Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

 

NHỮNG NHẬN ĐỊNH THIẾU KHÁCH QUAN VỀ TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Lợi dụng vấn đề tôn giáo gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước là một trong những phương thức, thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang đẩy mạnh ở nước ta. Mới đây, trên trang “thongluan-rdp”, Phạm Trần viết bài: “Tự do theo định hướng thì đâu phải là tự do!”, lợi dụng nội dung trong báo cáo tháng 5/2024, Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa kỳ, Y cho rằng: “Tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam năm 2023 “không có gì thay đổi” so với năm 2022 trong khi chính quyền sử dụng Luật Tín ngưỡng – Tôn giáo để đàn áp các nhóm tôn giáo của người thiểu số và các nhóm tôn giáo không được chính phủ công nhận”. Đây là nhận định thiếu khách quan, không đúng sự thật về thực tế tự do tôn giáo ở Việt Nam, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Vấn đề này cần được nhận diện rõ:

Thứ nhất, Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa kỳ (USCIRF) là một cơ quan tham vấn độc lập do Quốc hội Mỹ thành lập, là cánh tay nối dài của Bộ Ngoại giao Mỹ, mục đích nhằm phục vụ cho việc “cải thiện nhân quyền” ở các nước mà Mỹ cho là cần quan tâm đặc biệt. Các thông tin USCIRF sử dụng trong báo cáo không có nguồn gốc chính thống mà chủ yếu dựa trên những thông tin sai sự thật, được thu thập từ các tổ chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng thù hận, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam như: “Ủy ban Cứu người vượt biển – BPSOS”, tổ chức “Người Thượng đứng lên vì công lý – MSFJ”…

Trong những năm qua, các chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, trong đó có tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng đã được nhiều nước ghi nhận và đánh giá cao, nhất là, tại phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, ngày 07/5/2024 được tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ. Tuy nhiên, các báo cáo hằng năm, USCIRF liên tục đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt-CPC”; trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2024 (tháng 5/2024) của USCIRF vẫn đưa ra những nhận định thiếu khách quan, mang tính định kiến và không chính xác về tự do tôn giáo tại Việt Nam. Vấn đề này đã được Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng, ngày 09/5/2024, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao đã trả lời câu hỏi của phóng viên, khẳng định rằng: Việt Nam bác bỏ những nhận định không khách quan, mang tính định kiến và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam được nêu trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2024 của Uỷ ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ.

Thứ hai, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm, chú trọng, có chính sách nhất quán và nỗ lực đảm bảo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, coi đó là một mục tiêu quan trọng đi cùng với công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; ban hành nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo, như: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; “Sách trắng tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”… nhằm cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch, chính xác về chính sách và thành tựu đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam tới bạn bè quốc tế và nhân dân trong nước.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức tôn giáo tiến hành giao lưu hợp tác quốc tế. Hiện nay, ước tính có khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, hàng năm có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo hoặc tín ngưỡng cấp quốc gia và địa phương được tổ chức; tính đến tháng 12/2023, Nhà nước ta đã công nhận 38 tổ chức tôn giáo, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 2 tổ chức và 1 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Tình hình tôn giáo ổn định, đa số các chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc.

Do vậy, Phạm trần và USCIRF cần phải tôn trọng sự thật, đánh giá khách quan về tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tôn trọng pháp luật Việt Nam./.

 

 

Đa nguyên, đa đảng không phải là sự lựa chọn của Việt Nam

Bất chấp những thành quả mà nhân dân ta đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động vẫn điên cuồng xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Trong bài viết “Phải có dân chủ đa nguyên để phục hồi đạo đức, cứu nguy dân tộc”, với cái nhìn định kiến và hận thù, Ban Biên tập Viettan viện dẫn những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, rồi quy chụp thành bản chất và đổ lỗi cho Đảng “đảng CS đã làm cho đất nước này khánh tận cả về tinh thần lẫn vật chất, làm biến dạng xã hội VN” và đưa ra kiến nghị hết sức phản động “Đảng Cộng sản Việt Nam phải nhanh chóng chấp nhận dân chủ hóa để các lực lượng chính trị đối lập tham gia kiến thiết và điều hành đất nước, xây dựng nhà nước tam quyền phân lập, đa nguyên đa đảng”… Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động, xuyên tạc tình hình kinh tế, xã hội và đời sống của Nhân dân; hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị trên đất nước ta, nhân dân ta mất quyền độc lập, phải chịu cảnh lầm than, một cổ hai tròng. Trước ách thống trị, bóc lột hà khắc, tàn bạo của thực dân, phong kiến, đã có nhiều cuộc đấu tranh, phong trào yêu nước nổ ra, theo tư tưởng phong kiến, tư sản, nhưng đều thất bại. Những thất bại đó do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân sâu xa và chủ yếu là do chưa có đường lối, tư tưởng phù hợp với thời đại và nguyện vọng của nhân dân.

Trước tình trạng dân tộc đang bế tắc về đường lối cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, đó là con đường cách mạng vô sản theo chủ nghĩa Mác – Lênin. Người đã tích cực chuẩn bị mọi mặt, nhằm hình thành một chính đảng để lãnh đạo phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đáp ứng được nguyện vọng của dân tộc và nhân dân, bởi Đảng có đường lối đúng đắn, gồm những người ưu tú nhất, đại biểu cho giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu bức thiết về lực lượng lãnh đạo, đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, khơi dậy, quy tụ được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, được quần chúng nhân dân tin tưởng, đi theo. Đó là sự lựa chọn của lịch sử. Ngay khi mới 15 năm tuổi, Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam làm cuộc Cách mạng Tháng Tám “long trời lở đất”, giành độc lập, tự do cho dân tộc sau gần một trăm năm bị thực dân Pháp đô hộ; nhân dân Việt Nam thoát khỏi “kiếp ngựa trâu”, trở thành người làm chủ vận mệnh của mình. Tiếp đó, Đảng lãnh đạo Nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển, vào nhóm những nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao, bình quân thu nhập đầu người năm 2020 là 3.561 USD, năm 2023 khoảng 4.200 USD. Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và đạt được nhiều thành tựu nổi bật.

