Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

THỐNG NHẤT TƯ TƯỞNG VÀ NHẬN THỨC, VỮNG BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI

 

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn khẳng định sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất trong ý chí và hành động. Chính từ sự gắn kết đó, đất nước ta đã vượt qua muôn vàn thử thách, bảo vệ độc lập, chủ quyền và từng bước vươn lên mạnh mẽ. Ngày nay, trong bối cảnh đất nước chuyển mình bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc thống nhất tư tưởng và nhận thức trở thành yếu tố cốt lõi để cán bộ, đảng viên và nhân dân chung sức xây dựng một Việt Nam hùng cường.

Cán bộ, đảng viên là lực lượng nòng cốt

Thống nhất tư tưởng là nguyên lý vận hành của mọi xã hội thành công. Đối với Việt Nam, trong hành trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tư tưởng chính trị của Đảng là hạt nhân định hướng, ngọn cờ quy tụ sức mạnh toàn dân. Khi tư tưởng và nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng điệu, chúng ta không chỉ tránh được sự phân tâm, chia rẽ mà còn tạo nên sức bật mạnh mẽ để vượt qua mọi trở lực.

Hiện nay, trong thời đại của toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, những thách thức về mặt tư tưởng, nhận thức trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Sự xâm lấn của các tư tưởng trái chiều, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và môi trường quốc tế đòi hỏi sự kiên định, sáng suốt trong định hướng tư tưởng. Trong bối cảnh ấy, thống nhất tư tưởng không chỉ là giữ vững bản sắc dân tộc mà còn là tạo dựng một nền tảng tư duy mới, hiện đại và hội nhập.

Cán bộ, đảng viên là lực lượng nòng cốt trong việc dẫn dắt và định hình tư tưởng xã hội. Nếu coi tư tưởng là dòng nước thì cán bộ, đảng viên chính là những con đê kiên cố dẫn dòng, tránh mọi nguy cơ nhiễu loạn, tiêu cực. Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức sâu sắc và hành động nhất quán theo định hướng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ chiến lược mà còn là yêu cầu cấp thiết trong thời đại mới.

Người cán bộ phải là tấm gương sáng trong tư tưởng và hành động, giữ vững đạo đức cách mạng, không dao động trước mọi thử thách. Đảng viên, đặc biệt là những người giữ vị trí lãnh đạo, cần làm chủ tri thức, nhạy bén với thời cuộc nhưng không đánh mất bản lĩnh, luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Khi mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần tư tưởng cách mạng, lan tỏa giá trị đó đến quần chúng nhân dân, sự thống nhất trong tư tưởng và nhận thức của toàn dân sẽ được củng cố vững chắc.

Mọi chính sách, chiến lược dù sắc bén đến đâu cũng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được nhân dân đồng thuận và chung tay thực hiện. Sự thống nhất tư tưởng trong nhân dân không phải là một điều hiển nhiên mà là kết quả của quá trình vận động, tuyên truyền bền bỉ. Điều này đòi hỏi Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị cùng mọi cán bộ, đảng viên cần lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng của quần chúng nhân dân, đồng thời truyền tải một cách thuyết phục nhất những giá trị cốt lõi, mục tiêu chiến lược của Đảng, Nhà nước để người dân nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng đất nước. Tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và khát vọng cống hiến của mỗi người dân chính là chất keo gắn kết, tạo nên sức mạnh tổng hợp để vượt qua mọi thách thức. Khi người dân hiểu rằng mỗi hành động, nỗ lực cá nhân đều góp phần vào thành công chung của đất nước, sự thống nhất trong tư tưởng và nhận thức sẽ trở thành một lực đẩy to lớn.

Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam đang đứng trước những thời cơ vàng để phát triển. Tuy nhiên, thách thức cũng không nhỏ: Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, biến đổi khí hậu và nguy cơ tụt hậu nếu không kịp thời thích ứng với xu thế toàn cầu. Để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, sự thống nhất tư tưởng và nhận thức trong toàn xã hội là điều kiện tiên quyết. Thống nhất không chỉ là sự đồng lòng mà còn là sự đồng hành giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là sự đồng thuận trong việc xác định con đường phát triển, cách thức hành động và mục tiêu hướng tới.

Thống nhất tư tưởng và nhận thức không chỉ là sức mạnh mềm mà còn là nền tảng vững chắc để dân tộc Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên mới. Đó là yếu tố bảo đảm cho sự đồng lòng, đồng hành và đồng tâm trong mọi giai đoạn lịch sử. Khi tư tưởng và nhận thức của mỗi cá nhân hòa chung vào dòng chảy lớn của dân tộc, Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục vươn mình, khẳng định vị thế trên bản đồ thế giới và hiện thực hóa khát vọng hùng cường.

Kỷ nguyên mới đã mở ra và con đường phía trước đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự vấn, tự rèn để trở thành những nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện, bền vững của đất nước. Sự thống nhất trong tư tưởng và nhận thức chính là ngọn đuốc soi sáng cho hành trình ấy-hành trình vươn tới đỉnh cao của sự phát triển, phồn vinh.

Hội tụ sự sáng tạo, linh hoạt và phù hợp

Trong kỷ nguyên mới, khi Việt Nam đang vươn mình để khẳng định vị thế trên trường quốc tế, việc thống nhất tư tưởng và nhận thức không thể chỉ là một khẩu hiệu hay một hành động máy móc mà là sự hội tụ của sáng tạo, linh hoạt và phù hợp với thực tiễn. Thống nhất tư tưởng không đồng nghĩa với việc triệt tiêu sự đa dạng mà là tạo nên một nền tảng chung vững chắc, nơi các ý kiến khác biệt được dẫn dắt bởi mục tiêu phát triển chung của dân tộc. Đó không phải là sự gò bó trong khuôn khổ cứng nhắc mà là sự đồng thuận được xây dựng trên tinh thần đổi mới, thích nghi với những biến động nhanh chóng của thời đại.

Bản chất của thống nhất tư tưởng nằm ở định hướng rõ ràng và khả năng vận dụng phù hợp với từng bối cảnh lịch sử. Trong hành trình phát triển, tư tưởng chính trị của Đảng là ngọn cờ soi đường, nhưng để tư tưởng ấy thấm sâu vào thực tiễn phải được cụ thể hóa qua các chính sách, chiến lược và hành động gần gũi với đời sống người dân. Định hướng tư tưởng không thể đứng ngoài những vấn đề cấp bách như chuyển đổi số, bảo vệ môi trường hay bảo đảm công bằng xã hội; ngược lại, phải gắn bó mật thiết và trở thành kim chỉ nam cho mọi nỗ lực đổi mới. Sự phù hợp của tư tưởng không chỉ được đo bằng lý tưởng cao đẹp mà còn bằng khả năng giải quyết những thách thức thực tiễn, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tư tưởng và nhận thức phải lấy nhân dân làm trung tâm, bởi dân là gốc, là nền tảng của mọi thành tựu. Một chính sách dù hoàn hảo trên lý thuyết, cũng sẽ thất bại nếu không xuất phát từ thực tế cuộc sống và không thỏa mãn được mong muốn chính đáng của người dân. Chính vì vậy, để bảo đảm sự thống nhất trong tư tưởng, điều cốt lõi là lắng nghe, thấu hiểu và hành động vì lợi ích của dân tộc. Chỉ khi tư tưởng và hành động của Đảng hòa quyện với tiếng nói, nguyện vọng của nhân dân, sự thống nhất mới thực sự trở thành động lực phát triển.

Thống nhất tư tưởng không chỉ là sự kế thừa mà còn phải phát triển để phù hợp với thời đại. Những giá trị truyền thống tốt đẹp như tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường cần được duy trì, nhưng không thể dừng lại ở đó. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chúng ta phải không ngừng đổi mới tư duy, làm giàu thêm hệ giá trị của mình bằng sự sáng tạo và học hỏi. Tinh thần "dân là gốc" không chỉ là kim chỉ nam mà phải được hiện thực hóa bằng những chính sách ưu tiên cho dân sinh, với sự tham gia tích cực của toàn dân trong quá trình hoạch định và thực thi.

Định hướng tư tưởng trong kỷ nguyên mới không chỉ cần sự rõ ràng mà còn phải mang tính mở, vừa giữ vững bản sắc dân tộc vừa đủ linh hoạt để thích nghi với những thách thức chưa từng có. Một xã hội thống nhất về tư tưởng là một xã hội có khả năng tạo ra sự đồng thuận trong sự khác biệt, dung hòa những quan điểm để cùng hướng tới một mục tiêu cao cả: Xây dựng một đất nước phồn vinh, một dân tộc vững mạnh. Đây chính là sức mạnh nội tại đưa Việt Nam vững bước trên hành trình mới, nơi tư tưởng và nhận thức hòa quyện thành động lực to lớn để hiện thực hóa khát vọng hùng cường.

Chuyển hóa thành sức mạnh hành động

Để xây dựng một nền tảng thống nhất tư tưởng và nhận thức vững chắc cho toàn Đảng, toàn dân trong kỷ nguyên mới, cần hướng đến những nhiệm vụ chiến lược mang tính chất xuyên suốt, vừa giải quyết các vấn đề thực tiễn cấp bách vừa tạo tiền đề lâu dài cho sự phát triển bền vững. Nhiệm vụ này không chỉ đòi hỏi sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự nỗ lực của từng cán bộ, đảng viên mà còn cần sự đồng lòng, tham gia tích cực của mọi tầng lớp nhân dân.

