thực tiễn cách
mạng tháng Mười Nga năm 1917 nói riêng, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
các nước nói chung là những bằng chứng sinh động phản ánh sâu sắc tính chất của
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng Quân đội hiện đại không thể không hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 xác định: “Phấn đấu đến năm 2030, công nghiệp quốc phòng sẽ có sức cạnh tranh quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu”. Đây là chủ trương có tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta trong tự chủ, hiện đại hóa nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch xuyên tạc Việt Nam “cung ứng, xuất khẩu sản phẩm quốc phòng ra thế giới là trái với chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam”. Luận điệu này là vô căn cứ, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn nên cần phải phản bác.
Xuyên tạc nhằm chống phá mục đích phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam
Đảng, Nhà nước Việt Nam định hướng xây dựng, hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng là chủ trương đúng đắn có tầm nhìn chiến lược trong bối cảnh diễn biến phức tạp của tình hình khu vực, thế giới đang đe dọa tiềm tàng đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Một trong những mục tiêu có tính đột phá trong phát triển công nghiệp quốc phòng được công bố trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 là phấn đấu đến năm 2030, các sản phẩm được sản xuất từ nền công nghiệp quốc phòng nội địa sẽ tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu (tức là xuất khẩu sản phẩm quốc phòng). Đây là mục tiêu có tính đột phá, đặt ra yêu cầu rất cao phải xây dựng được nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự cường, hiện đại, có sức cạnh tranh quốc tế.
Đây là chủ trương đúng đắn, nhưng bị các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo. Các đối tượng chống phá cho rằng, Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm công nghiệp quốc phòng là “buôn bán vũ khí để kiếm lời, bán vũ khí là gián tiếp gây chiến tranh, xung đột, bất ổn”, “nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam cũng chẳng khác gì bản chất của chủ nghĩa tư bản, trái ngược với bản chất của nền quốc phòng hòa bình, tự vệ”. Đây là luận điệu không đúng sự thật, cố tình chống phá bản chất, mục đích phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Việt Nam tham gia cung ứng sản phẩm quốc phòng chỉ vì mục đích hòa bình, tự vệ
Cần khẳng định rằng, Việt Nam tham gia cung ứng, xuất khẩu sản phẩm quốc phòng không trái ngược với tính chất của nền quốc phòng hòa bình, tự vệ Việt Nam đã công bố với thế giới. Điều đó thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Một là, tính chất của nền quốc phòng Việt Nam là hòa bình, tự vệ, do đó chủ trương tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm quốc phòng không nằm ngoài mục đích hòa bình, tự vệ. Việt Nam công bố công khai với thế giới chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ với mục đích thực hiện quyền tự vệ quốc gia chính đáng. Đây là định hướng căn bản, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tổ chức, hoạt động quốc phòng từ xây dựng, hiện đại hóa Quân đội đến xây dựng, hiện đại hóa các mặt, các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực công nghiệp quốc phòng. Điều đó cũng có nghĩa là mục đích, tính chất của nền quốc phòng Việt Nam chi phối xuyên suốt mục đích xây dựng, hiện đại hóa nền công nghiệp quốc phòng. Theo đó, nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam được xây dựng tự chủ, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng để sản xuất các loại vũ khí, trang bị hiện đại vừa phục vụ mục đích xây dựng Quân đội hiện đại, đủ sức tự chủ với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cũng có khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu để đóng góp xây dựng nền hòa bình thế giới dưới góc độ gia tăng khả năng tự vệ chính đáng của các quốc gia đối tác.
Hai là, xuất khẩu sản phẩm quốc phòng luôn tuân thủ công ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam tham gia xuất khẩu sản phẩm quốc phòng luôn tuân thủ các nguyên tắc theo công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc tuân thủ các thỏa thuận hợp tác song phương, đa phương trong lĩnh vực quốc phòng dựa trên các điều ước quốc tế là nguyên tắc bắt buộc để bảo đảm trật tự thế giới, tránh việc tùy tiện trong trao đổi, mua bán vũ khí, trang bị quân sự vì mục đích chạy đua vũ trang, gây chiến tranh, xung đột, kích động mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, đe dọa sự ổn định và hòa bình thế giới.