Thực tiễn cũng cho thấy, có những thời điểm, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, ở nước ta còn có các đảng khác cùng tồn tại: Đảng Dân chủ, Đảng xã hội. Tuy nhiên, quá trình sàng lọc, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định được vai trò của mình, đủ khả năng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước đi đến thắng lợi, còn Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội đã tự tuyên bố giải tán vào năm 1988.

Lịch sử và thực tiễn đất nước đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã không ngừng phát triển về mọi mặt, đời sống của nhân dân được nâng lên, chứ không phải “làm cho đất nước khánh tận” và cũng không cần đa nguyên, đa đảng theo những “khuyến cáo” phản động của bọn Viettan.

Thứ hai, tiếng nói khách quan của bạn bè quốc tế về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đối với những người có cái nhìn khách quan, không định kiến, khi đề cập đến những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong hơn 94 năm qua, đều đánh giá cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Philip Fernandez, thành viên của Hội Hữu nghị Canada-Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Canada, nhấn mạnh “Uy tín và vị thế cao của Việt Nam trên trường quốc tế đã phản ánh sức mạnh chính trị và ý thức hệ của Đảng, cũng như khả năng tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam khi tìm ra phương hướng trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, và cùng với sự tham gia của nhân dân để đưa ra chương trình nghị sự nhằm xây dựng một nước Việt Nam hiện đại. Một ưu điểm nổi bật của Đảng Cộng sản Việt Nam đó là khả năng ứng dụng một cách sáng tạo các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện của Việt Nam để đạt được các mục tiêu ở quy mô quốc gia và quốc tế. Điều này cũng phản ánh niềm tin của người dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng. Và niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã được thể hiện khi Việt Nam mới đây đã trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối”.

Tương tự, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Argentina Victor Kot cho rằng, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa trọng đại không chỉ đối với lịch sử dân tộc Việt Nam mà còn cả đối với phong trào cách mạng thế giới. Trong thế kỷ 20 và những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, Việt Nam đã tạo ra được sự khích lệ lớn lao cho việc hình thành phong trào quốc tế cộng sản, cho cuộc đấu tranh của những người cộng sản và cách mạng, cũng như lịch sử nhân loại.

Ông Moribe Hiroyuki, Chủ tịch Viện Nghiên cứu kinh tế Việt Nam tại Nhật Bản, Ủy viên Hiệp hội Việt – Nhật tại Nhật Bản nói: cảm nhận của tôi, Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng rất mạnh, bởi Đảng dựa vào dân, tôn trọng dân.

Thành tựu của đất nước đạt được hơn 94 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và những tiếng nói khách quan của bạn bè quốc tế đã chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là sự lựa chọn của lịch sử, là lực lượng duy nhất đủ khả năng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước đi đến thắng lợi. Hoàn toàn phù hợp với điều kiện đất nước và xu thế của thời đại; đa nguyên, đa đảng không bao giờ là sự lựa chọn của Việt Nam./.

 

Lời giãi bày tâm sự của một kẻ phản động

Mới đây, tác giả Nguyên Thạch đã giãi bày tâm sự “Đôi điều muốn nói về hiện tình đất nước dưới sự cai trị của ĐCSVN” trên trang danlambao. Bài viết đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến tình hình trong nước và thế giới, trong đó có một số vấn đề chính sau đây.

Một là, Nguyên Thạch chê trách, phê phán nhân dân Việt Nam (dân quốc nội) hèn nhát, không thật sự đoàn kết để chống Đảng, Nhà nước, chế độ xã hôi chủ nghĩa. Nguyên Thạch viết: “Trước tiên người viết khẳng định rằng đây không phải là một bài viết chứa đựng những cảm nhận bi quan hay yếm thế mà là đôi lời trình bày những sự thật đã và đang cũng như sẽ xảy ra trên đất nước Việt Nam, một quê hương mà hầu hết người dân quốc nội vẫn chưa tìm được bất cứ giải pháp nào để giải cứu dân tộc thoát khỏi ách cai trị tồi tệ của Đảng Cộng sản Việt Nam”.  Sau khi mở đề một cách phản động như vậy, Nguyên Thạch đã lên lớp, chê bai, phê phán dân “quốc nội” không làm được trò trống gì để cứu dân tộc khỏi ách cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Thạch đã dẫn ra một số biểu hiện về sự ươn hèn của dân “quốc nội” biện hộ cho việc không đấu tranh chống Đảng Cộng sản, chống chế độ của mình, đó là  “Vì độc tài”, vì “hệ thống công an trị”, “vì sợ hãi muốn yên thân, không muốn rước họa vào thân”. Và Nguyên Thạch kết luận: “Tất cả những lý do đó, tựu chung chỉ là biểu hiện sự không quan tâm về chính trị, không đồng nhất về quan điểm bảo vệ Tổ quốc và dân tộc để có được hành động thống nhất.”

Chỉ cần đọc mấy dòng trên đây đã thấy bộ mặt thật của Nguyên Thạch – một kẻ phản động, cực kỳ nguy hiểm và ngạo mạn. Một kẻ đã phản bội dân tộc, đất nước, nhân dân, chỉ biết lo cho cái mạng sống của riêng mình mà còn dám cao giọng, lên mặt chê trách, dạy khôn cho nhân dân Việt Nam. Có lẽ Nguyên Thạch đã ngộ nhận mình là lãnh tụ của dân tộc, có sứ mệnh cứu nguy cho dân tộc, vạch đường, chỉ lối cho nhân dân đứng lên lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam chăng ? Nguyên Thạch đã không biết rằng mình chỉ là một kẻ “ăn theo, nói leo” luận điệu của các thế lực thù địch vẫn nhai đi, nhai lại bao nhiêu năm nay rồi. Nếu Nguyên Thạch biết rõ thân phận của mình chắc Nguyên Thạch đã không nói những điều hàm hồ như vậy.