Trước hết, công tác tư tưởng phải tiếp tục khẳng định vai trò định hướng trong mọi lĩnh vực đời sống, từ chính trị, kinh tế, văn hóa đến khoa học, giáo dục. Đảng cần đặt ra những mục tiêu rõ ràng, khả thi, giúp nhân dân hiểu và thấm nhuần lý tưởng phát triển một Việt Nam hùng cường. Để làm được điều đó, công tác tuyên truyền phải đi vào chiều sâu, tránh sự khô cứng hay hình thức. Tư tưởng và nhận thức của nhân dân cần được nuôi dưỡng từ các câu chuyện thực tế, thành tựu đã đạt được và những giá trị sống động của cuộc sống thường ngày, từ đó khơi dậy niềm tự hào dân tộc và tinh thần trách nhiệm chung tay xây dựng đất nước.

Đồng thời, giáo dục tư tưởng chính trị cần trở thành một phần cốt lõi trong hệ thống giáo dục quốc gia, không dừng lại ở việc phổ biến kiến thức mà phải hướng đến việc hình thành tư duy độc lập, sáng tạo và trách nhiệm xã hội. Một nền giáo dục chất lượng cao không chỉ cung cấp tri thức mà còn phải xây dựng lòng yêu nước và khát vọng cống hiến cho thế hệ trẻ. Trong kỷ nguyên mới, khi thông tin và tri thức trở thành vũ khí cạnh tranh toàn cầu, giáo dục tư tưởng phải không ngừng đổi mới, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, đồng thời mở rộng ra những lĩnh vực mới như chuyển đổi số và công nghệ hiện đại.

Nhiệm vụ quan trọng nữa là bảo đảm sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước. Nhân dân chỉ có thể thống nhất về tư tưởng và nhận thức khi họ tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Sự minh bạch trong chính sách, công khai trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ cán bộ, đảng viên chính là chìa khóa để tạo dựng niềm tin ấy. Một khi niềm tin được củng cố, tư tưởng của nhân dân sẽ tự nhiên quy tụ, đồng thuận và chuyển hóa thành sức mạnh hành động.

Mặt khác, cần có những bước đi cụ thể nhằm làm giảm rào cản đang làm suy yếu sự thống nhất tư tưởng, từ những tác động của thông tin sai lệch, mâu thuẫn nội tại trong xã hội đến các tư tưởng trái chiều từ bên ngoài. Đối diện với những thách thức này, Việt Nam cần chủ động trong việc xây dựng không gian tư tưởng tích cực, tạo điều kiện để nhân dân được tiếp cận thông tin chính xác, đầy đủ, đồng thời tăng cường khả năng phản biện trước các luồng tư tưởng xấu độc. Đây không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý thông tin mà còn là nhiệm vụ của mỗi cá nhân, đặc biệt là các cán bộ, đảng viên, những người đóng vai trò đầu tàu trong việc định hướng và lan tỏa những giá trị đúng đắn.

Quan trọng nhất, mọi nhiệm vụ cần được thực hiện trên nguyên tắc "dân là gốc, dân là trung tâm", nhân dân là nguồn gốc của sức mạnh dân tộc, cũng là chủ thể thụ hưởng thành quả của mọi sự phát triển. Thống nhất tư tưởng không phải là việc áp đặt một chiều mà là sự hài hòa giữa định hướng từ trên xuống và sự tham gia từ dưới lên. Khi người dân được tôn trọng, lắng nghe và tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, sự đồng thuận và thống nhất sẽ trở thành một kết quả tự nhiên.

Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn để vươn mình, nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức. Thành công của quốc gia không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh kinh tế hay tiềm lực công nghệ mà còn nằm ở sự thống nhất tư tưởng và nhận thức của toàn dân. Với sự quyết tâm, đồng lòng và những bước đi chiến lược đúng đắn, dân tộc Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vị thế của mình, trở thành một biểu tượng của sức mạnh đoàn kết và phát triển bền vững trong thời đại mới.

XÂY DỰNG VĂN HÓA THỰC HÀNH TIẾT KIỆM CHỐNG LÃNG PHÍ: KHÔNG THỂ CHẬM TRỄ HƠN

 

Không thể để chậm trễ hơn cần khẩn trương xây dựng văn hóa thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong tất cả các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội và các tập đoàn, công ty.

Công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được triển khai đồng bộ và quyết liệt trong thời gian qua. Vì vậy đã giành được nhiều thắng lợi rất quan trọng, là sự cảnh tỉnh nghiêm khắc đối với cán bộ các cấp, các ngành từ trung ương đến các địa phương. Nhưng còn câu chuyện “nhức nhối” là lãng phí thì đâu đó vẫn chưa được coi trọng và triển khai thực hiện đồng bộ và quyết liệt.

Tổng Bí thư Tô Lâm vừa qua đã có bài viết quan trọng đăng tải, phát sóng trên các phương tiện truyền thông về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, nêu ra thực trạng nghiêm trọng của tình trạng lãng phí đã và đang diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương trong cả nước. Bài viết cũng đồng thời chỉ ra nhiệm vụ cấp bách cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như đối với toàn bộ hệ thống chính trị phải vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa để chống lãng phí.

Gần đây nhất trong buổi thảo luận ở tổ của Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV đang diễn ra, Tổng Bí thư Tô Lâm lại một lần nữa nêu vấn đề chống lãng phí và dẫn chứng một số vụ việc rất tiêu biểu về lãng phí gây bức xúc trong nhân dân.

Và vấn đề thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng đã được Bác Hồ chỉ ra từ rất sớm và ngay trong Di chúc thiêng liêng của Người gửi lại cho toàn Đảng toàn dân, Bác Hồ đã coi việc lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân là có tội.

Không khó để nhân diện ra tình trạng lãng phí đang diễn ra khá phổ biến nghiêm trọng từ rất nhiều năm trước cho đến hiện nay. Có thể thấy rất rõ là mỗi người dân bình thường cũng tận mắt thấy tình trạng lãng phí diễn ra ngay trên địa bàn cư trú và ngay ở địa phương mình. Nhưng thật đáng tiếc và rất đáng lo ngại là nhiều cơ quan Đảng, chính quyền và các cơ quan bảo vệ pháp luật lại chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ về nhiệm vụ chống lãng phí và có những biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng này ở cơ quan đơn vị mình. Không ít cán bộ chủ chốt các cơ quan trung ương, các tỉnh thành phố, các quận huyện... lại không thấy hoặc cố tình không thấy sự nguy hiểm của lãng phí đang tàn phá đất nước cũng nghiêm trọng như tham nhũng tiêu cực và thậm chí có ý kiến còn cho rằng nguy hại hơn.

Có thể kể ra rất nhiều sự lãng phí về thời gian và tiền bạc của Nhà nước và Nhân dân ở nhiều nơi, nhiều ngành, lĩnh vực. Một số liệu thống kê cho thấy cả nước hiện có 3.085 dự án chậm tiến độ hoặc không được thực hiện kéo dài từ 10 năm đến hơn 20 năm. Đã có khoảng hơn 74.000 ha đất bị bỏ hoang không sử dụng gây lãng phí một khoản tiền vô cùng lớn.

Tình trạng lãng phí phổ biến trên rất nhiều lĩnh vực nhưng tập trung ở ba lĩnh vực chủ yếu. Một là lãng phí về tài nguyên đất đai. Hai là lãng phí về đầu tư công và chậm giải ngân đầu tư công. Ba là lãng phí trong xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, giao thông vận tải, thủy lợi, đê điều...

Một số đại biểu quốc hội và các chuyên gia cho rằng lãng phí diễn ra phổ biến ở nhiều cơ quan đơn vị, từ trung ương đến các địa phương. Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có thể coi là hai địa phương lãng phí lớn nhất, trong đó lãng phí lớn nhất là sử dụng đất đai, bởi giá đất đai ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là đắt đỏ nhất cả nước. Hoặc trong giải ngân đầu tư công thì 9 tháng đầu năm 2024 mới giải ngân chưa được 50% trong khi chỉ còn ba tháng nữa thì chắc chắn không thể nào giải ngân hết 50% còn lại.

Nếu kể một số công trình xây dựng dở dang hoặc bỏ hoang hàng chục năm trời thì ai cũng thấy rất xót xa. Tại thành phố Phủ Lý (Hà Nam) có hai bệnh viện lớn là Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 được đầu tư 9.000 tỷ đồng qua 10 năm xây dựng đã giải ngân hơn 5.000 tỷ đồng nhưng đến nay nhiều trang thiết bị đã xuống cấp hoặc hư hỏng và bệnh viện vẫn chưa được đưa vào sử dụng gây bức xúc dư luận.

Thủ đô Hà Nội có 712 dự án đã được phê duyệt nhưng chậm tiến độ hoặc chưa được triển khai. Có rất nhiều dự án ở khắp các quận huyện của thủ đô mà ai cũng thấy những khu đất rộng lớn bị bỏ hoang cây cỏ mọc um tùm.