Cán bộ Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) kiểm tra sản phẩm công nghiệp quốc phòng công nghệ cao. Ảnh: CHÍ PHAN
Ba là, đối tác để Việt Nam có thể xuất khẩu sản phẩm quốc phòng phải là quốc gia hợp pháp được quốc tế công nhận và là thành viên của Liên hợp quốc có nhu cầu tự vệ chính đáng, phù hợp với chính sách quốc phòng Việt Nam. Theo đó, nếu các đối tác là quốc gia hợp pháp nhưng mục đích sử dụng vũ khí, trang bị được cung ứng từ Việt Nam không được cam kết rõ ràng; hoặc các đối tác không phải là quốc gia hợp pháp được công nhận theo công ước quốc tế; các tổ chức khủng bố; các tổ chức ly khai... không phải là đối tác để Việt Nam cung ứng các sản phẩm quốc phòng. Chỉ các quốc gia hợp pháp được công nhận theo công ước quốc tế, có cam kết sử dụng vũ khí, trang bị vì mục đích hòa bình, tự vệ, mục đích sử dụng đó cũng không nhằm vào bất kể quốc gia thứ ba nào mới là đối tác để Việt Nam cung ứng các sản phẩm quốc phòng theo thỏa thuận.
Bốn là, mục đích sử dụng sản phẩm quốc phòng sản xuất từ Việt Nam là thực hiện quyền tự vệ quốc gia chính đáng. Đối tác mua vũ khí, trang bị hoặc chuyển giao công nghệ sản xuất của nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam phải được thẩm định chặt chẽ về tính pháp lý, nhu cầu, mục đích sử dụng. Theo đó, vũ khí, trang bị là sản phẩm quốc phòng Việt Nam sẽ được xuất khẩu cho đối tác sử dụng với mục đích thực hiện quyền tự vệ chính đáng khi bị đe dọa, bị xâm phạm, bị tấn công xâm lược. Quốc gia đối tác với tư cách là người sử dụng cuối cùng sản phẩm vũ khí, trang bị từ Việt Nam phải có các điều khoản cam kết chặt chẽ, rõ ràng về mục đích sử dụng. Việc sử dụng chỉ với mục đích duy nhất là tự vệ, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia đối tác mà không nhằm gây chiến tranh, xung đột với quốc gia khác, không nhằm vào hoặc đe dọa bất kỳ quốc gia nào.
Năm là, chủng loại vũ khí, trang bị Việt Nam xuất khẩu là các loại có khả năng phòng thủ. Cũng giống như chính sách mua sắm vũ khí, trang bị trong nước, để phù hợp với khả năng hòa bình, tự vệ, Việt Nam chỉ chủ trương mua các loại vũ khí, trang bị, phương tiện có tính năng phòng thủ phù hợp để tự vệ trước các hình thái chiến tranh xâm lược. Việt Nam không chủ trương mua sắm vũ khí tấn công chiến lược, không tham gia chạy đua vũ trang, thực hiện chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ trong mua sắm vũ khí, trang bị. Việc tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm quốc phòng Việt Nam cho các quốc gia đối tác cũng như vậy, sẽ cung ứng vũ khí, trang bị có tính năng phòng thủ, bảo vệ.
Xây dựng công nghiệp quốc phòng Việt Nam có đủ khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
Trước hết, cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trên cơ sở đó tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức làm cho cán bộ, đảng viên, mọi tầng lớp nhân dân nhận thức rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm trong xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Bên cạnh đó, cần làm tốt công tác truyền thông về ý nghĩa phát triển, hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng, sự cần thiết tham gia hội nhập quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng nói chung, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm quốc phòng nói riêng để tạo sự yên tâm, tin tưởng, ủng hộ, hợp tác của cộng đồng quốc tế, của các đối tác nước ngoài về chủ trương, chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam.