Hai là, Nguyên Thạch kích động “dân quốc nội” hãy đứng lên chống đối chế độ, “tháo ách cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam”.  Từ việc chê bai, phê phán “dân quốc nội”, Nguyên Thạch đã chuyển sang kích động nhân dân ta đấu tranh chống Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nguyên Thạch xúi giục, kích động: “một ngày nào đó không xa, toàn dân Việt Nam bất luận già trẻ, trai gái, tất cả cùng nhau xuống đường đòi Formosa cút khỏi Việt Nam đòi nhà cầm quyền cộng sản phải trưng cầu dân ý và cho ứng cử, bầu cử tự do… bằng không sẽ phế truất tà quyền để dựng lên một chính quyền hợp ý nguyện của cả nước thì liệu rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có dám làm khác đi không?”. Nguyên Thạch tiếp tục kích động: “Người dân quốc nội mới là cốt cán, hải ngoại chỉ là những tổ chức vận động và hỗ trợ. Mỗi người “dân quốc nội” phải tự chất vấn mình cho những việc đơn giản như vậy mà sao chúng ta không thể làm được, chưa thể làm được?”

Những giọng điệu trên đây cho thấy động cơ chống cộng của Nguyên Thạch đã sôi sục, quyết liệt đến mức nào. Chắc hẳn, Nguyên Thạch ngày đêm cầu nguyện, mong chờ lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam…. đến mất ăn, mất ngủ? Nguyên Thạch đã thể hiện đúng bản chất của phần tử phản động. Rất tiếc từ cái đầu nóng và trái tim sôi sục chống cộng sản của Nguyên Thạch đã sản sinh ra những ý tưởng, khát vọng điên rồ. Đây là sự ấu trĩ của của một kẻ phản động, chống cộng cuồng tín ở hải ngoại.

Ba là, Nguyên Thạch đã dựng lên một tương lai đen tối của dân tộc Việt Nam nhằm hù dọa nhân dân ta. Sau khi buông ra những lời lẽ kích động cố tình xúc phạm nhân dân ta, Nguyên Thạch tiếp tục răn đe, hù dọa nhân dân ta bằng cách vẽ ra một tương lai đen tối, thê thảm sẽ ập xuống đầu nhân dân nếu như nhân dân không kiên quyết đứng lên chống lại Đảng Công sản Việt Nam, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nguyên Thạch đã phác họa ra một tương lai của đất nước ta vô cùng thê thảm, nào là: toàn dân sẽ bị nhà cầm quyền cai trị như một thứ nô lệ; để cho Đảng Cộng sản củng cố toàn trị; nhà cầm quyền trở thành tập thể tham quan; môi sinh bị tàn phá, dân thì trở thành nghèo khó, ngu dốt, thất học; nhà cửa, đất đai, tài sản bị tà quyền cướp trắng; từng nhà, từng người sẽ lần lượt vào tù và tự tử ở đó; đất nước ngày càng tụt hậu; nợ nần thêm chồng chất, đất đai, biển đảo mất dần vào tay ngoại bang, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bán đứng đồng bào, dân tộc trở thành nô lệ…”

Những luận điệu đem ra hù dọa trên đây của Nguyên Thạch thực chất là một sự bịa đặt, xuyên tạc một cách trắng trợn với mưu đồ làm cho dân ta hoang mang, lo sợ, khủng hoảng lòng tin vào Đảng Cộng sản Việt Nam, vào Nhà nước, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo cớ cho các thế lực phản động lợi dụng kích động nhân dân đứng lên lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều đó cho thấy, các thế lực phản động, trong có có Nguyên Thạch sẽ không từ bất kỳ thủ đoạn xấu xa để chống Đảng, Nhà nước.

Thế nhưng, sự hù dọa của Nguyên Thạch sẽ chẳng làm cho ai sợ. Nhân dân ta hiểu rất rõ tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh và những thành tựu, hạn chế, thời cơ, khó khăn thách thức của đất nước và xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch.

Chính vì vậy, “Lời giãi bày tâm sự của kẻ phản động” Nguyên Thạch đã xúc phạm một cách nghiêm trọng, đến lòng tự trọng của mỗi người “dân quốc nội”, do đó y sẽ không lừa được ai. Chỉ có mấy kẻ phản động ở hải ngoại vật vờ thì mới mù quáng mà tin theo những điều nhảm nhí đó mà thôi.


 

Kẻ mộng du không thể nói về cái tốt và cái xấu

Trong những ngày qua, trên trang Danlambao có bài viết “Nói tốt đất nước và lãnh tụ”. Nội dung bài viết không có gì mới ngoài việc trì triết, trách móc, quy kết cho các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước có những bài phát biểu ca ngợi đất nước một cách thái quá và những người khác “mặc dù nói tốt – xấu, dở – hay đều phải vỗ tay, tán thưởng, còn những người nói xấu lại có tội thậm trí bị phạt vạ tù đầy”. Nhận định sai trái này, được thể hiện cụ thể trên những vấn đề sau.

Thứ nhất, những bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam đều xuất phát từ thực tiễn đất nước, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc 

Luận điệu cho rằng, “lãnh tụ nói là mọi người phải biết lắng nghe, phải vỗ tay và nhiệt liệt tán thưởng” là hoàn toàn sai trái, phản động, không đúng với thực tế đã và đang diễn ra. Bởi thực tế những bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, có sự nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn diện, sâu sắc từ nhiều lĩnh vực, thể hiện tập trung cao độ trí tuệ ở bài viết của mình. Nội dung bài phát biểu luôn bám sát thực tiễn xã hội, phù hợp với xu thế của thời đại, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, thể hiện được khát vọng ước muốn vươn lên của dân tộc. Vì thế, những phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân, tin tưởng tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Không phải ngẫu nhiên mà một không khí phấn khởi, tin tưởng ngày càng lan toả sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, tác động tích cực, mạnh mẽ trên khắp cả nước và được nhiều bạn bè quốc tế ghi nhận.