Tại tổ 14 phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội có khu đất 15.000 mét vuông bỏ hoang hơn 30 năm nay mà chính quyền quận Long Biên không cho 87 hộ dân là cán bộ, sĩ quan, quân đội và công an đưa vào sử dụng với lý do là có dự án công ích nhưng không công khai quy hoạch dự án cho dân biết và cũng không triển khai thực hiện gây bức xúc dư luận xã hội.

Tín hiệu đáng mừng là các vụ án về thất thoát, lãng phí do cán bộ thiếu trách nhiệm hoặc thoái hóa biến chất, nhận hối lộ gây ra đã và đang được xử lý. Mới đây đã truy tố cựu Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến và cựu Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đình Xứng về tội vi phạm quy định về quản lý sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát cho ngân sách nhà nước 55,8 tỷ đồng. Hay vụ án Hồ chứa nước bản Mồng ở Nghệ An, cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án và khởi tố các bị can gồm chủ đầu tư, đơn vị trúng thầu được dư luận đồng tình ủng hộ.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, cuộc chiến chống lãng phí thực hành tiết kiệm phải đặt ngang hàng, thậm chí cao hơn cuộc chiến chống tham nhũng tiêu cực, bởi vì gây thất thoát tiền của, tài sản của Nhà nước và nhân dân vô cùng lớn. Không thể để chậm trễ hơn cần khẩn trương xây dựng văn hóa thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong tất cả các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội và các tập đoàn, công ty. Mặt khác cũng cần quy rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan đơn vị và các cơ quan tham mưu khi quyết định, thẩm định phê duyệt các dự án về mọi lĩnh vực. Đồng thời các cơ quan bảo vệ pháp luật phải đẩy mạnh việc kiểm tra thanh tra giám sát và khi phát hiện vụ việc phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật dù cơ quan, đơn vị hay người gây ra lãng phí cao đến đâu.

Lẽ đương nhiên công cuộc thực hành tiết kiệm chống lãng phí phải đi đôi với cuộc đấu tranh kiên quyết mạnh mẽ không khoan nhượng là tham nhũng, tiêu cực tham ô, thoái hóa biến chất của một số cán bộ, đảng viên. Nhân dân tin tưởng và kỳ vọng vào sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm về công cuộc thực hành tiết kiệm chống lãng phí sẽ được triển khai đồng bộ và mạnh mẽ, quyết liệt đem lại hiệu quả thiết thực, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN BẢN CHẤT, TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA QUÂN ĐỘI ANH HÙNG

  

Xuyên tạc, phủ nhận vai trò, chiến công oanh liệt, bản chất và lịch sử, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam; không muốn Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tổ chức chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2024) và 35 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2024) là thái độ thâm thù, hành vi sai trái của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử bất mãn và cơ hội chính trị. Những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang đi ngược lại xu hướng phát triển của đất nước, đối lập lợi ích cá nhân của một nhóm người với lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam.

 Những việc làm sai trái của các thế lực thù địch, phản động là cố tình chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội với nhân dân, giữa Đảng, Nhà nước với Quân đội nhằm gạt bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; coi Quân đội ta như một công cụ của nhà nước tư sản, chỉ “là lực lượng trung lập”, “tuân theo mệnh lệnh của giai cấp, nhà nước sinh ra và nuôi dưỡng nó”, “không lệ thuộc vào Đảng Cộng sản”, “không cần làm theo nghị quyết của Đảng Cộng sản”...

Chiêu trò này không mới, bởi nó luôn là “điệp khúc” đã tua đi tua lại nhiều lần; thế nhưng, nó lại rộ lên, lan truyền trên mạng xã hội vào đúng lúc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân thì chính các hoạt động sai trái của các thế lực thù địch, phản động lại là một chiêu thức thâm độc, đầy mưu mô, toan tính xảo quyệt nhằm phá hoại mối quan hệ bản chất, sự gắn bó keo sơn giữa Đảng, Nhà nước với Quân đội; giữa Quân đội với nhân dân; cố tình cô lập Quân đội ta với Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Hoạt động sai trái của các thế lực thù địch dù chỉ là sự tuyên tuyền sai trái, kích động sự chống đối trên không gian mạng nhưng về thực chất, nó là những hành động vi hiến, có tội với nước, với dân, với cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta, đặc biệt là mắc tội vong ân, bội nghĩa với các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì nước, vì dân; đã và đang cản trở Quân đội ta thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về xây dựng Quân đội nhân dân tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Qua đó, phá hoại sự nghiệp quốc phòng, công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta. Không khó nhận ra đích đến cuối cùng của các thế lực thù địch, phản động là phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây rối, làm giảm niềm vui trong ngày Hội Quốc phòng toàn dân; phủ nhận khát vọng sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân và Quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Từ lâu, để thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch không từ bỏ một âm mưu, thủ đoạn xấu xa, bỉ ổi nào, từ phủ nhận thành quả cách mạng, xuyên tạc sự thật về công cuộc đổi mới, xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc đến nói xấu, bôi nhọ thanh danh của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; hạ thấp uy tín, danh dự, nhân phẩm, cuộc đời, sự nghiệp và gia đình của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và các tướng lĩnh Quân đội...

Bản chất của các hoạt động chống phá mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, các phần tử bất mãn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta là nhằm thực hiện mục tiêu duy nhất: Xóa bỏ vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; đối với Quân đội ta; lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa có lợi cho chúng. Cho nên, chiêu thức “phi chính trị hóa” Quân đội chỉ là một trong các biện pháp đẩy nhanh việc thực hiện mục tiêu đen tối nêu trên.

Tất cả những việc làm sai trái của các thế lực thù địch với nhiều mô thức, kiểu loại khác nhau, song đều nhằm mục đích chĩa “nòng súng” vào chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, trước hết là các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp của Quân đội. Bởi các đồng chí ấy đại diện cho niềm tin, ý chí, sức mạnh, sự đoàn kết, nhất trí của quân và dân ta; là tinh hoa chính trị - quân sự, đại diện trung thành cho lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Cho nên, thực hiện các chiêu trò thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội, “phi đảng hóa” các tổ chức chính trị - xã hội… những việc làm sai trái đó đều vì mục tiêu tước đi sức mạnh của Đảng và của Quân đội ta, thông qua những việc làm đó để từng bước đánh sập chỗ dựa vững chắc, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân là Quân đội nhân dân Việt Nam, từ đó dễ bề thao túng, làm suy yếu Đảng và cuối cùng “xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng”.

Sự thâm thù và âm mưu nguy hiểm của các thế lực thù địch nằm ở chỗ muốn xóa bỏ bằng được vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta. Phá được Đảng, triệt tiêu được động lực, mục tiêu chiến đấu của Quân đội, hủy hoại mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta là các thế lực thù địch thành công, là xóa bỏ tất cả thành quả cách mạng đã giành được bằng máu xương suốt 80 năm Quân đội ta đi theo Đảng.

Vấn đề đặt ra là nếu thành quả cách mạng gần 95 năm ở nước ta do Đảng lãnh đạo bị “biến mất”, nhân dân ta lại rơi vào thảm cảnh “nồi da nấu thịt”, lại phải đối mặt với chiến tranh, xung đột vũ trang liên miên, thì nhân dân ta sẽ sống như thế nào? Chúng ta sẽ nói những gì với vong linh các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì nước, vì dân?

Kiểm chứng thực tiễn đấu tranh cách mạng và sự hy sinh to lớn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chúng ta hiểu thấu và thêm trân quý giá trị của hòa bình, độc lập, tự do, cuộc sống ấm no, hạnh phúc mà quân và dân ta đang có. Đó là điều thiêng liêng, tuyệt đối không được để mất; tuyệt đối không được để các thế lực thù địch, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “cách mạng màu”, “phi chính trị hóa” Quân đội nhằm phá hủy thành quả cách mạng.

Trong bối cảnh tình hình mới, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ nhân dân ta; phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là niềm vinh dự, tự hào; đồng thời, là trách nhiệm cao cả của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta. Lúc này, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, sớm “về đích” tất cả các mục tiêu, chỉ tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; lập thành tích cao nhất chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân; hướng đến chào mừng kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng và 100 năm Ngày thành lập nước là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người lính “Bộ đội Cụ Hồ”.

Đây cũng là tiền đề quan trọng để Đảng ta và Quân ủy Trung ương tiến hành thành công Đại hội XIV của Đảng, Đại hội lần thứ XII của Đảng bộ Quân đội. Đây còn là công việc hệ trọng cùng với Đảng, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đây cũng là cơ sở, nền tảng vững chắc để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, loại bỏ mọi sự xuyên tạc, nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

NƠI LƯU GIỮ NHỮNG KÝ ỨC HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC ANH HÙNG

  

Tọa lạc tại quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là công trình quan trọng hướng tới chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân và 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam. Bảo tàng không chỉ đơn thuần là công trình trưng bày lịch sử chiến tranh, mà còn tạo không gian chung để khách tham quan tương tác và trải nghiệm về cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam anh hùng, của QĐND Việt Nam anh hùng.

