Thứ Tư, 4 tháng 12, 2024

 

TỰ HÀO TRUYỀN THỐNG ANH HÙNG 80 NĂM QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ANH HÙNG

                                               

 

          Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024) là dịp đặc biệt để chúng ta tự hào nhìn lại chặng đường vẻ vang của một quân đội từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu. Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là lực lượng bảo vệ Tổ quốc mà còn là biểu tượng của ý chí độc lập, tinh thần tự cường và sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc.

      Ngày 22/12/1944, dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao-Bắc-Lạng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

      Có lẽ, sự ra đời của Quân đội nhân dân Việt Nam là một sự độc đáo và đặc biệt trong lịch sử quân sự thế giới. Số lượng quá ít ỏi, vũ khí rất thô sơ, chỉ với 34 chiến sĩ, 2 khẩu súng ngắn, 17 khẩu súng trường nhưng nhiệm vụ lại rất lớn lao: Chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc. Không chỉ là đội quân chiến đấu mà còn là đội quân tuyên truyền cách mạng, kết hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị. Đúng như nhiệm vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trong Chỉ thị thành lập Đội: Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền, đồng thời là đội quân chủ lực đầu tiên, có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang của địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên. Như vậy, ngay từ buổi đầu, Đội không chỉ là công cụ chiến đấu mà còn là lực lượng tuyên truyền, gắn bó mật thiết với Nhân dân, góp phần giác ngộ, thức tỉnh tinh thần yêu nước, vận động quần chúng Nhân dân đứng lên đấu tranh giành độc lập. Sự khởi đầu kết hợp giữa tuyên truyền và đấu tranh quân sự đã đặt nền móng cho một lực lượng quân đội Nhân dân độc đáo, gắn liền với dân tộc, được Nhân dân yêu mến và ủng hộ, tạo nên một sức mạnh vô hình, lan tỏa khắp mọi miền đất nước, từ đó hình thành nên một lực lượng quân sự vừa kiên cường, vừa thấm nhuần lý tưởng cách mạng.

      Dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, đội quân nhỏ bé này đã nhanh chóng phát triển thành lực lượng quân đội chính quy, đóng vai trò trung tâm trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trở thành biểu tượng bất khuất của ý chí và lòng kiên cường của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do. Đúng như Bác từng khẳng định trong Chỉ thị: “Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh,... Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Bắc chí Nam, khắp đất nước Việt Nam”.

      Suốt 80 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trải qua các giai đoạn lịch sử cam go nhưng đầy hào hùng với nhiều chiến công bất hủ. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trải qua hàng nghìn trận đánh lớn nhỏ, từng bước phát triển cả về chiến lược, chiến thuật. Chiến thắng Việt Bắc Thu Đông (1947), Biên giới Thu Đông (1950) đã phá tan các cuộc càn quét, mở ra giai đoạn phản công chiến lược. Đặc biệt, chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) đã làm chấn động địa cầu, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quân đội tiếp tục đóng vai trò nòng cốt, từ những trận đánh nhỏ tại miền Nam đến các chiến dịch quy mô lớn như Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975). Chiến thắng ngày 30/4/1975 không chỉ là thắng lợi của quân và dân Việt Nam mà còn là nguồn cổ vũ to lớn cho phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Sau chiến tranh, bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội tiếp tục khẳng định vai trò trong việc bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo. Các chiến dịch bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc trong những năm 1978, 1979 cho thấy bản lĩnh và sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam trong mọi hoàn cảnh. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, Quân đội đã không chỉ làm tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà còn tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước: cứu hộ, cứu nạn, phát triển kinh tế - xã hội, giúp đỡ Nhân dân vùng sâu, vùng xa.

      Ngày nay, Quân đội không ngừng hiện đại hóa, trở thành lực lượng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức đối phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Những thành tựu to lớn trong lĩnh vực quốc phòng như phát triển công nghiệp quốc phòng, tăng cường hợp tác quốc tế, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

      Nếu ví Quân đội nhân dân Việt Nam là thanh gươm thép, thì Nhân dân chính là bệ đỡ và nguồn sức mạnh vô tận, là chất xúc tác để thanh gươm luôn sắc bén. Ngay từ ngày đầu thành lập, Quân đội nhân dân Việt Nam đã mang trong mình bản chất cách mạng, là đội quân trung thành với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với Nhân dân. Chính mối quan hệ "quân với dân như cá với nước" đã tạo nên sức mạnh to lớn, đưa quân đội vượt qua mọi thử thách và khó khăn trong suốt hành trình lịch sử.