Thứ hai, con người Việt Nam có trình độ, tri thức văn hoá ngày càng cao biết phân biệt rõ đúng – sai, tốt – xấu

Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, trình độ, tri thức văn hoá sự hiểu biết của con người Việt Nam về thế giới xung quanh, về những sự vật, hiện tượng đã và đang diễn ra; đặc biệt là những thành tựu của đất nước sau hơn 30 năm đổi mới không ngừng được nâng cao về mọi mặt. Điều này, được biểu hiện ở việc mỗi giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội đều thể hiện rõ chứng kiến của mình trong việc phát huy những truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Không ngại khó khăn, gian khổ đều đồng tâm, đồng lòng hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, là công dân tốt, tích cực có những đóng góp vào những hoạt động phát triển kinh tế – xã hội địa phương; xoá đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội, không vào hùa với những quan điểm sai trải, phản động, những thói hư, tật xấu, tệ nạn tiêu cực.

Thực tiễn cho thấy, mỗi con người Việt Nam từ đồng bằng cho đến miền núi, từ nông thôn cho đến đô thị đều có quan điểm, thái độ rất rõ ràng trong việc phân định giữa đúng – sai, tốt – xấu, tán thành, ủng hộ những quan điểm, đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với từng giai đoạn, thời điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tích cực, chủ động đấu tranh loại bỏ ra khỏi xã hội những sản phẩm văn hoá độc hại, những cái xấu, cái sai trái đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc để từng bước hoàn thiện bản thân về đạo đức, lối sống. Ông cha ta đã nói: “Chim khôn kêu tiếng rảng rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”. Với những người đầu óc mộng du, u mê thì khó có thể phân biệt được tốt – xấu, đúng – sai một cách tường tận, rõ ràng. Nhân dân Việt Nam có trình độ nhận thức khá cao về mọi mặt nên tự họ sẽ cảm nhận được những thay đổi sâu sắc đang diễn ra trên quê hương đất nước mình có được là do sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội.

Vì vậy, hành động ca ngợi cái tốt, phê phán cái xấu là lẽ thường tình của mọi người dân Việt Nam. Những người “mộng du” không hiểu rõ tình hình nay, thì không thể bàn luận đến cái tốt và cái xấu. Có chăng, đó chỉ là hành động gây nhiễu loạn tình hình, tâm lý và tư tưởng, niềm tin của nhân dân trước những thành tựu rực rỡ của đất nước.

 

Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm - những căn bệnh cần phải được chữa trị!


Hiện nay, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đang trở thành căn bệnh ngày càng trầm trọng, lây lan trong xã hội. Dân tộc ta vốn có truyền thống đoàn kết, “tương thân, tương ái”, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”… Truyền thống ấy luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, vun đắp nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử; kinh tế ngày càng khởi sắc, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Song, những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự du nhập lối sống nước ngoài, nhất là lối sống thực dụng không phù hợp với truyền thống văn hóa và đạo lý dân tộc đã khiến một bộ phận trong xã hội ngày càng trở nên vô cảm, thờ ơ, thiếu trách nhiệm và trở thành căn bệnh làm mờ nhạt những truyền thống tốt đẹp đó.

Hiện nay, trên nhiều diễn đàn, các phương tiện thông tin truyền thông đã cảnh báo và đưa nhiều minh chứng về sự thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm gây bức xúc trong xã hội. Thờ ơ, vô cảm đã cho thấy sự thể hiện trơ lì về cảm xúc, dửng dưng trước các sự việc xung quanh; thờ ơ với nỗi đau khổ, mất mát của người khác, chỉ biết quan tâm đến lợi ích của mình. Chính sự thờ ơ, vô cảm ấy mà thấy tốt không ủng hộ, thấy xấu không lên án, ngại va chạm tạo điều kiện, tiếp tay cho cái xấu, cái ác nảy nở.

Không thể đổ lỗi cho nền kinh tế thị trường. Bởi lẽ, trong xã hội vẫn không thiếu những người tốt, những câu chuyện về “người tử tế”, những câu chuyện ấm áp lòng người như những hiệp sĩ đường phố, về người đi xây cầu từ thiện, những tấm gương quên mình cứu người giữa dòng nước lũ; tấm lòng của các nhà hảo tâm chung tay ủng hộ những mảnh đời khó khăn, bất hạnh trong cơn hoạn nạn… đã góp phần xây dựng lối sống hướng thiện, một xã hội, cộng đồng tốt đẹp, nhân văn…

Để chữa trị căn bệnh này cần phát huy vai trò, sức mạnh của toàn dân. Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, tuyên truyền làm thức dậy tình thương yêu con người, đồng loại, sự hy sinh và trách nhiệm đối với xã hội. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội và cá nhân trong đấu tranh, ngăn ngừa căn bệnh thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm; khuyến khích các hoạt động nhân ái, bao dung, nghĩa hiệp, chống lại cái xấu, vun đắp và xây dựng những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

 

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU TRƠ TRẼN “LIÊN MINH QUÂN SỰ MỸ – NHẬT – PHI VÀ SỰ CÔ ĐƠN NGUY HIỂM CỦA VIỆT NAM”

Một trong các sự kiện thu hút sự quan tâm của dư luận toàn thế giới trong tháng 4 năm 2024 vừa qua chính là sự kiện ngày 11/4/2024 diễn ra Hội nghị thượng đỉnh lần đầu tiên giữa lãnh đạo ba nước Mỹ – Nhật Bản – Philippines. Hội nghị đã thảo luận nhiều nội dung quan trọng về hợp tác giữa các bên liên quan, trong đó có vấn đề về liên minh quân sự giữa Mỹ, Nhật Bản và Philippines.