Một công trình hiện đại

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam rộng 386.600m2, được xây dựng tại Km 6+500 bên Đại lộ Thăng Long, thuộc 2 phường Tây Mỗ và Đại Mỗ của quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Bảo tàng được thiết kế hiện đại gồm 4 tầng nổi và tầng bán âm. Đây là dự án cấp đặc biệt do Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam làm chủ đầu tư, được khởi công vào cuối năm 2019 với tổng mức đầu tư hơn 2.500 tỷ đồng.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một trong các bảo tàng quốc gia và đứng đầu trong hệ thống Bảo tàng Quân đội, hiện đang lưu giữ, trưng bày hơn 15 vạn tài liệu, hiện vật, trong đó có nhiều sưu tập độc đáo và 4 Bảo vật Quốc gia, gồm: Máy bay MiG-21 số hiệu 4324, máy bay MiG-21 số hiệu 5121, Bản đồ Quyết tâm Chiến dịch Hồ Chí Minh và xe tăng T-54B số hiệu 843 cùng nhiều hiện vật có giá trị khác. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam được xem là công trình ý nghĩa đối với cả quá khứ và tương lai, tạo điểm nhấn không chỉ cho Quân đội, mà còn cho Thủ đô và cả nước. Công trình sẽ góp phần quảng bá lịch sử, văn hóa, du lịch, phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội, là điểm nhấn kiến trúc, kết nối hài hòa và bảo tồn kiến trúc, cảnh quan khu vực.

Tại Bảo tàng, công chúng được trải nghiệm, chiêm ngưỡng về các cuộc chiến hào hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng và QĐND Việt Nam anh hùng. Khu vực bên phải bảo tàng là nơi trưng bày những loại vũ khí, trang bị mà quân đội Pháp, Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trong các hiện vật đặc biệt có pháo tự hành M-107 cỡ nòng 175mm được mệnh danh là "vua chiến trường"; nhiều loại máy bay mà quân đội Mỹ bỏ lại sau chiến tranh như máy bay A37, F5E, CH47, C130; hàng chục loại bom mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Phía bên trái bảo tàng là khu vực trưng bày những vũ khí, trang bị mà QĐND Việt Nam sử dụng trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và sử dụng trong việc huấn luyện sẵn sàng chiến đấu ở thời kỳ xây dựng, bảo vệ đất nước. Các hiện vật tiêu biểu gồm: Pháo 85mm, pháo cao xạ 57mm, xe tăng PT67 số hiệu 555, máy bay MiG-17 số hiệu 2047, máy bay SU22...

Không gian trưng bày bên trong bảo tàng tại tầng 1 được chia làm 6 chủ đề, sắp xếp theo trình tự thời gian và bố cục hợp lý. Cụ thể, chủ đề 1: Buổi đầu dựng nước và giữ nước; chủ đề 2: Bảo vệ nền độc lập từ năm 939 đến năm 1858; chủ đề 3: Chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc năm 1858 đến năm 1945; chủ đề 4: Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, năm 1945 - 1954; chủ đề 5: Cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1954 đến 1975; chủ đề 6: Xây dựng và bảo vệ đất nước từ năm 1976 đến ngày nay. Các hiện vật đều được chú thích cụ thể, đính kèm với thông tin sự kiện. Loại hình thể hiện rất đa dạng, bao gồm văn bản, màn hình tra cứu thông tin, media tư liệu ảnh, thuyết minh tự động audioguide và mã QR tra cứu thông tin hiện vật, hình ảnh.

Nhiều ứng dụng công nghệ hiện đại được ứng dụng, tạo cảm giác chân thực với người xem như sa bàn 3D mapping, hệ thống màn hình tra cứu, phim tư liệu... Đặc biệt, Bảo tàng đã xây dựng hơn 60 clip, tư liệu bổ trợ cho từng chiến dịch, từng trận đánh để du khách cảm nhận rõ, tiếp cận một cách dễ dàng hơn.

Sống lại ký ức hào hùng

Trung tá Nguyễn Thị Lan Hương, Trưởng phòng Tuyên truyền giáo dục, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam cho biết: Bảo tàng mới được mở cửa từ ngày 1/11/2024. Mỗi ngày, trung bình có từ 20.000-30.000 người dân của Thủ đô và nhiều vùng miền khác đến tham quan. Đặc biệt, những ngày cuối tuần, dù thời tiết nắng nóng, hanh khô hay mưa bão, hàng vạn người dân từ khắp nơi vẫn đổ về tham quan Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, khiến giao thông nhiều thời điểm ùn tắc.

Dù phải đi một quãng đường xa để đến tham quan, cựu chiến binh Trần Hòa Nam, năm nay hơn 80 tuổi, quê ở Nghệ An, là một trong những nhân chứng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 xúc động cho biết: “Vào tham quan tại Bảo tàng, tôi như được sống lại những năm tháng chiến tranh đầy oanh liệt nhưng cũng rất hào hùng của dân tộc. Ngày ấy, đất nước ta tuy gian khó, vất vả, nhưng quân dân đồng lòng, chung sức bảo vệ đất nước. Đặc biệt, thời khắc chúng tôi nghe tin đã bắt được tướng De Castries, toàn bộ chúng tôi như nổ tung, òa lên hò reo với nhau, nước mắt trào dâng, xúc động không sao tả xiết. Nhiều năm đã qua, chúng tôi vẫn nhớ Bác Hồ kính yêu và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có những quyết định vô cùng sáng suốt mới đi tới thắng lợi huy hoàng ngày đó”.

Cùng chung cảm xúc, cựu chiến binh Nguyễn Văn Hùng, trú tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội là một nhân chứng lịch sử đã từng tham gia Chiến dịch “Mùa hè đỏ lửa” tại thành cổ Quảng Trị năm 1972, bồi hồi kể: “Cứ nhìn những tấm ảnh này, tôi lại nhớ về những người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường...”.

Có thể nói, tham quan, chiêm ngắm những hiện vật sống động tại Bảo tàng cũng chính là cơ hội để thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước hiểu rõ hơn về lịch sử, sự hy sinh của thế hệ cha ông đi trước và phát huy truyền thống quý giá của dân tộc. Không quản đường sá xa xôi, cô gái trẻ Nguyễn Mai Linh, sinh năm 1995, đến từ thành phố Hồ Chí Minh cho biết: “Mình có ông nội từng tham gia kháng chiến nên mình rất muốn có một lần được nhìn thấy những hiện vật của chiến tranh. Thông qua chuyến đi này, chúng mình đã hiểu thêm rất nhiều về lịch sử dân tộc, khiến mình cảm thấy tự hào và càng biết ơn sâu sắc những thế hệ cha anh đi trước”.

Không chỉ hấp dẫn với người dân trong nước, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam còn thu hút đông đảo khách du lịch nước ngoài đến tham quan, tìm hiểu. Anh Michel Thomson, 35 tuổi, du khách người Anh, vô cùng thích thú khi thấy những hiện vật được tái hiện rất chân thực tại Bảo tàng. “Tôi yêu thích lịch sử Việt Nam, thậm chí, tôi đã lựa chọn môn học về lịch sử của Việt Nam khi tham gia học đại học. Đến Việt Nam 3 năm, tôi đã có thể đọc sách bằng tiếng Việt để nghiên cứu về những chiến tích oai hùng của đất nước này” - anh Michel Thomson chia sẻ./.

 

NGÔI TRƯỜNG MƠ ƯỚC GIÚP BAO THẾ HỆ THANH NIÊN TRƯỞNG THÀNH

 

Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam đã lập nên những trang sử hào hùng. Cùng với sự lớn mạnh của Quân đội, hàng triệu thanh thiếu niên Việt Nam đã không ngừng trưởng thành về mọi mặt, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của toàn dân tộc. Trải nghiệm trong môi trường quân ngũ, thanh niên được tôi luyện, trau dồi về tư tưởng, khí phách, được hun đúc hoài bão lớn. Có thể khẳng định, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn là “trường học lớn” của thanh niên Việt Nam.

Quân đội là trường học về chính trị, rèn luyện bản lĩnh. Trong môi trường Quân đội, công tác chính trị là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu. Công tác giáo dục chính trị được tiến hành thường xuyên, thấm nhuần trong tư tưởng của mọi quân nhân, đặc biệt chú trọng giáo dục thanh niên mới nhập ngũ. Thông qua các chuyên đề giáo dục chính trị, pháp luật, tiếp cận với các phương tiện truyền thông hiện đại, thanh niên được giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhận định rõ tình hình trong nước và trên thế giới. Thanh niên đã qua Quân đội đa số được rèn luyện phẩm chất chính trị, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, có ý thức chính trị sâu sắc, hiểu thấu đáo trách nhiệm của thanh niên đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhiều thanh niên vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay trong thời gian tại ngũ, điều đó không chỉ giúp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội mà còn góp phần tạo nguồn đảng viên, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ chất lượng cho các địa phương sau khi bộ đội xuất ngũ. Quân đội là nơi rèn luyện bản lĩnh chính trị sắt son, lòng kiên định và trung thành với chế độ, luôn ngời sáng một tinh thần lạc quan và niềm tin tất thắng.

Quân đội là trường học về chuyên môn. Người thanh niên đã qua quân ngũ trước hết có kiến thức về quân sự, quốc phòng. Tùy theo quân binh chủng, bậc học khác nhau, có thể có các kiến thức ở các chuyên ngành khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội nhân văn với trình độ khác nhau để phục vụ công tác và yêu cầu xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Được học nghề và tạo việc làm khi rời quân ngũ để tiếp tục đóng góp tốt hơn cho gia đình và xã hội.