      Trong kháng chiến chống Pháp, Nhân dân cả nước chính là hậu phương vững chắc. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn được Nhân dân nuôi dưỡng, bảo vệ và tiếp sức. Những hình ảnh người mẹ gói từng nắm cơm, người cha gác lại công việc đồng áng để làm giao liên, những thanh niên xếp bút nghiên lên đường chiến đấu, người dân bản làng dẫn đường cho bộ đội trong rừng, hay những phong trào “hũ gạo nuôi quân”, “mỗi làng một trận địa” đã khắc sâu trong lịch sử, là minh chứng cho tình quân-dân sâu đậm. Trong kháng chiến chống Mỹ, mối quan hệ này càng được khẳng định. Những làng quê miền Bắc tăng gia sản xuất, nhường cơm sẻ áo cho bộ đội; những đoàn dân công hỏa tuyến vận chuyển lương thực, vũ khí ra chiến trường; hay những căn hầm bí mật che chở cho các chiến sĩ miền Nam đều chứng minh rằng Nhân dân là chỗ dựa không thể thay thế của quân đội. Sự hòa quyện, gắn bó, đoàn kết này đã trở thành sức mạnh to lớn và vững chắc, không chỉ là chỗ dựa vật chất mà còn là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn giúp quân đội vượt qua những thời điểm khó khăn nhất.
      Trong thời bình, tinh thần “vì Nhân dân quên mình” tiếp tục là kim chỉ nam hành động của các chiến sĩ. Trước thiên tai, dịch bệnh, hình ảnh người lính sẵn sàng lao vào tâm bão, vùng lũ để cứu dân hay đứng tuyến đầu trong phòng, chống đại dịch COVID-19 đã để lại ấn tượng sâu sắc. Những chiến sĩ bộ đội biên phòng ngày đêm tuần tra nơi biên giới, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, đồng thời hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, thực sự là biểu tượng sống động của mối quan hệ gắn bó giữa quân và dân. Tại các vùng sâu, vùng xa, bộ đội còn trở thành những "thầy giáo quân hàm xanh", những bác sĩ quân y chữa bệnh cho đồng bào, góp phần nâng cao đời sống và tri thức của Nhân dân.

      Không dừng lại ở đó, Quân đội còn đóng vai trò tiên phong, góp sức, đồng hành với Nhân dân trong nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, như xây dựng đường sá, trường học, trạm y tế ở vùng sâu, vùng xa; bảo vệ và gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số. Đây chính là minh chứng rõ nét cho bản chất cách mạng, vì dân phục vụ của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

       Trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh chóng, những thách thức về an ninh truyền thống và phi truyền thống đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam. Các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, các vấn đề an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia đòi hỏi quân đội không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

      Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đang hướng tới mục tiêu xây dựng lực lượng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó tập trung nâng cao khả năng tác chiến trên không, trên biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, biên giới quốc gia. Hải quân, Không quân, Cảnh sát biển và Bộ đội Biên phòng đã được đầu tư, trang bị các loại vũ khí hiện đại, sẵn sàng đáp ứng mọi tình huống. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của quân đội hiện nay là xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh Nhân dân. Đây chính là sự kết hợp giữa truyền thống lịch sử và yêu cầu thực tiễn, bảo đảm đất nước luôn trong trạng thái sẵn sàng bảo vệ chủ quyền, độc lập.
      Bên cạnh đó, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, tham gia tích cực vào các hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế của Liên Hợp Quốc. Sự hiện diện của các sĩ quan quân đội Việt Nam tại các phái bộ ở Nam Sudan hay Cộng hòa Trung Phi đã khẳng định vai trò trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình thế giới, đồng thời nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.

      Trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam  đã lập nên những chiến công hiển hách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, viết nên những trang sử hào hùng bằng chính ý chí kiên cường và sự hy sinh cao cả. Từ những chiến công lừng lẫy trong kháng chiến đến những đóng góp bền bỉ trong thời bình, Quân đội luôn là niềm tự hào, là chỗ dựa vững chắc của Nhân dân. Chào mừng kỷ niệm 80 năm thành lập, chúng ta càng thêm tự hào, tin tưởng rằng Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục tinh thần "Trung với Đảng, hiếu với dân", phát huy truyền thống vẻ vang, không chỉ thực hiện tốt sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc mà còn là lực lượng dẫn dắt, đồng hành cùng đất nước trên con đường phát triển và hội nhập; đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.