Vấn đề có ý nghĩa then chốt là xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia có trình độ chuyên sâu về nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị, đồng thời có khả năng, nghiệp vụ, trình độ pháp lý, ngoại ngữ để đàm phán, thẩm định đối tác trong lĩnh vực mua bán, chuyển giao công nghệ, sản phẩm quốc phòng. Đó là cơ sở nền tảng vững chắc để thực hiện đúng định hướng chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ trong tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm quốc phòng. Do vậy cần thúc đẩy, nâng cao chất lượng đào tạo các lĩnh vực chuyên sâu về nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị trong nước, đồng thời đẩy mạnh hợp tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia khoa học quân sự, chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ vũ khí, trang bị với các đối tác nước ngoài, nhất là các đối tác chiến lược toàn diện, các đối tác có nền công nghiệp quốc phòng tiên tiến, hiện đại.
Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học-công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số trong sản xuất quốc phòng để nghiên cứu, sản xuất sản phẩm công nghiệp quốc phòng phù hợp với từng đối tác, từng thị trường trong khuôn khổ các nội dung hợp tác quốc tế. Trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và chuyển đổi nền kinh tế số, công nghiệp quốc phòng muốn đạt trình độ hiện đại, đủ sức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu thì không thể nằm ngoài xu thế đó. Việc thay đổi tư duy, cách tiếp cận các dạng thức sản xuất, kinh doanh, thương mại trên nền tảng hạ tầng kinh tế số là một tất yếu. Theo đó, nền công nghiệp quốc phòng phải từng bước cập nhật, ứng dụng nhanh thành tựu Cách mạng công nghiệp 4.0 theo hướng tập trung, chuyên môn hóa, đồng bộ hóa, kết nối hóa để nghiên cứu, thiết kế, sản xuất sản phẩm vũ khí, trang bị mới.
Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục đưa ra các luận điệu xuyên tạc, chống phá vấn đề tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của sản phẩm công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Âm mưu của chúng là tìm cách gây nhiễu loạn thông tin, xuyên tạc sự thật để gây áp lực ngăn cản Việt Nam tham gia thị trường thế giới. Do đó, cần tiếp tục phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng; phát huy vai trò của các cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà nghiên cứu và các cơ quan báo chí truyền thông để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc của thế lực thù địch. Cùng với đó, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đồng thuận, ủng hộ chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam; đồng thời củng cố niềm tin của bạn bè quốc tế đối với chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam.
Vào những năm cuối thế kỷ XX, mô hình chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào. Chủ nghĩa tư bảncó sự điều chỉnh thích nghi. Điều đó làm cho vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam càng trở lên khó khăn. Việt Nam mất đi chỗ dựa vững chắc từ thành trì chủ
nghĩa xã hội. Đồng thời, đây là cơ hội cho các
thế lực chống cộng, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa xã hội.
Trong nội bộ Đảng và nhân dân ta có một số người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của
chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa ở Đông
Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta. Điều đó, đặt ra những khó khăn, thách thức trong cuộc
đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ mục tiêu con đường độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng đem lại những thời cơ, vận hội, đồng thời cũng làm xuất hiện cả những
thách thức, nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nổi lên đó làkhủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu tác động tiêu
cực đến mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam.Hậu quả của nó tác động đến tất cả các mặt của đời
sống: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng,an ninh.
Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ do mâu thuẫn sắc
tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, can thiệp lật đổ, khủng bố tiếp
diễn biến phức
tạp; các điểm nóng vẫn tồn tại và mở rộng ở nhiều khu vực trên thế giới. Bên
cạnh đó, cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách
thức an ninh phi truyền thống, đang tiếp tục diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm
trọng đến sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia. Đó là những vấn đề mang tính toàn cầu không
một quốc gia nào có thể tự giải quyết mà cần sự chung tay của cộng đồng quốc
tế.
Chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống
phá cách mạng Việt Nam với chiến lược toàn cầu phản cách mạng “diễn biến hòa
bình”, là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam. Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực
thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị bằng mọi
thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.Mục đích chính trị của các thế lực thù địch, phản
động, cơ hội chính trị là nhằm phủ nhận vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá
độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,
từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đây là những tác động tiêu cực đến tâm lý, tình cảm,
niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào con đường cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong
kiến, trình độ sản xuất thấp, tàn dư của xã hội cũ còn tồn tại nặng nề. “Càng đi vào
chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã
hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự
biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”[1].Cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi, nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp. Lực lượng sản xuất ở trình độ
thấp; nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại đan xen. Hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa còn nhiều bất cập, hạn chế; cơ cấu giai cấp -
xã hội đa dạng, phức tạp, tồn tại đa xen nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội; cuộc
đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra gay gắt, phức tạp. Văn hoá, tinh thần, tâm lý,
tập quán, lối sống cũ còn tồn tại; sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hoá, lối sống tư
sản.
Hai cuộc chiến tranh do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra đối với dân
tộc ta để lại hậu quả hết sức nặng nề, nhất là sự tổn thất về sinh mạng con
người không gì có thể bù đắp được; sự tàn phá các cơ sở kinh tế, cơ sở hạ tầng;
các công trình, các di sản văn hoá; sự tàn phá môi trường sinh thái… Điều đó, làm mất đi nguồn lực vô cùng to lớn để xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ; không những thế, nhiều di chứng, nhiều hậu quả
của chiến tranh còn ảnh hưởng đến tận ngày nay không dễ gì khắc phục. Đây là
những tác động tiêu cực, những khó khăn rất lớn đối với nước ta để vượt qua
thời kỳquá độ lên chủ nghĩa
xã hội.
[1]Nguyễn Phú Trọng, Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2022, tr. 25.
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Tuy nhiên, thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch và đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là khi Đảng chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.
Sự xuyên tạc, bịa đặt thâm độc
Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là nhằm “hạ bệ thần tượng”, thay đổi tình cảm của dân tộc với lãnh tụ Hồ Chí Minh; tạo tâm lý hoang mang, dao động, thiếu tin tưởng vào tư tưởng Hồ Chí Minh; sâu xa là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên “khoảng trống” về tư tưởng để thực hiện “chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”.
Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Hà Giang, tháng 3-1961. Ảnh tư liệu
Các đối tượng khi xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh thường tập trung vào: Thứ nhất, chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ hai, xuyên tạc những tư tưởng cụ thể trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, chẳng hạn như: Không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, hoặc có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ là những lý thuyết giáo điều; tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là “tư biện, lý thuyết, ảo tưởng, phi thực tế”... Thứ ba, xuyên tạc về bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, như: Tư tưởng Hồ Chí Minh là “sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước”; tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời, lạc hậu”, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới...
Để xuyên tạc, xóa bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt. Chúng thường lập luận dựa trên những nguồn thông tin không rõ nguồn gốc, những hình ảnh đã photoshop hoặc cắt xén. Hoang đường hơn, chúng còn dựng lên những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, những nhân chứng giả, bằng chứng giả và đưa ra những quy kết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đầy tính tư biện.
Các thế lực thù địch thường sử dụng các diễn đàn công khai như tổ chức các hội thảo, tọa đàm, trao đổi, phỏng vấn... Đặc biệt, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của truyền thông, chúng triệt để lợi dụng vùng “lãnh thổ đặc biệt” là không gian mạng với hàng nghìn trang mạng xã hội, trong đó có nhiều trang giả mạo các cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền những nội dung chống phá....
Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta kỷ nguyên rực rỡ trong lịch sử vinh quang của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Trong suốt thời gian qua, vận dụng đúng đắn, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng giành được những thắng lợi vẻ vang.
Tình cảm mà nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước dành cho Người là điều không thể phủ nhận. Không những vậy, những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ghi nhận bởi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), của các chính khách, giới nghiên cứu quốc tế, từ các nước xã hội chủ nghĩa cho đến tư bản chủ nghĩa... Do vậy, mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận.
Bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay
Nhận thức về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người ở vị trí quan trọng. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đó, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận thức toàn diện về nội dung, bản chất và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần củng cố niềm tin, trau dồi bản lĩnh chính trị, cung cấp cơ sở luận cứ đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả và sắc bén nhằm làm thất bại những chiêu bài xuyên tạc, bóp méo sự thật về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trái lại, nhận thức chưa đúng đắn, toàn diện có thể dẫn tới việc đấu tranh trở nên mơ hồ, thiếu căn cứ, kém hiệu quả. Do vậy, chúng ta cần tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh với những phương pháp, cách thức sáng tạo và phù hợp hơn.