Quân đội là trường học rèn kỷ luật. Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội. Được cụ thể hóa bằng các chế độ sinh hoạt, học tập, công tác hàng ngày, hàng tuần và được quản lý chặt chẽ thông qua hệ thống các tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới. Trong môi trường đó tất cả các quân nhân đều bình đẳng tu dưỡng, học tập, rèn luyện và cống hiến. Trong suốt quá trình đó, mọi ưu điểm, thành tích, chiến công, cũng như những khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót và vi phạm của mỗi quân nhân đều được các tổ chức đánh giá ghi nhận, phân tích chỉ rõ và quản lý chặt chẽ theo phân cấp; chính việc rèn luyện kỷ luật đã tạo thành phẩm chất đạo đức riêng có của mỗi quân nhân.

Quân đội là trường học rèn thể lực, thể chất. Thông qua các hoạt động huấn luyện kỹ, chiến thuật, các nội dung huấn luyện thể lực, hành quân, rèn luyện, diễn tập tổng hợp, luyện tập thể dục thể thao một cách đều đặn đã giúp cho thanh niên Quân đội nâng cao sức khỏe, sự dẻo dai, bền bỉ, tăng cường khả năng chịu đựng trước sự khắc nghiệt của thời tiết cũng như yêu cầu cao của nhiệm vụ chiến đấu.

Quân đội là môi trường trau dồi kỹ năng trong cuộc sống. Trong môi trường tập thể, thanh niên Quân đội có điều kiện chia sẻ những kĩ năng sống, lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, tránh được những sai lầm, vượt qua được những thử thách khó khăn; thắp sáng tinh thần đoàn kết, đồng tâm, đồng lòng; tương thân, tương ái, quan tâm giúp đỡ mọi người, chung tay vì cộng đồng xã hội. Qua các hoạt động thực tiễn, tuổi trẻ Quân đội được trải nghiệm rất nhiều điều ý nghĩa, hiểu được giá trị của cuộc sống, tu dưỡng sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Có thể nói, môi trường hoạt động của Quân đội hiện nay là cơ hội để thanh niên học tập, rèn luyện, cống hiến, trưởng thành nhanh và vững chắc về phẩm chất, cường tráng về sức khỏe; chững chạc về phong cách; trưởng thành về nhận thức; nghiêm chỉnh về kỷ luật; thành thạo về nghiệp vụ; giao tiếp ứng xử có văn hóa. Chính những yếu tố đó giúp hàng triệu thanh niên Việt Nam khẳng định được sức trẻ, sự trưởng thành, đáp ứng được yêu cầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

ĐOÀN KẾT - CỘI NGUỒN DẪN ĐẾN THÀNH CÔNG

 

Đoàn kết dân tộc là một giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam. Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước người Việt Nam luôn đoàn kết để tạo nên sức mạnh cộng đồng chống ngoại xâm, thiên tai, dịch họa.

Từ khi có Đảng lãnh đạo, truyền thống đoàn kết dân tộc đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên một tầm cao mới. Nét độc đáo, sáng tạo của Hồ Chí Minh ở chỗ, Người thấy rõ điểm chung, điểm tương đồng giữa các giai tầng khác nhau trong xã hội, thấy tất cả mọi người, dù có khác nhau về địa vị, tín ngưỡng, tôn giáo… song “ ai cũng có ít nhiều lòng ái quốc”. Chính những điểm chung đó đã kết nối mọi người thành một khối thống nhất đấu tranh vì lợi ích chung của dân tộc.

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên trì nguyên tắc đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là phương thức tạo nên sức mạnh tổng hợp của đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc và hoà hợp xã hội theo mục tiêu và lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn tới, nhằm khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực tổng hợp cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “ khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tò mò kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công thiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đồng thời “ thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội” ( Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, trang 326, 332). Quan điểm này không chỉ thể hiện sự kế thừa, phát huy truyền thống đoàn kết, thân ái thấm đượm tinh thần nhân văn, bao dung của dân tộc, mà còn phản ánh sự sáng tạo của Đảng trong việc khơi dậy trách nhiệm, nghĩa vụ của người dân đối với tương lai của đất nước.

Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta phải không ngừng củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính sự đoàn kết cộng đồng thành một khối vững chắc đã tạo nên sức mạnh để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách làm cho “đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, như Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định.

XÂY DỰNG LUẬT DỮ LIỆU LÀ YÊU CẦU CẤP THIẾT

 

Tình trạng tấn công, đánh cắp, mã hóa dữ liệu, lộ lọt, rao bán thông tin dữ liệu của các tổ chức, cá nhân thời gian gần đây ngày càng trở nên phổ biến, công khai và gia tăng về cả số lượng cũng như mức độ nghiêm trọng, đặt ra nhiều thách thức cho việc bảo vệ an toàn phát triển trên môi trường số.

Thực tế đó càng cho thấy việc xây dựng Luật Dữ liệu là yêu cầu cấp thiết và rất quan trọng.

Theo số liệu của Viettel Threat Intelligence, chỉ trong nửa đầu năm 2024, hơn 61 triệu tài khoản bị lộ lọt, tăng 1,5 lần so với cùng kỳ năm 2023 (hơn 41 triệu tài khoản); trong đó, mạng xã hội, ngân hàng, giao dịch trực tuyến, giáo dục, y tế… là những lĩnh vực có số lượng bản ghi thông tin cá nhân bị đánh cắp nhiều. Bên cạnh dữ liệu cá nhân, dữ liệu của các cơ quan tổ chức, dữ liệu quan trọng cũng bị rò rỉ.

Việc rao bán thông tin người dùng, dữ liệu hệ thống cùng nhiều dữ liệu nhạy cảm của các doanh nghiệp lớn tại Việt Nam tiếp tục tăng nhanh. Số lượng các vụ rao bán, chia sẻ dữ liệu nhạy cảm bùng nổ vào tháng 5 và tháng 6.

Nguyên nhân của tình trạng này phần lớn bởi người sử dụng chưa có ý thức bảo vệ dữ liệu cá nhân, đăng tải công khai hoặc bị lộ trong quá trình chuyển giao, lưu trữ, trao đổi phục vụ hoạt động kinh doanh hoặc do biện pháp bảo mật không tốt dẫn tới bị chiếm đoạt và đăng tải công khai.

Vấn đề này gây nhiều hệ lụy nghiêm trọng, từ cuộc gọi rác, tin nhắn rác, thư rác đến việc lừa đảo người dùng trên không gian mạng. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp bị tấn công gây đình trệ hoạt động, không chỉ thiệt hại về kinh tế mà thậm chí còn có thể ảnh hưởng lớn tới danh dự và uy tín.

Trước thực trạng trên cho thấy, việc bảo vệ dữ liệu cá nhân là nội dung quan trọng của bảo vệ an ninh dữ liệu quốc gia. Theo thống kê, đến nay đã có hơn 140 quốc gia ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Từ năm 2018, Quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân tại Liên minh châu Âu chính thức có hiệu lực, quy định chặt chẽ về công tác bảo vệ dữ liệu cá nhân của các quốc gia thành viên.

Tại Việt Nam, đến nay, có hàng chục văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân. Gần đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quy định những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Tuy nhiên, thực tế hệ thống cơ sở dữ liệu của không ít cơ quan nhà nước và khối doanh nghiệp vẫn còn điểm yếu, xuất hiện lỗ hổng bảo mật khiến tin tặc có thể lợi dụng xâm nhập, đánh cắp dữ liệu. Công tác bảo vệ dữ liệu cá nhân của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân

có hoạt động thu thập dữ liệu cá nhân vẫn còn buông lỏng, chưa có các biện pháp quản lý và kỹ thuật phù hợp để bảo vệ các dữ liệu cá nhân thu thập được. Ngày 8/11 vừa qua, Quốc hội đã thảo luận về Luật Dữ liệu và các đại biểu Quốc hội cũng đồng tình với đề xuất xây dựng Luật Dữ liệu. Đồng thời, thống nhất trong Luật Dữ liệu cần có chế tài nghiêm khắc để xử lý các hành vi vi phạm liên quan công tác bảo mật dữ liệu.

Luật Dữ liệu được đánh giá là khó, chuyên môn sâu, có những nội dung mới, phạm vi tác động rộng, xu hướng phát triển nhanh. Nếu được thông qua, Luật được kỳ vọng sẽ vừa thắt chặt dữ liệu cá nhân và dữ liệu phi cá nhân, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin; từ đó, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, nhất là trong thời kỳ chuyển đổi số và tăng cường hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, trước khi Luật Dữ liệu được thông qua, mỗi cá nhân vẫn cần phải có ý thức sử dụng dữ liệu cá nhân của mình một cách an toàn, cẩn trọng. Đồng thời, các tổ chức, doanh nghiệp cũng phải có nghĩa vụ bảo mật thông tin cá nhân khách hàng, người dùng theo đúng quy định cũng như cam kết; xây dựng chính sách bảo mật thông tin, ngăn ngừa các hành vi xâm phạm thông tin cá nhân khách hàng.