Bình luận về sự kiện này, trên trang mạng “quyenduocbiet”, Nguyên Anh đã đăng bài viết tựa đề “Liên minh quân sự Mỹ – Nhật – Phi và sự cô đơn nguy hiểm của Việt Nam”. Bài viết, viện cớ sự liên minh quân sự giữa ba nước Mỹ, Nhật, Philippines để phê phán chủ trương không tham gia liên minh quân sự của Việt Nam là “sự cô đơn nguy hiểm”. Từ đó, “khuyên” Việt Nam cần thực hiện liên minh quân sự với Mỹ. Nguyên Anh còn cho rằng, điều kiện tiên quyết để trở thành “đồng minh của Mỹ” là: “Việt Nam bắt buộc phải là một quốc gia không cộng sản”. Thực chất đây là những luận điệu trơ trẽn, nhằm xuyên tạc, công kích chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam, nhất là chủ trương “không tham gia liên minh quân sự”Đồng thời phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác đối ngoại quốc phòng. Cần khẳng định rằng, Việt Nam chủ trương “không tham gia liên minh quân sự” là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp và sáng suốt; là điều kiện quan trọng để giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước, bởi lẽ:

Thứ nhất, quan điểm nhất quán xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta là xây dựng sức mạnh quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, sức mạnh quân sự để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đồng thời, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, kiên quyết không “trông chờ” sự “bảo hộ” của bất cứ một thế lực nào.

Thứ hai, thực tiễn cho thấy, các cuộc chiến tranh và xung đột trên thế giới gần đây, nhất là trường hợp xung đột giữa Nga và Ukraina,… chỉ ra, một trong những nguyên nhân và “ngòi nổ” của nó là chính sách đối nội và đối ngoại thiếu sự nhất quán của chính phủ các nước đó. Chính phủ và ngay cả một bộ phận nhân dân các nước này luôn trông chờ sự “cứu giúp” từ thế lực bên ngoài hoặc dựa hẳn vào một liên minh quân sự với các quốc gia khác. Hậu quả để lại cho nhân dân các nước đó là sự phá hỏng không gian kinh tế – xã hội, bị chiến tranh tàn phá và luôn phải đối mặt với nguy cơ bất ổn, kéo lùi sự phát triển của đất nước. Điều này cho thấy sự hiện hữu những vấn đề về “lợi bất cập hại”, “hại” sẽ nhiều hơn “lợi” trong tham gia liên minh quân sự, để rồi đánh mất độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế, tự chuốc thêm kẻ thù, tự đưa quốc gia, dân tộc mình vào tình thế “nguy hiểm”.

Thứ ba, thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia – dân tộc những năm qua chính là thành công của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường; và thực hiện thắng lợi đường lối “đa dạng hóa, đa phương hóa” quan hệ đối ngoại. Thành tựu đó đã khẳng định: Chủ trương không tham gia liên minh quân sự là đúng đắn và phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay khi hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chủ đạo và chủ trương đối ngoại của Việt Nam là đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 quốc gia, bao gồm 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cường quốc trên thế giới. Hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và các nước ngày càng đi vào chiều sâu với các nội dung, lĩnh vực hợp tác thiết thực, phù hợp với điều kiện, nhu cầu và lợi ích của ta và các nước đối tác, tập trung vào các lĩnh vực như trao đổi, tham vấn, đối thoại, đào tạo, hợp tác quân binh chủng, công nghiệp quốc phòng, quân y, cứu hộ – cứu nạn, tuần tra chung biên giới trên bộ, trên biển, giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới; chủ động tham gia và tổ chức đăng cai các hội thao quân sự quốc tế…Những kết quả quan trọng trên đây là cơ sở để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thứ tư, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại quốc phòng là vấn đề có tính nguyên tắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Công tác đối ngoại quốc phòng là một bộ phận trong hoạt động đối ngoại của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Mọi hoạt động hợp tác quốc phòng đều phải bám sát quan điểm, chủ trương, phương châm, mục tiêu, nội dung, phương thức mà Đảng xác định. Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động này được cụ thể hóa thông qua vai trò quản lý của Nhà nước, trực tiếp là Bộ Quốc phòng và chỉ huy các cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Với ý nghĩa đó, hợp tác quốc phòng trong tình hình hiện nay chính là: “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại” trên tinh thần “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Đồng thời, mọi hoạt động hợp tác quốc phòng đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng giữ quyền độc tôn lãnh đạo hoạt động đối ngoại quốc phòng; quyền lãnh đạo đó không san sẻ, chia sẻ cho các lực lượng, tổ chức chính trị – xã hội khác.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cho thấy, “luận điệu” của Nguyên Anh thực chất là một âm mưu thâm độc núp bóng vỏ bọc “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ” nhưng lại nhằm chống phá đất nước, chúng ta cần phải đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện vạch trần, đấu tranh kiên quyết, không để bị lừa gạt, gây tổn hại đến lợi ích quốc gia – dân tộc.

 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA ĐÀO TĂNG DỰC - VẤN ĐỀ CẦN LÊN ÁN

Thời gian gầy đây, trên nhiều diễn đàn phản động đã đồng loạt phát tán bài viết Sách lược cải tổ hệ thống quân đội (The Armed Forces) của Đào Tăng Dực. Bài viết có nội dung xuyên tạc mối quan hệ gắn bó giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, kêu gọi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là những luận điệu nguy hiểm, trực tiếp chống phá việc thực hiện chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại của Đảng, Nhà nước ta.