Đổi mới cách thức tổ chức các hội thảo và tọa đàm khoa học về Chủ tịch Hồ Chí Minh theo hướng chú trọng đến trao đổi, thảo luận có định hướng, gắn với những vấn đề thực tiễn trong nước và thế giới. Bên cạnh những sản phẩm có tính “hàn lâm”, nghiên cứu chuyên sâu, cần nhiều sản phẩm có tính “thường thức” với cách thể hiện giản dị, ngắn gọn, sinh động, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ hiểu, nhất là đối với lớp trẻ.
Giảng dạy về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được coi trọng ở tất cả các cấp. Trường học, các cơ sở đào tạo, nhất là hệ thống trường Đảng cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, khắc phục tư tưởng ngại học, lười học, học mà không vận dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực chất hơn nữa; cần có chế độ kiểm tra, giám sát việc học tập, thưởng-phạt công minh, đưa vào tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cán bộ, đảng viên...
Hai là, đẩy mạnh và triển khai các hướng nghiên cứu mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghiên cứu làm sáng rõ những vấn đề về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là góp phần bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, nhất là khi các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng một số "khoảng trống" trong tư tưởng và tiểu sử Hồ Chí Minh để tuyên truyền xuyên tạc và bịa đặt. Hơn nữa, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng giống như Chủ nghĩa Mác, là một học thuyết mở. Sức sống của một tư tưởng mở nằm ở những chỉ dẫn có tính nguyên lý. Do vậy, trong việc học tập, chúng ta phải bảo đảm nguyên tắc vận dụng sáng tạo và phát triển, bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn trong nước và thế giới hiện nay.
Để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, một số hướng nghiên cứu cần được thực hiện, đó là: Tiếp tục hướng nghiên cứu cơ bản nhằm làm rõ những quan điểm, tư tưởng có giá trị bền vững, phản ánh quy luật vận động của xã hội, tiếp tục “soi đường” cho cách mạng Việt Nam; những quan điểm, tư tưởng trước kia đúng đắn nhưng hiện nay đã bị thực tiễn vượt qua, cần được thay đổi hoặc bổ sung, phát triển; những quan điểm, tư tưởng đúng đắn, phù hợp nhưng chưa được hiểu đúng và đủ, hoặc vận dụng chưa đúng, chưa phù hợp dẫn đến chưa hiệu quả...
Đẩy mạnh hướng nghiên cứu vận dụng nhằm định hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra gắn với các ngành, các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Tiếp tục hướng nghiên cứu nhằm khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, nhất là những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới...
Ba là, nâng cao hiệu quả và kiên quyết đấu tranh phản bác sự xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận diện một cách chính xác sự xuyên tạc (âm mưu, thủ đoạn, nội dung, động cơ, hình thức) và mức độ tác động đến xã hội của từng loại xuyên tạc để có phương pháp đấu tranh phù hợp và xử lý một cách kiên quyết. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên-lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng này; duy trì và phát huy tác dụng của các nhóm chuyên gia, các đội xung kích tại các cơ quan, đơn vị, nhất là những cơ quan nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh.
Xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh vững chắc, cung cấp cứ liệu và tư liệu đầy đủ, lập luận một cách chặt chẽ, logic, bẻ gãy từ gốc sự bịa đặt, sai trái, thù địch, phản động. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh; tích cực kiểm soát có hiệu quả các trang mạng độc hại, chấn chỉnh những phát ngôn thiếu trách nhiệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kiên quyết và xử lý nghiêm minh đối với những phần tử chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bốn là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Cần tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí hiệu quả hơn nữa.
Cùng với đó là xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tâm, có tầm, có đức, có tài, thực sự tiêu biểu về mọi mặt, luôn tiên phong, gương mẫu trong công tác, góp phần quan trọng vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”. Mọi sự xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được kiên quyết đấu tranh loại bỏ.