NHẬN DIỆN THÔNG TIN SAI TRÁI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 

Thông tin sai trái trên không gian mạng là những thông tin không đúng sự thật, được phát tán trên không gian mạng, lan truyền đến các tầng lớp nhân dân nhằm xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chi Minh, chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bịa đặt, vu cáo, nói xấu lãnh tụ, chia rẽ đoàn kết nội bộ, tạo sự phân tâm trong xã hội, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bi quan, dao động, mơ hồ, mất phương hướng chính trị của quân nhân.

Thông tin sai lạc sự thật do các thế lực thù địch, phản động đăng tải, phát tán trên không gian mạng. Đây là những thông tin đối lập với thông tin đúng đắn, phản ánh sai trải sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, với âm mưu thâm độc, nhằm hướng lái tư duy, nhận thức của cộng đồng mạng đi ngược mục tiêu, lý tưởng, phương hướng, hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Kẻ địch đăng tải, phát tán thông tin sai trái là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng và thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thông tin sai trái trên không gian mạng biểu hiện trên 3 nhóm cơ bản sau:

Nhóm thứ nhất, những thông tin sai trái tác động, thúc đầy suy thoái về tư tưởng, chính trị:

Thông tin xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thông tin thổi phồng khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở.

Thông tin bôi đen chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thông tin xuyên tạc tư tưởng, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chi Minh, hạ bệ uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bôi nhọ làm mất uy tín cán bộ.

Thông tin kích động, đánh lạc hướng dư luận, trộn lẫn đảng sai gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ.

Thông tin bóp méo sự thật, gây phân tâm tư tưởng trong xã hội, xuyên tạc lịch sử, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Thông tin cổ súy, đề cao chủ nghĩa cá nhân, phủ nhận vai trò của tập thể. Thông tin truyền bả tư tưởng phương Tây tự do, thực dụng.

Thông tin cổ súy giá trị đồng tiền.

Nhóm thứ hai, những thông tin sai trái tác động, thúc đẩy suy thoái về đạo đức, lối sống:

Thông tin truyền bá sản phẩm văn hóa xấu độc, đồi trụy.

Thông tin quảng bá lối sống tư bản, đề cao lối sống thực dụng ích kỷ, cực đoan.

Thông tin đề cao lối sống tư lợi, gian lận bất chấp luật pháp. Thông tin cổ suý lối sống phô trương, háo danh, thành tích.

Thông tin truyền bả lối sống hưởng thụ, cá nhân chủ nghĩa.

Thông tin cổ vũ phong cách sống nhanh, vô trách nhiệm.

Thông tin kích động lòng tham, cổ súy lối sống vô cảm.

Thông tin truyền bá văn hóa phẩm phản động, chỉ vẽ lôi sống mưu mô, xảo quyệt. Thông tin bôi nhọ truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

Nhóm thứ ba, những thông tin sai trái thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ:

Thông tin cổ sủy tư tưởng, hành động chống đổi.

Thông tin kích động tâm trạng phản loạn.

Thông tin thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, vu cáo lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Thông tin gieo rắc tâm lý bất mãn, gây hoài nghi.

Thông tỉnh phủ nhận, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang.

Thông tin kích động bi quan, bất bình, móc nối, tập hợp lực lượng chống phá Đảng và Nhà nước.

Thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, một chiều về chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

Thông tin cổ suý quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan, văn hoá, nghệ thuật tự do, lệch lạc, biến thái.

Thông tin chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thông tin sai trái trên không gian mạng có tính truyền tải nhanh, gần như tức thì. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng để truyền bá những thông tin xấu độc, những bài viết với ngôn ngữ, luận điệu kích động, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta trên mọi lĩnh vực.

Thông tin sai trái trên không gian mạng có diện tham chiếu rộng, dễ tạo hiệu ứng xã hội theo chiều rộng và chiều sâu. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng tác động đến mọi tầng lớp nhân dân, làm ô nhiễm môi trường thông tin xã hội, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng chính trị, dư luận xã hội, gây hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thông tin sai trái trên không gian mạng rất khó quản lý và kiểm soát. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy, lối sống thực dụng gây ảnh hưởng trực tiếp đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân và cộng đồng xã hội: Đạo đức xã hội bị băng hoại, văn hóa dân tộc bị tầm thường hóa, mất bản sắc, văn hóa xã hội bị đổ vỡ. Từ đó, tác động mạnh đến chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng...; dẫn đến mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận không nhỏ những người thường xuyên tiếp cận với không gian mạng.

NGĂN CHẶN TÁC ĐỘNG CỦA SUY THOÁI ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG ĐẾN ĐỘI NGŨ SĨ QUAN TRẺ HIỆN NAY VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM

 

Suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là vấn đề đã được Đảng ta nhận thức từ lâu và đến nay vẫn còn diễn biến khá phức tạp.  Xét về bản chất, suy thoái về đạo đức, lối sống là quá trình chuyển biến những yếu tố từ bên trong mỗi con người, mỗi tổ chức theo chiều hướng suy giảm, suy thoái, tiêu cực. Đến một mức độ nào đó sẽ chuyển hóa về bản chất, quan điểm, lập trường và nguyên tắc đạo đức ở mỗi người. Đó là sự suy giảm, sa sút về phẩm chất đạo đức, lối sống theo hướng đề cao chủ nghĩa cá nhân, thực dụng và tiêu cực.

Có nhiều nguyên nhân khác nhau thúc đẩy suy thoái về đạo đức, lối sống trong sĩ quan trẻ, song tựu trung lại, suy thoái về đạo đức, lối sống vừa là “kết quả lôgích” từ sự thiếu nghiêm túc và quyết tâm của mỗi cán bộ, đảng viên trong tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, vừa là hệ quả trực tiếp bởi sự “thúc đẩy” chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đồng thời, tình trạng mất đoàn kết nội bộ, trình độ nhận thức, kinh nghiệm và nhãn quan chính trị thiếu sắc sảo của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là tác nhân quan trọng dẫn đến suy thoái về đạo đức, lối sống trong nội bộ mỗi tổ chức, mỗi sĩ quan trẻ.

Từ thực tiễn đấu tranh ngăn chặn tác động của sự suy thoái đạo đức, lối sống đến đội ngũ sĩ quan trẻ những năm qua, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

Một là, phải làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý và rèn luyện đội ngũ sĩ quan trẻ.

Đây là kinh nghiệm, đồng thời là giải pháp quan trọng nhằm xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng cho sĩ quan trẻ, làm cho mỗi sĩ quan trẻ có thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; trung thành với với Tổ quốc, với nhân dân, có niềm tin khoa học và mục tiêu, lý tưởng đúng đắn, động cơ phấn đấu trong sáng, rõ ràng, tạo nền tảng phòng ngừa hiệu quả với nguy cơ suy thoái về đạo đức, lối sống mà các thế lực thù địch thúc đẩy trong giai đoạn hiện nay. Thực tế cấp ủy, chỉ huy các cấp đã tập trung bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối lãnh đạo của Đảng, nhiệm vụ của quân đội, đơn vị; nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ cho sĩ quan trẻ. Thông qua sinh hoạt đảng, sinh hoạt chính trị hàng tuần, hàng tháng, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần cung cấp thông tin và định hướng tư tưởng kịp thời, giúp đội ngũ sĩ quan trẻ có nhận thức đúng đắn, tư tưởng vững vàng trước sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, của tệ nạn xã hội cũng như sự chống phá của các thế lực thù địch. Cùng với đó chủ động tạo điều kiện để đội ngũ sĩ quan trẻ được rèn luyện toàn diện gắn với thực tiễn công tác trên từng cương vị, chức trách được giao.

Hai là, thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình trong đội ngũ sĩ quan trẻ

Tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để mỗi sĩ quan trẻ tự "gột rửa" những tư tưởng, nhận thức và hành vi chưa đúng đắn của mình trong công tác, sinh hoạt cũng như cuộc sống hàng ngày, qua đó không ngừng hoàn thiện nhân cách người cán bộ quân đội. Những năm qua, các đơn vị đã tổ chức tốt việc tự phê bình và phê bình ở từng cấp, từng đơn vị. Đội ngũ sĩ quan trẻ đã tiến hành tự phê bình và phê bình một cách đúng đắn, nắm vững mục tiêu, phương châm và quy trình được xác định rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Luôn trung thực, mạnh dạn công khai tự phê bình. Khi được người khác phê bình biết vui vẻ tiếp thu với thái độ thực sự cầu thị. Khi phê bình người khác có thái độ chân thành, đúng mực, không lợi dụng phê bình để bới móc, nói xấu lẫn nhau, không phê bình lung tung, hồ đồ, vô trách nhiệm, gây mất đoàn kết nội bộ. Vì vậy, có thể nói tự phê bình và phê bình đã thực sự trở thành thứ "vũ khí" lợi hại, góp phần phòng ngừa và ngăn chặn hiệu quả sự tác động của suy thoái đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ hiện nay.

Ba là, thực hiện có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở các đơn vị.

Đây là kinh nghiệm quan trọng, trực tiếp ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực chất là quá trình từng bước hiện thực hoá tư tưởng, đạo đức cách mạng và nhân cách cao đẹp của Người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự nghiệp xây dựng quân đội, làm cho tư tưởng và những giá trị đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh ngày một thấm sâu trong nhận thức và hành vi của mỗi sĩ quan trẻ. Đồng thời, quá trình thực hiện đã gắn và kết hợp chặt chẽ với thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, bởi suy cho cùng, chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” là biểu hiện tập trung và sinh động nhất những phẩm chất đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh của người quân nhân cách mạng nói chung, sĩ quan trẻ nói riêng.