      Theo ThS. Đặng Thu Hiếu - Trường Chính trị

 

 

Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” mãi mãi sáng đẹp cùng năm tháng

                                     

          Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu trực tiếp lãnh đạo và giáo dục và rèn luyện, được nhân dân tin yêu, đùm bọc và nuôi dưỡng, đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, lập nên những chiến công hiển hách trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do của Tổ quốc, mang lại hạnh phúc cho nhân dân, được toàn Đảng, toàn dân ta quý trọng, gọi bằng cái tên trìu mến “Bộ đội Cụ Hồ”.

          Sinh thời, Bác Hồ kính yêu - Vị cha già của các lực lượng vũ trang nhân dân vẫn khen ngợi “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Tự hào với lời ngợi khen ấy, trong suốt cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ mà anh dũng của dân tộc, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ dưới sự dẫn dắt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người anh cả của Quân đội ta đã một lòng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” chỉ có quân đội cách mạng hết lòng vì nước, vì dân mới được nhân dân tin yêu, quý trọng.

          Hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trước hết là ở lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với nhân dân, mang trong mình dòng máu truyền thống chống ngoại xâm kiên cường, bất khuất của các thế hệ cha ông như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung... mà “thắng không kiêu, bại không nản, giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục”, giương cao ngọn cờ “quyết chiến quyết thắng” và thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Với “56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” quân đội ta đã làm nên “chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu” kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ và gian khổ, tạo đà cho cuộc đụng đầu lịch sử, chiến đấu một mất một còn với một đội quân hùng mạnh, sừng sỏ nhất thế giới đó là đế quốc Mỹ. Bằng tài thao lược của Đảng và sự quả cảm phi thường của mình, quân đội ta góp công to lớn vào “Đại thắng mùa xuân năm 1975”, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giang sơn thu về một mối, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.

          Hơn 7 thập kỷ xây dựng và trưởng thành, lịch sử quân đội ta là lịch sử chiến đấu không ngừng, không nghỉ trong những thử thách vô cùng gian khổ, ác liệt. Sự kiên định lý tưởng, nắm vững mục tiêu chiến đấu và niềm tin sâu sắc vào thắng lợi của cách mạng đã cổ vũ quân đội ta luôn luôn nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, động viên mọi thế hệ cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng cách mạng cao cả. Hình ảnh người lính đồng nghĩa với sự thử thách ác liệt với hy sinh, gian khổ, thiếu thốn mà ở đâu và lúc nào, thời chiến cũng như thời bình, người lính luôn đứng ở hàng đầu những mũi nhọn ác liệt nhất của cuộc sống. Lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, niềm tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng là cội nguồn ý chí và tinh thần sẵn sàng hy sinh, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của “Bộ đội Cụ Hồ” để đất nước nở hoa độc lập, kết trái tự do.

          Những năm gần đây, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Hơn lúc nào hết, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam thể hiện rõ phẩm chất chính trị của mình là trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, sẵn sàng chiến đấu vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Chấp hành nghiêm và cụ thể hóa đường lối quân sự của Đảng, xứng đáng là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hình ảnh cao đẹp của anh “Bộ đội Cụ Hồ” được tô thắm thêm bởi một truyền thống tốt đẹp nữa của quân đội ta, đó là tình đoàn kết quân dân, “Quân với dân như cá với nước”, là sự gắn bó, chan hòa máu thịt như những người con trong một gia đình. Quân dựa vào dân và dân cũng dựa vào quân trong mối quan hệ quân dân một ý chí. Bác Hồ từng dạy: “Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu… nên phải biết kính trọng dân, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu; khi mình chưa đến thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc”!

          Suốt 77 năm qua, từ lúc mới ra đời với 34 chiến sĩ của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân cho đến sự trưởng thành, lớn mạnh như ngày hôm nay, mọi thế hệ cán bộ, chiến sĩ thực hiện tốt mối quan hệ “quân dân một ý chí”. Càng bất khuất trước kẻ thù bao nhiêu, “Bộ đội Cụ Hồ” càng gần gũi, quý trọng, thương yêu, hết lòng, hết dạ tận tụy phục vụ, giúp đỡ nhân dân bấy nhiêu. Mỗi tên đất, tên làng của đất nước hình chữ S này đều thấm đượm máu đào của các anh. Bên cạnh những liệt sĩ đã ngã xuống ở chiến trường cũng có không ít các liệt sĩ lấy thân mình che bom đạn cho dân, cứu dân trong hoạn nạn, khó khăn, trong bão giông, lũ lụt... mãi mãi tô thắm thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

