Thứ Hai, 12 tháng 5, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÀNH KỶ NIỆM 80 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2-9!

     Chiều 12-5, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tổ chức hội nghị làm việc với các cơ quan, đơn vị về Đề án tổ chức lực lượng Quân đội, dân quân tự vệ tham gia diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam chủ trì hội nghị.

Thực hiện nhiệm vụ tổ chức lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo Cục Quân huấn - Nhà trường dự thảo Chỉ thị tổ chức và huấn luyện lực lượng Quân đội, dân quân tự vệ tham gia diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (A80) trên cơ sở giữ nguyên các lực lượng, các khối đã tham gia diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; xây dựng các khối A80 gồm 11 khối đứng, 27 khối đi.

Cục Quân huấn - Nhà trường đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức khảo sát, xác định các địa điểm ăn, ở cho các lực lượng theo hướng thuận tiện trong huấn luyện tập trung, hợp luyện cụm.

Các đơn vị được giao nhiệm vụ bổ sung quân số tham gia diễu binh A80 đã chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức kiểm tra, lựa chọn các đồng chí cán bộ, chiến sĩ có đủ tiêu chuẩn quy định, tổ chức luyện tập sẵn sàng bổ sung cho các khối.

Tại hội nghị, các đại biểu thảo luận, thống nhất về các nội dung: Tổ chức lực lượng diễu binh, diễu hành, trang phục, trang bị, các khối; địa điểm tập kết, tuyến đường diễu binh, diễu hành; bố trí vị trí huấn luyện của các khối tại các cụm; các phương án diễu binh, diễu hành…

Kết luận hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa yêu cầu các cơ quan, đơn vị tập trung nêu cao trách nhiệm, triển khai tốt từng nội dung công việc theo phân công.

Trong đó, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật tiến hành kiểm tra toàn diện nơi ăn, nghỉ cho bộ đội trong quá trình huấn luyện, có vấn đề phát sinh phải kịp thời báo cáo thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng chỉ đạo giải quyết.

Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng kịp thời đề xuất, sản xuất vật tư, trang bị kỹ thuật, phương tiện bảo đảm phục vụ tốt cho nhiệm vụ diễu binh, diễu hành. Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội khảo sát các tuyến đường hành quân, địa điểm tập kết sau diễu binh, diễu hành bảo đảm hợp lý, thuận tiện...

Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa lưu ý, thời gian luyện tập diễu binh, diễu hành diễn ra giữa những tháng nắng nóng nhất của mùa Hè (từ tháng 6 đến tháng 9) nên các cơ quan, đơn vị cần chú trọng xây dựng kế hoạch luyện tập linh hoạt, khoa học để đạt hiệu quả và bảo đảm tốt về sức khỏe cho bộ đội.

Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa tin tưởng các cơ quan, đơn vị sẽ phát huy tốt những kết quả đạt được trong tham gia thực hiện nhiệm vụ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vừa qua, đồng thời, với kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm cao sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ tham gia diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

Môi trường ST.

ĐÔI LỜI GỬI PGS, TS NGUYỄN MẠNH HÀ - NGƯỜI MUỐN “LẬT SỬ”!

     Những ngày qua, vấn đề bỏ từ “nguỵ quân”, “nguỵ quyền” trong bộ lịch sử Việt Nam 25 tập của nhóm các chuyên gia đầu ngành sử học đang là vấn đề khiến dư luận dậy sóng và căm phẫn.
MẤY LỜI GỬI TỚI PGS TS NGUYỄN MẠNH HÀ , NGUYÊN VIỆN TRƯỞNG VIỆN LỊCH SỬ ĐẢNG - HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH!
                                           Hà Nội , 9-11-2018
     
         Thưa ông Nguyễn Mạnh Hà,
          Nghe ông kể sơ qua với một nhóm người là bạn của ông, mà một nhà báo nào đó có mặt trong buổi gặp mặt hôm đó đã quay video clip được, phát lên mạng xã hội, nên tôi và hàng triệu người mới được biết năm 1976 ông tốt nghiệp chuyên ngành lịch sử ở Trường đại học tổng hợp Hà Nội. Như vậy, ông tốt nghiệp phổ thông hệ 10/10 năm 1972, vì Trường ĐHTH Hà Nội chỉ đào tạo có 4 năm. Có lẽ ông và tôi bằng tuổi nhau. Ngày ấy cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đang bước vào giai đoạn vô cùng gay go, ác liệt. Chắc là vì ông được hưởng chế độ chính sách ưu tiên của Đảng, Nhà nước, nên ông được vào đại học và yên vị học đại học. Dù sao tôi cũng chúc mừng cho sự may mắn và hạnh phúc của ông. Còn tôi và các bạn cùng trang lứa không được hưởng cái may mắn như ông, mà chúng tôi phải vào quân đội cầm súng và đi ra mặt trận. Trong cuộc chiến đấu “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” ấy, tôi và các đồng đội của tôi đều không dám nghĩ là mình còn sống, được trở về bước vào cổng trường Đại học để được làm người sinh viên như ông. Chiến tranh là như vậy, là không thể nói trước được điều gì, như ông biết đấy!

          Tôi kể cho ông Nguyễn Mạnh Hà biết : Tôi quê ở xã Thái Phúc , huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Một xã nhỏ, quanh năm người nông dân phải bán mặt cho đất và bán lưng cho trời, nhưng là một xã rất giàu truyền thống cách mạng. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, riêng về Bộ đội ở xã tôi có 397 liệt sĩ, hàng trăm thương binh và gần một trăm người bị nhiễm chất độc màu da cam, 53 người mẹ được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu “BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG”. Vì thế, xã tôi được vinh dự là Đơn vị Anh hùng LLVTND.