Thứ nhất, Đào Tăng Dực lớn tiếng cho rằng: công an giữ một vai trò vượt trội quân đội trong hệ thống quyền lực đảng CSVN. Luận điệu này xuất phát từ góc nhìn thiển cận, phân tích một cách vô căn cứ của Đào Tăng Dực về lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Nó là sự tiếp nối, cố súy cho những âm mưu, thủ đoạn chia rẽ Quân đội nhân dân với Công an nhân dân của các thế lực thù địch. Mục đích là hướng tới tạo sự nghi kị, hiềm khích, gây bất ổn trong nội bộ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, từng bước làm suy giảm động lực, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân. Trước luận điệu nham hiểm này, chúng ta cần nhận thức rõ, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là thành phần trọng yếu, lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mối quan hệ giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân là quan hệ đồng chí, đồng đội, cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Mối quan hệ này được tạo dựng, hun đúc từ truyền thống đoàn kết, yêu nước của dân tộc Việt Nam, từ quá trình giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; được thử thách, kiểm nghiệm trong quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Thực tiễn đã chứng minh, “Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ”, luôn chung sức, chung lòng, đồng tâm hiệp lực, đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, kề vai sát cánh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Tuy nhiên, do tính chất nhiệm vụ của mỗi lực lượng, nên tổ chức, biên chế của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có những nét khác biệt. Nhưng đó không phải là căn cứ để đánh giá lực nào là quan trọng hơn trong bộ máy quyền lực của Nhà nước. Nói công an giữ một vai trò vượt trội quân đội như Đào Tăng Dực là lộng ngôn, nói càn, phản khoa học. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích: Nhiệm vụ của Quân đội và Công an không thể rời nhau được vì nó đều có mục đích chung là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ trị an cho nhân dân… Quân đội chuyên chống kẻ địch bên ngoài, Công an chủ yếu chống kẻ địch bên trong. Hai nhiệm vụ đó không tách rời nhau được và cũng không thể phân chia máy móc. Ghi nhớ lời dạy của Đại tướng, mỗi chúng ta cần chủ động nâng cao nhận thức, luôn cảnh giác đấu tranh vạch rõ bản chất của những luận điệu xuyên tạc, muốn chia rẽ mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân.

Thứ hai, mượn cớ “thảo luận về vai trò của người quân nhân”, Đào Tăng Dực lớn tiếng kêu gọi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiếp nối mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, Đào Tăng Dực kêu gọi mỗi quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam phải trung thành với tổ quốc, đứng về phía dân tộc, đối lập với mọi hình thức độc tài, quyết tâm đập tan mọi định chế độc tài. Những lời lẽ “hoa mĩ” đó của Đào Tăng Dực không che dấu được ý đồ kêu gọi tách Quân đội nhân dân Việt Nam ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; làm cho quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, suy yếu về chính trị, tiến tới bị vô hiệu hóa. Luận điệu của y – một lần nữa “nối giáo” cho âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, muốn làm “biến chất” Quân đội nhân dân Việt Nam – một đội quân vốn từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng, trở thành một đội quân đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân; từ đó dễ bề chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội đã chỉ rõ: Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là nguyên tắc bất biến, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Ngay từ đầu, Đảng đã tổ chức và xác lập sự lãnh đạo của mình đối với quân đội, là lực lượng lãnh đạo duy nhất, quyết định bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội; bảo đảm cho mọi hoạt động của quân đội giữ đúng “con đường chính trị”, “phục tùng nhiệm vụ chính trị” của Đảng, của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn vững vàng về chính trị, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; cùng với nhân dân làm nên những chiến thắng huy hoàng: tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, đánh thắng hai đế quốc lớn là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, và làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tiễn lịch sử đã phản ánh sâu sắc sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn về vai trò duy nhất lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, không thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Những ý kiến “thảo luận”, “đề nghị cải tổ” hệ thống, để quân đội không chỉ trung thành với tổ quốc, đứng về phía dân tộc mà còn đối lập với mọi hình thức độc tài, đập tan mọi định chế độc tài… của Đào Tăng Dực chỉ là “bổn cũ soạn lại” hòng phủ nhận, xóa bỏ nguyên tắc Đảng tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội ta.

Tóm lại, nội dung bài viết của Đào Tăng Dực hàm chứa nhiều nội dung xấu độc, thể hiện rõ mưu đồ chống phá sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bài viết này, một lần nữa phản ánh rõ bộ mặt phản động, bất chấp đúng – sai, luôn hằn học trước sự phát triển của đất nước của Đào Tăng Dực. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cần nêu cao cảnh giác, tích cực đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước, trà đạp lên lợi ích quốc gia – dân tộc của Đào Tăng Dực và các thế lực thù địch, phản động./.

 

VIỆT NAM BIỂU TƯỢNG CỦA HẠNH PHÚC TOÀN CẦU DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

Vừa qua, trên trang Facebook: Việt Tân, Thomas Nguyễn có bài viết: “Hãy đồng hành cùng tôi làm chính trị” cho rằng, dưới sự lãnh đạo của độc tài Cộng sản Việt Nam, đất nước đang đi thụt lùi trên tất cả các lĩnh vực, người dân ngày càng cùng cực và bị mất nhân quyền. Từ đó, kêu gọi thiết lập chế độ đa đảng, xoá bỏ chế độ độc đảng ở Việt Nam. Thực tế, Thomas Nguyễn đang cố tình xuyên tạc, phủ nhận thành tựu đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, lịch sử hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có các Đảng phái khác. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản, còn có hai đảng khác là Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội. Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản, còn hai đảng Việt Quốc và Việt Cách “theo đuôi Tưởng” không hề đứng về lợi ích dân tộc. Cho đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều ủng hộ, thừa nhận vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này cũng tự nguyện giải tán. Như vậy, Việt Nam đã từng có chế độ đa đảng, nhưng chính lịch sử cách mạng và nhân dân Việt Nam đã phủ định. Vì thế, Điều 4, Hiến pháp năm 2013, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và cả xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và toàn thể Nhân dân Việt Nam khẳng định, thừa nhận: “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà không cần sự tồn tại của nhiều đảng, nhất thiết không cần và không thể chấp nhận đa đảng đối lập như các thế lực thù địch mong muốn”.