          Hầu như tất cả người dân Việt Nam dù người đó là dân tộc nào, sinh sống ở vùng đồng bằng hay miền núi, biên giới hay hải đảo khi nói về những việc làm đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” bao giờ cũng tự hào kể về những năm tháng mình được sống, chiến đấu, gắn bó với quân đội, với người lính. Điều đó chứng tỏ hình ảnh anh “Bộ đội Cụ Hồ” mãi mãi khắc ghi trong trái tim của nhân dân. Phải chăng chính hình ảnh của các anh là luồng gió mới thổi vào cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa trong toàn xã hội hiện nay, làm cho hình ảnh người lính Cụ Hồ càng lung linh, tỏa sáng không những được nhân dân ta mà cả bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã, đang và tiếp tục quan tâm, làm tất cả những gì có thể để nâng cao hơn nữa danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới, coi “Bộ đội Cụ Hồ” là chuẩn mực đạo đức, nhân cách người quân nhân cách mạng, là tấm gương sáng cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trẻ và thanh thiếu niên cả nước hôm nay và mai sau học tập, noi theo.

          Trong bối cảnh hiện nay, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” làm cho “tấm gương sáng” ấy tiếp tục tỏa sáng luôn là niềm tin yêu, vinh dự, tự hào của nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và nhân dân, của cả hệ thống chính trị. Đó cũng là yếu tố quan trọng để xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo động lực mới để toàn quân phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó.

                                                          Theo tác giả Chu Sĩ Liên

 

"Bộ đội Cụ Hồ" - Nét đẹp văn hóa thời đại Hồ Chí Minh

                                     

          Trong kho tàng tri thức, văn hoá dân tộc Việt Nam, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” là một nét son độc đáo, trở thành di sản văn hoá đặc sắc, hàm chứa giá trị nhân văn, nhân đạo cao cả của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.


          Gắn liền với hình ảnh cao đẹp của vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - Hồ Chí Minh, là những danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, “Bộ đội ông Cụ”, “Bộ đội ông Ké”được nhân dân suy tôn, kính trọng, khen tặng; bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, tin yêu.

          Danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện sâu sắc bản chất cách mạng của quân đội kiểu mới - quân đội do Đảng của giai cấp công nhân tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo; sự cưu mang, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân; đồng thời, là giá trị độc đáo của văn hóa giữ nước gắn với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà thời đại Hồ Chí Minh đúc kết, tạo dựng, xây đắp nên, được các thế hệ người Việt Nam tin tưởng, gìn giữ và phát huy, bạn bè trên thế giới ca ngợi, khâm phục.

          Qua thực tiễn cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành biểu trưng đặc sắc của nét đẹp văn hoá quân sự Việt Nam, luôn toả ánh sáng hào quang từ chính những phẩm chất, nhân cách tốt đẹp của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta - quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; là sự thể hiện ở tầm cao và chiều sâu của bản sắc văn hoá Việt Nam, tâm hồn, cốt cách, nhân cách con người Việt Nam qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh để dựng nước và giữ nước, của sự hun đúc, kết tinh, hoà quyện các giá trị văn hoá nhân văn, nhân đạo của dân tộc Việt Nam và bản chất khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam; giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại, trở thành giá trị tiêu biểu của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh và trở thành biểu trưng độc đáo của văn hoá quân sự của quân đội cách mạng - Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

          Theo Cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp: hình ảnh và tên gọi "Bộ đội Cụ Hồ" là một trong những nét độc đáo nhất, đặc sắc nhất của văn hóa quân sự Việt Nam, là sự kết tinh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần văn hoá Việt Nam với tinh hoa văn hoá, trí tuệ nhân loại; thật hiếm có nước nào trên thế giới nhân dân lấy tên vị lãnh tụ kính yêu của mình để đặt tên cho quân đội của nhân dân mà họ sáng lập nên. Điều đó không chỉ thể hiện “mối quan hệ máu thịt”, tình quân dân như “cá với nước” của cán bộ, chiến sĩ quân đội với nhân dân ta, viết nên thiên anh hùng ca bất hủ của quân đội “bách chiến bách thắng”,“đi dân nhớ, ở dân thương” là "Bộ đội Cụ Hồ".