Bốn là, phát huy tốt vai trò tự tu dưỡng, rèn luyện của sĩ quan trẻ

Đây là kinh nghiệm quan trọng trong ngăn chặn sự tác động của suy thoái về đạo đức, lối sống đối với đội ngũ sĩ quan trẻ hiện nay. Thực tế cho thấy, trong cuộc sống thường ngày, mỗi sĩ quan trẻ phải giải quyết nhiều mối quan hệ xã hội, nhu cầu lợi ích của tập thể, cá nhân đan xen lẫn nhau, sự chi phối tác động của những tiêu cực và tệ nạn xã hội là rất lớn, nếu không có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện sẽ tạo tiền đề nảy sinh nguy cơ suy thoái về đạo đức, lối sống trong chính bản thân mình. Mặt khác, quá trình tự tu dưỡng, rèn luyện chính là quá trình sĩ quan trẻ tự bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực hoạt động thực tiễn một cách tích cực, chủ động và tự giác, qua đó tạo khả năng “đề kháng” trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài./.

 

 

 

BỆNH VIỆN DÃ CHIẾN VIỆT NAM LAN TOẢ YÊU THƯƠNG TẠI NAM SUDAN

             Nhân kỷ niệm 66 năm Ngày nhà giáo Việt Nam (20/11), Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 6 (BVDC 2.6) đã tổ chức hoạt động ý nghĩa tại Trường THCS Nữ sinh Bentiu, để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lòng thầy trò và người dân địa phương.

Chương trình hướng tới mục tiêu nâng cao ý thức cộng đồng, tập trung vào các nội dung thiết thực như giáo dục vệ sinh cá nhân, phòng ngừa bệnh truyền nhiễm lây qua muỗi đốt và thực phẩm không an toàn.

Các cán bộ, chiến sĩ BVDC 2.6 đã vượt qua rào cản ngôn ngữ, văn hóa để truyền tải thông điệp một cách hiệu quả, giúp các em học sinh và giáo viên hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của sức khỏe cộng đồng.

Ngoài các buổi giáo dục, chương trình còn tổ chức nhiều hoạt động giao lưu sôi nổi như tô màu, nhảy bao bố, kéo co.

Tiếng cười giòn tan, những phút giây thi đấu hăng say và những khoảnh khắc ăn mừng chiến thắng đã tạo nên một không gian gắn kết và vui tươi giữa các chiến sĩ Việt Nam và các em học sinh.

Hình ảnh những ly nước chanh mát lạnh trao tay các em sau giờ chơi, dưới cái nóng khắc nghiệt của mùa khô Bentiu càng làm sâu sắc thêm tình cảm giữa hai bên.

Không dừng lại ở đó, BVDC 2.6 còn mang đến những món quà ý nghĩa như bút, vở, bút màu… trao tận tay thầy cô và học sinh.

Những món quà nhỏ này chứa đựng tình cảm lớn lao, là sự động viên để thầy trò nơi đây vững bước trên hành trình học vấn, góp phần xây dựng tương lai tươi sáng hơn cho đất nước Nam Sudan.

Hoạt động này không chỉ là dịp thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị mà còn lan tỏa hình ảnh chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam - biểu tượng của tinh thần yêu chuộng hòa bình và lòng nhân ái, trong lòng người dân địa phương. Đây là minh chứng sống động cho vai trò của Việt Nam trong sứ mệnh gìn giữ hòa bình quốc tế./.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

             Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới (Nghị quyết số 35-NQ/TW) xác định các nội dung chủ yếu gồm: Đối tượng, phương thức chống phá của các thế lực thù địch; mục tiêu, quan điểm và một số nhiệm vụ, giải pháp…

Sau hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, chúng ta đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, củng cố niềm tin vào con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân ta lựa chọn. Trong những năm tới, bối cảnh tình hình thế giới và trong nước đặt ra những vấn đề mới. Nhận diện đầy đủ, sâu sắc vấn đề phức tạp nảy sinh, tích cực tiến hành các biện pháp phù hợp, nâng cao hiệu quả thực hiện Nghị quyết là công việc cấp thiết.

Nhận diện rõ những vấn đề phức tạp, nảy sinh

Các tổ chức, phần tử chống phá chuyên nghiệp "khoác áo" nhà nghiên cứu, trao đổi học thuật, lựa chọn các vấn đề dễ xuyên tạc, tạo “điểm mờ”, gây ngộ nhận. Chúng nhấn mạnh, không còn hệ thống xã hội chủ nghĩa, một số nước vẫn giữ danh xã hội chủ nghĩa, nhưng đã “đổi màu”; không có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Việt Nam đứng giữa “hai dòng xoáy”, theo nước này thì mất chủ quyền biển đảo, theo nước kia thì mất chế độ; quy định các điều đảng viên không được làm là đặt Đảng lên trên Hiến pháp; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “đấu đá phe phái”… Qua đó, các thế lực thù địch phủ định, làm lung lay niềm tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và công cuộc đổi mới...

Chúng phóng đại khuyết điểm, hạn chế (cái mà nước nào cũng có), quy thành bản chất chế độ, lỗi hệ thống. Tổ chức hội thảo khoa học, xuất bản ấn phẩm trong và ngoài nước, “nói lại”, “giải mã” sự kiện, nhân vật, nhằm xuyên tạc, bóp méo lịch sử. Khi ta công bố một số thông tin sự kiện mà điều kiện chiến tranh chưa thể nói đầy đủ, chúng bình luận “còn nhiều sự thật bị che dấu”! Một số kẻ suy thoái chính trị, “đổi màu”, bất mãn…, lợi dụng góp ý để lan truyền quan điểm sai trái… Thủ đoạn này ít nhiều gây hoang mang, dao động trong một bộ phận nhân dân, xã hội.

Tính đến đầu năm 2024, Việt Nam có 77 triệu người sử dụng in-tơ-nét (chiếm 79, 1% dân số); hơn 70 triệu người tham gia mạng xã hội (chiếm 71% dân số); 161,6 triệu người kết nối di động. Nhiều website xấu được sản xuất trên các máy chủ đặt ở nước ngoài, xuất hiện đều đặn, có “diện mạo” dễ gây nhầm lẫn với trang mạng được cấp phép. Tr.í t.uệ nh.ân t.ạo (AI) được sử dụng để cắt ghép, xuyên tạc hình ảnh, ý kiến của lãnh đạo, các nhân vật nổi tiếng (KOL). Đây là “mảnh đất màu mỡ”, thủ đoạn mà các thế lực chống phá tích cực khai thác để cài cắm, lan truyền rộng rãi, nhanh chóng các thông tin độc hại, quan điểm sai trái.

Các thế lực thù địch chống phá có tổ chức thường xuyên đeo bám trên các lĩnh vực, cả lý luận, tư tưởng và thực tiễn. Phạm vi chúng khai thác, chống phá rộng, từ các sự kiện quốc tế, Đại hội Đảng, lễ kỉ niệm, ngày truyền thống, đến các vụ án, hành vi vi phạm trật tự an toàn xã hội… Hình thức, phương pháp phát tán thông tin xấu, quan điểm sai trái rất “có nghề”, nhằm tăng sức lôi kéo. Mục đích của chúng là làm đầu óc ta lúc mờ lúc tỏ, hoang mang, dao động, suy giảm lòng tin, ý chí, quyết tâm; nội bộ chia rẽ, hành động thiếu thống nhất, cầm chừng…

Đối tượng chúng nhắm vào vừa rộng, vừa có trọng điểm. Truyền bá lối sống thực dụng, sính ngoại, khiến một bộ phận lớp trẻ chạy theo “thần tượng”, ít quan tâm đến chính trị, lịch sử, phai nhạt lí tưởng. Nhằm vào thế hệ tương lai để “không đánh mà thắng”. Lôi kéo một số cán bộ, đảng viên, người có ảnh hưởng lớn, cả đương chức, hưu trí “quay xe”, tác động tiêu cực bằng hàng trăm, hàng ngàn người bình thường. Chúng dùng nhiều cách để dụ người vào “bẫy”. Có cán bộ sa vào nợ nần, buộc phải cung cấp thông tin, tài liệu (mà họ nghĩ đầy trên báo, mạng xã hội), để đổi lấy tiền trả nợ. Nhưng đã nhận tiền, bị bí mật ghi âm, quay phim, chụp ảnh, “tay đã nhúng chàm”, thì việc phải tiếp tục hợp tác, trở thành công cụ của chúng không quá xa.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”. Có hội nghị phổ biến, học tập, thông tin về nghị quyết, chính sách, các vấn đề chính trị, xã hội, người nghe thường nhất trí, ít ý kiến trao đổi, phát biểu. Nhưng bên ngoài phòng họp thì khác, nguyên tắc nói và làm theo nghị quyết chưa được tuân thủ nghiêm túc, mọi lúc, mọi nơi. Các vụ việc nóng gần đây được bàn luận sôi nổi trong cuộc tụ tập, lúc “trà dư, tửu hậu”, rỉ tai, lan truyền thông tin do “trang mạng đen” mớm, khiến một số người nửa tin, nửa ngờ, thậm chí nói chẳng biết tin ai! Thông tin xấu độc ngấm từ từ, tích tụ, khi gặp hoàn cảnh bất lợi, sẽ phát tác, khiến họ “tự chuyển hóa”.