Thứ hai, thành tựu của sự nghiệp cách mạng sau gần 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng và thật đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh… được cộng đồng quốc tế ghi nhận, sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên. Việt Nam được cả thế giới mến phục, coi là biểu tượng của sự ổn định chính trị, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao giá trị, nhân nghĩa trong thế kỷ XXI, chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Ngày 11/10/2022, với 145 phiếu ủng hộ, Việt Nam là một trong 14 thành viên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Điều đó, khẳng định uy tín và vị thế của Việt Nam trong thực hiện nhân quyền, bảo vệ nhân quyền không chỉ trong nước mà còn đối với cộng đồng quốc tế, được quốc tế khẳng định và thừa nhận. Theo Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên hợp quốc công bố, năm 2021 Việt Nam đứng thứ 79/149 trong bảng xếp hạng; năm 2022 Việt Nam đứng thứ 77/150 trong bảng xếp hạng, tăng 2 bậc so với năm 2021; năm 2023 Việt Nam đứng thứ 65/150 trong bảng xếp hạng, tăng 12 bậc so với năm 2022; năm 2024, Việt Nam đứng thứ 54/150, tăng 11 bậc so với năm 2023. Kết quả này, là sự thừa nhận của Liên hợp quốc, nên các thế lực thù địch không thể xuyên tạc. Vì vậy, cần khẳng định rằng, người dân Việt Nam ngày càng hạnh phúc, ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành tựu đổi mới ở Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ngày càng bộc lộ rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đi ngược lại với Hiến pháp và nguyện vọng, lợi ích lâu dài, chính đáng của nhân dân Việt Nam. Mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn./.

 

Vạch trần sự xuyên tạc về “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” của Hoàng Lan Mộc Châu

Trái ngược với việc Đảng, Nhà nước Việt Nam đang quyết liệt hành động đề ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, chế độ, trên trang “Vietnamthoibao”, Hoàng Lan Mộc Châu đã đăng tải bài viết: “Nguyễn Tất Thành ông tổ tự chuyển hóa, tự diễn biến” với mục đích xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời xuyên tạc chủ trương phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên cần vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

Hoàng Lan Mộc Châu đã đánh tráo khái niệm khi mô tả quá trình đi tìm được cứu nước và hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách thuần túy, “tự nhiên”. Y cho rằng: “Người tự diễn biến, tự chuyển hóa đầu tiên, nhiều nhất và tích cực nhất là Nguyễn Tất Thành”, nhưng để minh chứng cho luận điệu này, xuyên suốt trong bài viết của Y chỉ là những lý lẽ đơn giản như “Nguyễn Tất Thành (NTT) tự chuyển biến, tự thay tên đổi họ rất nhiều lần” hoặc “NTT liên tục thay đổi, tự diễn biến, tự chuyển hóa, mang nhiều bộ mặt khác nhau” và “chuyển biến liên tục, từ nơi này qua nơi khác”. Sự mô tả này, rõ ràng là những chuyển biến, chuyển hóa mang tính cơ học, Hoàng Lan Mộc Châu đã cố tình lấp liếm sự chuyển hóa về chất của Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước, hoạt động cách mạng. Nghiêm trọng hơn, Y dựa vào những công việc mà Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đã làm như phụ bếp, cào tuyết để nói xấu, bôi nhọ hình ảnh của Người, nhất là các hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tại nước Pháp, nước Anh với những lời lẽ miệt thị, xuyên tạc. Đây là điều không thể chấp nhận được!

Bởi vì, quá trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc và hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh là quá trình chuyển biến, chuyển hóa về chất từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, từ một thanh niên thành người chiến sĩ cách mạng. Điều này, đã được chứng minh qua thực tiễn hoạt động của Hồ Chí Minh và được tái hiện ở cuốn sách “Hành trình theo chân Bác” của tác giả Trần Đức Tuấn được Nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 2016 và “Bản đồ Hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ” được kế thừa từ chính tác phẩm trên. Bên cạnh đó, nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2021) còn có nhiều tác phẩm, ấn phẩm bàn về cuộc đời, sự nghiệp, cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó, nổi bật là cuốn sách ảnh “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Hành trình cứu nước” của Đỗ Hoàng Linh chủ biên, do Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch tổ chức xuất bản bằng 4 thứ tiếng Việt, Anh, Nga, Trung Quốc. Những tác phẩm, ấn phẩm trên đều được bạn đọc Việt Nam và bạn đọc quốc tế ghi nhận với hàng trăm bức ảnh tư liệu, tài liệu, bút tích quý giá tái hiện lại quá trình hoạt động của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Đây là những bằng chứng thép ghi lại quá trình chuyển hóa về chất thành người chiến sĩ cộng sản của Hồ Chí Minh.

Như vậy, quá trình tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập được hiểu là quá trình tự biến đổi về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, dẫn tới những hành động đi ngược lại, thậm chí chống lại quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nguy hiểm hơn, hành động đó, dẫn đến phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, việc phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII nêu rõ trong Nghị quyết số 04-NQ/TW ban hành ngày 30 tháng 10 năm 2016. Mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác trước những luận điệu lợi dụng ngôn ngữ để suy diễn, xuyên tạc hạ thấp, bôi nhọ uy tín, hình ảnh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng như Hoàng Lan Mộc Châu và những kẻ như Y trên không gian mạng./.