          Nét đẹp văn hoá quân sự của cán bộ, chiến sĩ quân đội ta thể hiện ở sự kính trọng lãnh tụ, sự yêu thương, quý mến bộ đội và quan hệ “không gì có thể phá vỡ” giữa quân với dân; sự gắn bó mật thiết giữa các phẩm chất nhân cách người quân nhân cách mạng vì nước quên thân, vì dân phục vụ; là tình sâu nghĩa nặng, ấm áp ân tình của nhân dân dành cho cán bộ, chiến sĩ quân đội và lãnh tụ kính yêu của mình; phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội ta, một quân đội mà trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào đều tận trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

          Sự biểu đạt ngắn gọn, sâu sắc và thiêng liêng nhất về bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân là ở tầm khái quát: danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” - bộ đội của dân, do dân và vì dân. Tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” là kết quả sáng tạo, quyền sở hữu thiêng liêng, bất khả xâm phạm của nhân dân và quân đội ta, chỉ ở Việt Nam mới có, song lại thể hiện sâu sắc bản chất của quân đội kiểu mới, là sự thống nhất sâu sắc giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc trong quân đội cách mạng. Có thể khẳng định rằng, “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh những gì là tinh tuý nhất, trở thành giá trị văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, bản chất, truyền thống quân đội cách mạng; vừa thể hiện tư tưởng, phong cách, đạo đức lãnh tụ Hồ Chí Minh; vừa thể hiện tình cảm sâu sắc và sự tin tưởng của nhân dân ta đối với toàn thể cán bộ, chiến sĩ quân đội. Giá trị văn hoá quân sự của “Bộ đội Cụ Hồ” đã và đang thể hiện sâu sắc ở tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, luôn xung kích đi đầu, đứng vững ở nơi “đầu sóng ngọn gió”: vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi khó khăn, gian khổ và chiến tranh ác liệt nhất; sẵn sàng chiến đấu, hi sinh tuổi xuân và tính mạng của mình để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ biển đảo quê hương, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ nhân dân; tuyệt đối trung thành với Đảng, trọn hiếu với nhân dân; luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, giao phó.

          Phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” là hệ thống giá trị văn hoá - chính trị - đạo đức tốt đẹp, bền vững, phản ánh bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh, trở thành danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Danh hiệu ấy ra đời từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, được củng cố, phát triển qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; được gìn giữ, phát huy và hoàn thiện trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, phẩm chất nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” là cách biểu đạt rất sinh động của nhân dân về những giá trị văn hoá quân sự tốt đẹp, bền vững, phản ánh bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội ta; đồng thời chính bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc là điều kiện quy định những giá trị phẩm chất nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”.

          Sự hội tụ của tâm tư và nguyện vọng, tình cảm và ý chí của nhân dân; sự kết tinh những giá trị văn hoá đặc sắc, tốt đẹp nhất của dân tộc, của giai cấp trong quân đội ta, làm cho cán bộ, chiến sĩ quân đội ta trở thành biểu tượng tập trung nhất những giá trị tinh hoa tốt đẹp của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Do đó, quân đội ta đã vượt ra ngoài quan niệm thông thường là một công cụ bạo lực sắc bén của một giai cấp, nhà nước bất kỳ, mà là đứa con ruột thịt của nhân dân, do nhân dân sinh ra, nuôi dưỡng và suốt đời vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ.

          Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng chính là lịch sử hình thành, bổ sung và phát triển phẩm chất nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; qua đó, làm phong phú thêm những giá trị văn hoá cao đẹp của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

          Vì vậy, giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ là hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng, mà còn là hoạt động văn hoá - đạo đức, mang ý nghĩa nhân văn và xã hội sâu sắc, là biện pháp đạt tới những giá trị chân - thiện - mỹ của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Danh hiệu cao quý "Bộ đội Cụ Hồ" là tài sản văn hoá tinh thần vô giá do nhân dân yêu mến, trao tặng, gửi gắm niềm tin yêu, sự ngưỡng mộ dành riêng cho cán bộ, chiến sĩ quân đội ta; được bạn bè quốc tế và nhân dân luôn đánh giá cao; ghi nhận những cống hiến xuất sắc và tinh thần tận tuỵ, đức tính hy sinh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta đối với sự nghiệp đấu tranh cách mạng, bảo vệ hoà bình, vì hạnh phúc của nhân dân. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quan tâm, chăm lo, đã và đang làm tất cả những việc gì có thể làm để cùng toàn quân nâng cao danh hiệu "Bộ đội Cụ Hồ" trong tình hình mới; coi "Bộ đội Cụ Hồ" là chuẩn mực đạo đức nhân cách người quân nhân cách mạng, là “tấm gương sáng” cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trẻ và thanh niên cả nước hôm nay và mai sau học tập, noi theo. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ", làm cho “tấm gương sáng” ấy tiếp tục toả sáng, luôn là niềm tin yêu, kiêu hãnh, niềm vinh dự, tự hào; sự ngưỡng mộ của nhân dân và bạn bè quốc tế, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và nhân dân, của cả hệ thống chính trị ở nước ta; trước hết là danh dự, trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

          Đó cũng là yếu tố quan trọng để xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, nâng cao nhân tố chính trị - tinh thần; tạo động lực mới, động viên, cổ vũ thôi thúc cán bộ, chiến sĩ quân đội ta phấn đấu vươn lên hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng, đó cũng là điều kiện, tiền đề cần thiết để quân đội ta sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó.