Những năm tới, thế giới tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp. Đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, tiến tới mốc 100 năm thành lập Đảng, 100 năm lập nước, với mục tiêu, yêu cầu cao hơn. Các thế lực thù địch chống phá quyết liệt với thủ đoạn, hành động biến hóa, tinh vi, nguy hiểm hơn. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cấp cao, có biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, đánh mất vai trò tiền phong, gương mẫu, ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tin của Nhân dân với Đảng. Bối cảnh đặt ra những vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn, có biện pháp mạnh mẽ, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Làm gì, làm thế nào để tăng cường bảo vệ, đấu tranh hiệu quả hơn

Trên cơ sở Nghị quyết số 35-NQ/TW, cần tăng cường và nâng cao hiệu quả thực hiện một số nhiệm vụ, biện pháp sau:

Một là, nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, mối quan hệ giữa “bảo vệ” và “đấu tranh”, “xây” và “chống”. Nghị quyết số 35-NQ/TW khẳng định: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân…”; giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, nhân tố quyết định sự tồn vong của chế độ, thắng lợi của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, thực hiện nội dung, giải pháp của Nghị quyết số 35-NQ/TW là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài. Không phải có “vấn đề lớn” nên phải tăng cường “bảo vệ”, “đấu tranh”, như thế lực thù địch xuyên tạc.

Là “nền tảng” thì phải luôn vững chắc. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước hết và cơ bản là xây cho vững, là công cuộc “phòng thủ chủ động”, cần tiến hành thường xuyên. Đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời phát triển, vận dụng sáng tạo, cụ thể hóa vào đường lối, chính sách và thực hiện thắng lợi trong thực tiễn. Mọi tổ chức đảng, đảng viên cần rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao trình độ lí luận, để đủ sức phòng ngừa, tự bảo vệ mình và tham gia bảo vệ chung. Một số tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên chưa thật sự trong sạch, vững mạnh, một vài khoảnh khắc buông lỏng, là vi rút độc hại có cơ hội xâm nhập, có thể “di căn” đến các bộ phận khác, làm suy giảm sức chiến đấu của Đảng, lòng tin của nhân dân với Đảng.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về “xây” và “chống”. “Bảo vệ”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài; “đấu tranh”, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, phải quyết liệt, hiệu quả. Hai nhiệm vụ gắn kết chặt chẽ, không thể tách rời. Nền tảng tư tưởng của Đảng càng vững chắc, thì sức mạnh đấu tranh càng lớn, tính hướng đích càng cao. Đấu tranh thể hiện tư tưởng chủ động tiến công, tính chiến đấu cao, nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hai là, tổ chức đồng bộ, toàn diện và có trọng điểm, vận dụng kết hợp các hình thức, phương pháp đấu tranh linh hoạt, phù hợp, tính thuyết phục và hiệu quả cao. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa cơ quan chuyên trách, kiêm nhiệm với lực lượng rộng rãi; chú trọng lựa chọn, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng tổ chức tinh, gọn, mạnh, phát huy vai trò nòng cốt, định hướng của cơ quan tuyên giáo, báo chí, nghiên cứu. Cần xây dựng, thực hiện tốt chương trình, kế hoạch phối hợp, hiệp đồng giữa các cơ quan, tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy, Ban Chỉ đạo 35 các cấp.

Nội dung đấu tranh phải bảo đảm tính khoa học, toàn diện trên các lĩnh vực; có chuyên đề sâu, tập trung trọng điểm vào những vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong nội dung chống phá chủ yếu của các thế lực thù địch. Vận dụng kết hợp các hình thức đấu tranh như, hội thảo, diễn đàn, bút chiến, truyền thông trên báo viết, báo hình, đài phát thanh, không gian mạng…, phù hợp với từng nội dung đấu tranh.

Phương pháp đấu tranh cần linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng, có sức thuyết phục và đạt hiệu quả cao. Đối tượng đấu tranh là các thế lực thù địch, bọn phản động lưu vong, “núp bóng” trong nước và những người hoang mang, dao động, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Quan điểm sai trái thuộc về bản chất chính trị của các thế lực thù địch, lan truyền nó là thủ đoạn chống phá có chủ đích. Đối với các phần tử chống đối chuyên nghiệp, có học thức, bọn phản động lưu vong, cần có công trình nghiên cứu chuyên sâu, bài viết, bài nói mang tính khoa học, tính chiến đấu cao, vạch trần bản chất, bác bỏ luận điệu xuyên tạc. Một số người bản lĩnh chính trị không vững vàng, thiếu thông tin chính xác, ngộ nhận, bị lôi kéo, kích động, dẫn đến nhận thức, quan điểm sai trái. Với những người này, cần phản biện làm rõ cái sai, kết hợp biện pháp hành chính, đấu tranh tự phê bình và phê bình, giáo dục, thuyết phục họ quay đầu vào bờ.

Nền tảng tư tưởng của Đảng cụ thể hóa trong đường lối, nghị quyết, được đưa vào cuộc sống, tổ chức, vận động toàn dân thực hiện. Do đó, đấu tranh không chỉ trên mặt trận lí luận, tư tưởng mà còn bằng hành động thực tiễn, nêu gương của cán bộ, đảng viên. Thành tựu xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là minh chứng sinh động, có tính thuyết phục cao về tính khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự đúng đắn của đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Đảng bảo vệ nhân dân, vì nhân dân, nhân dân sẽ bảo vệ Đảng theo cách của mình, giữ vững lòng tin, hưởng ứng và hăng hái thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Không phát huy được sức mạnh của đông đảo nhân dân sẽ hạn chế lớn hiệu quả thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW. Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp giữ được dân, củng cố niềm tin của nhân dân, là làm thất bại thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch. Cần chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; phát huy vai trò tập hợp quần chúng của các tổ chức chính trị, xã hội, củng cố vững chắc thế trận lòng dân.

Ba là, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, bảo đảm tính chính xác, khách quan, toàn diện và kịp thời. Thông tin chính thống, công khai, minh bạch đẩy lùi thông tin độc hại, định hướng dư luận xã hội. Tuyên truyền, phổ biến nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu đất nước, củng cố lòng tin, nâng cao trình độ của nhân dân, để không bị lôi kéo, kích động; tham gia giám sát các tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ Đảng, phát hiện, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, ứng dụng khoa học, công nghệ, để công tác thông tin, tuyên truyền phù hợp, phổ cập, hấp dẫn và hiệu quả hơn. Chú trọng thông tin tuyên truyền đối với vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, địa bàn phức tạp và trên không gian mạng. Khắc phục có hiệu quả tình trạng thông tin chưa kịp thời; văn hóa đọc sách báo có phần phai nhạt và hiện tượng một số báo nặng tính thương mại, đưa nhiều thông tin tiêu cực, câu khách, thu hút quảng cáo; ít chú ý lan tỏa gương tốt, việc tốt.

Ngoại giao tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ sớm, từ xa

Ngoại giao đại diện cho hình ảnh Việt Nam ở nước ngoài; có điều kiện quan hệ, tiếp xúc, giới thiệu để bạn bè quốc tế, các đối tác hiểu đầy đủ hơn về đường lối, thể chế chính trị, đường lối, chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta; thành tựu trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Trước hết, các tổ chức Đảng, cơ quan, đội ngũ cán bộ, đảng viên Ngành Ngoại giao phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong phạm vi của mình; ngăn chặn các phần tử phản động móc nối, xâm nhập, mua chuộc, truyền bá quan điểm sai trái vào nội bộ. Đồng thời, phát huy điều kiện, lợi thế, chủ động, tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch từ xa, từ bên ngoài biên giới. Ngoài các nội dung chung trong Nghị quyết số 35-NQ/TW, cần thực hiện một số nhiệm vụ, biện pháp sau:

Thường xuyên làm tốt công tác thông tin đối ngoại; trao đổi, nắm bắt tình hình có liên quan với các cơ quan, tổ chức, nhân dân nước sở tại và kiều bào ta. Tổ chức hội thảo, giao lưu với các cơ quan, hội hữu nghị, nhà khoa học, nhân vật có uy tín, ảnh hưởng lớn, có quan hệ tốt với Việt Nam và kiều bào ta ở nước ngoài, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ. Phối hợp tổ chức, tạo điều kiện cho các đoàn nước ngoài thăm Việt Nam, để hiểu rõ hơn về đất nước, con người Việt Nam.

Thu hút kiều bào hướng về quê hương, phát hiện các phần tử chống đối, các máy chủ, ấn phẩm xuất bản ở nước ngoài chuyên cung cấp thông tin sai trái, xuyên tạc. Tham mưu với Đảng, Nhà nước về đối sách, giải pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả. Trên cơ sở luật pháp quốc tế, luật pháp mỗi nước; thông qua quan hệ, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan, nhân dân nước sở tại và kiều bào ta, đấu tranh phản bác các hành vi lan truyền thông tin, quan điểm sai trái, thù địch với Việt Nam.