 

ĐỪNG THẤY QUYẾT TÂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT MAN MÀ “BẺ LƯỠI” ĐỂ THỰC HIỆN MƯU ĐỒ ĐEN TỐI

Hiện nay, dư luận xã hội nói chung và quốc tế nói riêng đang rất quan tâm đến công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Đây là quyết tâm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước; quyết tâm loại bỏ những cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức, đi ngược lại với lợi ích của Đảng và Nhân dân. Sự quan tâm đó, thể hiện niềm tin của Nhân dân và cộng đồng quốc tế vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước ta. Ở chiều ngược lại, đó chính là thể hiện sự cam kết của Đảng và Nhà nước ta trước Nhân dân và cộng đồng quốc tế về công tác phòng, chống tham nhũng, được đưa ra trong các văn kiện của Đảng và cam kết của Việt Nam với thế giới.

Vậy mà trên trang “Viettan”, bút danh Việt Tân có bài viết với tiêu đề : “Nhận định của chủ tịch Đảng Việt Tân về tình trạng đấu đá trên thượng tầng lãnh đạo Cộng sản Việt Nam”. Thực chất, đây là những giọng điệu mà các thế lực thù địch, phản động vẫn thường dùng để chống phá cách mạng Việt Nam như “Bureau CTM Media – Âu châu”, “Việt Nam Thời Báo”, “Danlambao.com”….Qua đọc nội dung bài viết Của Việt Tân, có đôi điều suy nghĩ sau:

Thứ nhất, người được gọi là “chủ tịch Đảng Việt Tân” và ai đó lấy bút danh Việt Tân của bài viết, cần “tìm đọc” thêm để “hiểu cho đúng” về tham nhũng

Tham nhũng là một vấn nạn của xã hội, bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều có vấn nạn này. Lênin từng khẳng định: “tham nhũng gắn bó hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và quyền lực công…”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng chỉ rõ ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu là những “thứ giặc nội xâm” bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân mà ra. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận diện: Tham nhũng là một quốc nạn, một trong bốn nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; công tác phòng, chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII khẳng định “Thực hiện quyết liệt, nghiêm minh, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”. Quan điểm trước sau như một của Đảng ta là sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có “vùng cấm”, “không có ngoại lệ”

Cho nên, người xưng là “chủ tịch Đảng Việt Tân” và bút danh Việt Tân cho rằng: Từ khi lên giữ chức Tổng bí thư tại đại hội 11 vào tháng 1 năm 2011 cho đến nay, Nguyễn Phú Trọng chỉ tập trung vào một việc là “đốt lò” trên danh nghĩa “củng cố lòng tin của người dân vào chính  quyền và sự lãnh đạo của đảng”, nhưng những gì diễn ra qua các cuộc truy tố và phanh phui trên mặt báo về tên tuổi của những “củi khô, củi tươi” thì thực chất cho thấy đây là cuộc sát phạt của ộng Trọng nhắm vào các đối thủ chính trị của mình để “tập trung quyền lực và uy thế”…Thật là lực cười và bỉ ổi với những luận điệu suy diễn vô căn cứ. Trong khi đó công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt nam đang được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế đánh cao cao. Như giáo sư Dennis McCornac (ĐH Loyola Maryland, Mỹ) cho rằng, rõ ràng là mọi chuyện đã có chuyển biến khi luật pháp nghiêm minh hơn. Hiện giới đầu tư nước ngoài tin tưởng rằng Việt Nam đang quyết tâm đẩy mạnh chống tham nhũng, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, không còn nhũng nhiễu, hối lộ. Còn Ông Miguel Chanco, chuyên gia ASEAN của tổ chức nghiên cứu Economist Intelligence Unit (Anh) cho rằng, công cuộc chống tham nhũng tại Việt Nam, sẽ làm đầu tư nước ngoài và các hạng mục đầu tư tiếp tục tăng ở mức mạnh và ổn định kể từ đầu năm 2016, thời điểm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh công cuộc này.

Thứ hai, Việt Tân đã suy diễn và vạch ra bốn nguy cơ đe dọa Niệt Nam; trong đó có nguy cơ: CSVN mất khả năng đối phó với những tác động khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang đè nặng lên đời sống hàng triệu người dân lao động.

Vậy hãy xem sự “tiên tri” của “chủ tịch Đảng Việt Tân” và bút danh Việt Tân có chính xác không? Tại Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 05/6/2024 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5 năm 2024 nêu rõ, tình hình kinh tế – xã hội tháng 5 tiếp tục xu hướng phục hồi tích cực và tốt hơn tháng 4; tính chung 05 tháng đầu năm 2024 đạt kết quả tốt hơn cùng kỳ năm 2023 trên hầu hết các lĩnh vực. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, thúc đẩy tăng trưởng cả 3 khu vực, các cân đối lớn được bảo đảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 5 tháng tăng 4,03% so với cùng kỳ. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng khá, tổng vốn đăng ký 5 tháng đạt hơn 11 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ, trong đó vốn đăng ký mới tăng 50,8%, vốn thực hiện đạt 8,25 tỷ USD, tăng 7,8% (cao nhất so với cùng kỳ trong 05 năm qua). Công tác an sinh xã hội được thực hiện hiệu quả, việc làm, sinh kế và đời sống người dân tiếp tục được nâng lên. Nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực, dự báo lạc quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2024.

Những con số trên, cho thấy Việt Tân cần hiểu rằng: tham nhũng và chống tham nhũng, ở mọi thời và muôn đời vốn không bao giờ cũ. Đó là vấn đề song hành cùng với sự tồn tại và phát triển của mọi quốc gia. Điều quan trọng là quốc gia đó có đủ quyết tâm, có đủ kiên trì để hạn chế, tiến tới xóa bỏ nạn quan liêu, tham nhũng hay không mà thôi. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam hãy đề cao cảnh giác, tỉnh táo, quyết không mắc mưu và kiên quyết đấu tranh vạch trần bản chất của những kẻ phản động như Việt Tân./.