Theo Trang thông tin điện tử Hồ Chí Minh

 


Trong xã hội chủ nghĩa quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ của mọi công dân gắn bó chặt chẽ với nhau

 


Mọi công dân có đều bình đẳng trước pháp luật. Họ có quyền bình đẳng trong hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, đồng thời họ cũng phải bình đẳng trong sự đóng góp sức mình vào việc tạo ra các giá trị đó; có quyền được hưởng cuộc sống hoà bình, an toàn thì họ cũng phải có trách nhiệm làm tròn nghĩa vụ công dân ở vị trí xã hội mà họ đảm nhiệm, có nghĩa vụ trong việc tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân. Họ có quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đảm bảo cho sự quản lý đó thực hiện một cách có hiệu quả. Hiến pháp, pháp luật, cơ chế, quy chế trong nền dân chủ bảo đảm cho mọi công dân ngày càng thuận lợi hơn trong thực hiện các quyền dân chủ và ngăn ngừa lạm dụng, hoặc xâm phạm quyền dân chủ của công dân.

Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền lực xã hội thực sự thuộc về đại đa số nhân dân lao động


Ở các chế độ dân chủ khác, chủ thể quyền lực là thiểu số hoặc chỉ của riêng giai cấp bóc lột. Trong chủ nghĩa xã hội, toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là người làm chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Các quyền dân chủ, làm chủ đó được thể chế hóa bằng pháp luật và các quy chế dân chủ, được pháp luật bảo vệ và hiện thực hóa từng bước thông qua hoạt động thực thi dân chủ của chính nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Tuy nhiên, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là nền dân chủ phi giai cấp, siêu giai cấp, dân chủ cho tất cả mọi người. Đây là nền dân chủ của đa số, vì lợi ích của đa số nhân dân, nhưng thực hiện chuyên chính với những phần tử chống đối, phá hoại dân chủ, pháp luật, kỷ luật, kỷ cương xã hội. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa không cho phép sự lộng hành của những hành vi vô chính phủ, dân chủ cực đoan, coi thường quyền lực nhân dân và kỷ cương, pháp luật xã hội chủ nghĩa; đồng thời kiên quyết ngăn ngừa, loại trừ mọi biểu hiện độc đoán, chuyên quyền, quan liêu chà đạp lên các quyền dân chủ của nhân dân. 

Bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện sâu sắc trên các lĩnh vực:

Trên lĩnh vực chính trị: quyền lực của nhân dân thể hiện qua các quyền dân chủ, làm chủ, quyền con người được thoả mãn ngày càng cao hơn.

Trên lĩnh vực kinh tế, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học - công nghệ hiện đại nhằm thoả mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động. Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất càng hoàn thiện bao nhiêu thì càng làm cho nền tảng của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa vững chắc bấy nhiêu. Việc xoá bỏ về cơ bản mâu thuẫn đối kháng trong kinh tế quy định sự thống nhất về chính trị, tinh thần của các lực lượng trong xã hội - xã hội chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin làm nền tảng, chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới (như văn học nghệ thuật, giáo dục, đạo đức, lối sống, văn hoá, xã hội, tôn giáo...). Đồng thời, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống các dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn hoá, văn minh, tiến bộ xã hội... mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc. Do đó, đời sống tư tưởng - văn hoá của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa rất phong phú, đa dạng, toàn diện và ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu, thành mục tiêu và động lực cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Sự ra đời và phát triển của chế độ dân chủ

 


Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc”1, phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực nhà nước và tổ chức quyền lực đó thành nhà nước dân chủ vô sản. Theo hai ông, giai cấp công nhân giành được chính quyền là dấu mốc làm xuất hiện một chế độ dân chủ mới, khác về chất so với các chế độ dân chủ trước đó - dân chủ vô sản. Công xã Pari năm 1871 là mầm mống đầu tiên của dân chủ xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin viết:  “Công xã dường như đã thay bộ máy nhà nước bị đập tan, bằng một chế độ dân chủ “chỉ” hoàn bị hơn mà thôi: quân đội thường trực bị bãi bỏ, tất cả mọi viên chức, không trừ một ai, đều do tuyển cử bầu ra và có thể bị bãi miễn… từ chỗ là dân chủ tư sản đã biến thành dân chủ vô sản, từ chỗ nhà nước (= lực lượng đặc biệt để trấn áp một giai cấp nhất định) nó biến thành một cái gì thực ra không phải là nhà nước hiểu theo nghĩa thực sự nữa”2.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga vĩ đại với sự xuất hiện nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - Nhà nước Xô viết, xây dựng chế độ dân chủ phục vụ lợi ích cho đa số người lao động - chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt đầu ra đời. Như vậy, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ được xác lập sau khi giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của mình là đảng cộng sản lãnh đạo giành được chính quyền, tiến hành cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (Cách mạng tháng Mười Nga), hoặc thông qua cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (Việt Nam, Trung Quốc…).

Quá trình phát triển của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; có sự kế thừa một cách chọn lọc giá trị của các chế độ dân chủ trước đó, trước hết là dân chủ tư sản. Nguyên tắc cơ bản của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là chế độ dân chủ của thiểu số và cho thiểu số bóc lột, có đặc quyền đặc lợi và muốn dành thêm đặc quyền, đặc lợi; ngược lại, nó là chế độ dân chủ của đa số và vì đa số. Do đó, về nguyên tắc, nó bài trừ đặc quyền, đặc lợi và vì lợi ích của đa số, nó gạt bỏ những kẻ đặc quyền, đặc lợi ra khỏi vị trí quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa phát triển từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Nhưng càng hoàn thiện bao nhiêu, nó càng tự tiêu vong bấy nhiêu. Thực chất của sự tiêu vong dân chủ theo V.I.Lênin, đó là không ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ thể quyền lực của nhân dân, tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Quá trình đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt xã hội... để đến một lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ, tức là mất đi tính chính trị của nó.

Như vậy, quá trình tiêu vong của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với qúa trình làm sâu, rộng hơn các thành quả dân chủ, đưa nó lên trình độ phát triển mới, tiến dần tới dân chủ trọn vẹn, dân chủ hoàn toàn, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại từ “vương quốc tất yếu” sang “vương quốc tự do”. Tuy nhiên, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ hoàn toàn tiêu vong khi xã hội đã đạt trình độ phát triển rất cao, xã hội không còn sự phân chia giai cấp, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện, khi đó dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là một chế độ nhà nước cũng tiêu vong, không còn nữa. Còn ngay bây giờ, như Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh, nếu muốn xóa bỏ tính chính trị của chế độ dân chủ, xóa bỏ ngay nhà nước thì không tránh khỏi rơi vào quan điểm của chủ nghĩa vô chính phủ, bởi những người vô chính phủ chính là những người “đòi xóa bỏ nhà nước trong vòng 24 giờ đồng hồ”.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 623 - 624.

2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 52.

Quan niệm chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Dân chủ có nghĩa là quyền lực xã hội thuộc về nhân dân, dân là chủ, dân làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Dân chủ là một quan hệ xã hội thể hiện sự bình đẳng về quyền lực giữa các công dân và cộng đồng trong một chế độ xã hội. Dân chủ phản ánh khát vọng, nhu cầu bình đẳng về quyền lực của con người trong đời sống xã hội. Dân chủ bị chi phối bời trình độ phát triển kinh tế, cơ cấu xã hội, trình độ dân trí, văn hóa và các nhân tố khác.

Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái chính trị của nhà nước, mà ở đó chính thức thừa nhận quyền bình đẳng giữa các công dân, thừa nhận mọi người có quyền ngang nhau trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý nhà nước, đồng thời chế độ dân chủ cũng là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống bắt buộc đối với mọi người để bảo đảm dân chủ chung cho toàn xã hội. Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen, C.Mác chỉ rõ: “Chế độ dân chủ là chế độ nhà nước… chế độ dân chủ là sự tự quy định của nhân dân… chế độ dân chủ ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân”[1]. Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng: “Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của nhà nước. Cho nên, cũng như mọi nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta. Một mặt thì như thế. Nhưng mặt khác, chế độ dân chủ có nghĩa là chính thức thừa nhận quyền bình đẳng giữa những công dân, thừa nhận cho mọi người được quyền ngang nhau trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý nhà nước”[2].

Từ những tư tưởng đó của các nhà kinh điển, có thể thấy: Không phải nhà nước nào cũng là chế độ dân chủ; chế độ dân chủ chỉ là một trong những hình thức nhà nước, mà trong đó từ cơ cấu tổ chức, bộ máy, hoạt động của nó dựa trên nguyên tắc quyền lực của nhân dân; sự ra đời, phát triển của một chế độ dân chủ gắn liền với sự ra đời, phát triển của nhà nước nhất định. Cơ sở kinh tế của chế độ dân chủ thể hiện trực tiếp ở chế độ sở hữu các tư liệu sản xuất của xã hội. Cơ sở xã hội của một chế độ dân chủ không chỉ là giai cấp cầm quyền mà còn là các giai cấp và tầng lớp khác cấu thành dân tộc, các cộng đồng dân cư trong xã hội. Do vậy, tính dân tộc và tính xã hội là đặc tính khách quan của bất cứ một chế độ dân chủ nào. Dân chủ chịu sự qui định của tính chất, trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, dân trí, đặc điểm dân tộc...

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa - hình thức chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bao gồm toàn bộ những thể chế, thiết chế, cơ chế, quy chế được thể chế hóa thành luật pháp, thể hiện và bảo đảm các quyền dân chủ, quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm quyền lực xã hội thuộc về nhân dân, phát huy tính chủ động, sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là thành quả đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và toàn thể những người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chống ách áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa tư bản. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ khác biệt về bản chất và nguyên tắc so với chế độ dân chủ tư sản - đó là chế độ dân chủ của đông đảo nhân dân trong xã hội, quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân tự tổ chức và thực hiện, trước hết và chủ yếu là thông qua nhà nước của mình. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở kinh tế, chính trị, tư tưởng và văn hóa nhất định. Về kinh tế là chế độ công hữu thay thế cho chế độ tư hữu; về chính trị là khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng khối liên minh giữa giai cấp công với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước; về tư tưởng và văn hóa là hệ tư tưởng Mác - Lênin cũng như các quan hệ xã hội thấm sâu giá trị văn hoá dân chủ nhân văn, nhân đạo.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 349.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 123.

Cảnh giác trước luận điệu phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 

Phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, nó cho rằng khoa học công nghệ hiện đại càng phải triển thì lợi nhuận, đời sống xã hội sẽ được nâng cao hơn, tuy còn sự bần cùng hóa công nhân, nhưng mâu thuẫn đối kháng trong xã hội sẽ ít gay gắt hơn, nhờ sự điều chỉnh lợi ích của tư sản và chính sách phúc lợi của xã hội, vì vậy sẽ không cần phải tiến hành cách mạng xã hội và không có sứ mệnh lịch sử như Mác xác định cho giai cấp công nhân. Trong nền công nghiệp hiện đại, thời đại cách mạng khoa học và công nghệ tiên tiến thi giai cấp công nhân cùng lắm cũng chỉ là lực lượng đông đảo góp phần xây dựng xã hội tiến bộ, chứ không thể đủ trình độ lãnh đạo xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ như các nhà trí thức, các nhà tư sản. Sứ mệnh “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” của giai cấp công nhân bị nghi ngờ tại đất nước mình với đủ các điều kiện để trở thành người làm chủ nhưng họ lại thích được bị bóc lột hơn là trở thành người làm chủ; ở các nước tư bản phát triển, công nhân có chất lượng rất cao, ấy vậy mà đến nay cũng không thực hiện được và không muốn thực hiện “sứ mệnh lịch sử thế giới” của mình. Sự phát triển èo ọt của công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, công nhân không đủ điều kiện phát triển đầy đủ các tính chất cách mạng của mình; Đảng Cộng sản Việt Nam cũng rất ít tính chất công nhân, nên tất yếu công nhân và chính đảng của nó không thể thực hiện được sứ mệnh như đã vạch ra.

Cảnh giác trước luận điệu phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

 

Nó công kích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng dẫu quá khứ có một số việc Đảng làm được, nhưng nay sang thời kỳ Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước. Nó bác bỏ Cương lĩnh, đường lối, quan điểm và các nguyên tắc cơ bản về chính trị, tư tưởng và tổ chức hoạt động của Đảng; phê phán Đảng là độc tài, độc đoán, thủ tiêu dân chủ và động lực phát triển đất nước; đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đang nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nó mô tả Đảng ta là một bộ máy tham nhũng, lợi ích nhóm, nguyên nhân của xã hội mất dân chủ, tự do; tung tin bịa đặt trong Đảng có phe này, phái nọ; bịa đặt, nói xấu lãnh đạo cấp cao, vu cáo cán bộ của Đảng và Nhà nước.