          Tôi kể với ông Nguyễn Mạnh Hà điều này không phải để tôi khoe và lấy oai gì với ông đâu. Mà để tôi muốn nói với ông rằng sự hy sinh của mỗi vùng quê hương và của cả đất nước ta là quá lớn lao , không thể nào tôi quên được. Hoà bình - Độc lập - Tự do được đổi bằng xương máu của nhân dân ta như thế đó!

         Bây giờ tôi lại nói lại với ông ở góc độ khác. Tôi và ông, hai người chúng ta đều là những người đã trải qua cuộc đời người lính, nhưng chỉ có khác là: Tôi là người lính Quân giải phóng miền Nam Việt Nam chiến đấu với Mỹ-ngụy; còn ông là người “lính cậu” ở Viện Lịch sử quân sự sau khi đất nước đã được hoà bình thống nhất. Mặt khác, tôi và ông đều là những người lính được đào tạo chuyên ngành khoa học lịch sử. Nhưng có điều khác là ông có học hàm PGS và học vị TS. Nói như Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn thì người này hơn, kém người kia trong cuộc sống đó cũng là chuyện rất bình thường. Và tôi cũng hiểu điều này, vì vậy tôi không có gì là buồn cả.

          Mà bây giờ, điều làm cho tôi buồn là ở thái độ và quan điểm chính trị của ông. Không chỉ tôi buồn mà tôi rất phẫn nộ với ông. Thực sự tôi không thể ngờ ông là một người được Đảng, Quân đội rất quan tâm, dìu dắt và nâng bước, trở thành một Sĩ quan cao cấp - Tổng biên tập Tạp chí Lịch sử quân sự (khi ở Bộ Quốc phòng, trong giai đoạn từ năm 1977 đến năm 2011), rồi Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (từ năm 2012 đến năm 2016); bây giờ lại được Đảng, Nhà nước phân công nhiệm vụ là chủ biên của một tập Lịch sử giai đoạn 1954-1975 trong Bộ Quốc sử 25 tập; thế mà ông lại đánh tráo khái niệm trong các phạm trù chính trị, bác bỏ phạm trù “ngụy quân”, “ngụy quyền”, coi bè lũ tay sai bù nhìn là chính thể hợp pháp (có chính phủ, có quân đội, có quốc kỳ, có quốc ca) quản lý một nửa đất nước. Ông đã cố tình cho rằng trong thời kỳ lịch sử từ năm 1954 đến ngày 30-4-1975 ở nước Việt Nam tồn tại 2 Chính phủ ở 2 miền: Việt Nam dân chủ cộng hoà ở Miền Bắc và Việt Nam Cộng hoà ở Miền Nam. Quan điểm của ông đã phục hồi luận điệu phản động của Mỹ-ngụy trước đây là Miền Bắc xâm lược Miền Nam. Nếu như vậy, cuộc cách mạng chính nghĩa của Đảng và nhân dân ta sẽ trở thành phi nghĩa. Vì vậy, tôi có quyền khẳng định tư tưởng và quan điểm của ông PGS TS Nguyễn Mạnh Hà là cực kỳ phản động.

         Từ quan điểm đó, ông đã có chủ ý phản bội lại đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng ta mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. 

          Qua bài viết này, tôi mong rằng ông PGS TS Nguyễn Mạnh Hà và các cộng sự của ông hãy suy nghĩ lại, sám hối với Tổ quốc và quay đầu lại phụng sự sự nghiệp cách mạng chính nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Đừng rắp tâm biến mình trở thành kẻ phản động , phản bội Tổ quốc, phản bội Đảng và phản bội nhân dân ./.
Yêu nước ST.

CƠ SỞ VỮNG CHẮC CHO ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI!

         Đây vừa là mục tiêu, vừa là lời hiệu triệu khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước, để Việt Nam hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược: 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước!

Luận điệu xuyên tạc lạc lõng, vô căn cứ
Thế nhưng, các thế lực thù địch, phần tử xấu trong và ngoài nước luôn tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc, đả kích vấn đề này. Chúng lợi dụng mạng xã hội phát tán các thông tin sai trái, xuyên tạc mục đích, giá trị, ý nghĩa, phủ nhận bản chất khoa học của khái niệm, nội hàm các vấn đề liên quan đến “kỷ nguyên phát triển mới”, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Âm mưu thâm độc của chúng là gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái dư luận, tạo nhận thức lệch lạc, mất niềm tin vào con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, từ đó không phát huy được ý chí, sức mạnh nội sinh, lòng tự hào dân tộc để đưa đất nước vươn mình phát triển. Điều này rất nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực hoàn thành các mục tiêu trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; khẩn trương tiến hành đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. 
 
Những thành tựu đất nước ta đạt được trong thời gian qua đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, sai trái này. Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng lãnh đạo, đất nước ta đã tạo được thế và lực mới, hội tụ đủ các điều kiện để bước vào kỷ nguyên phát triển mới vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những kinh nghiệm đã tích lũy; sự chung sức đồng lòng của “ý Đảng, lòng dân” và sức mạnh của lực lượng vũ trang; là quyết tâm giải phóng sức sản xuất; phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, nhất là nguồn lực con người và thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đưa đất nước phát triển. Thực tế sau gần 40 năm đổi mới, nước ta từ khủng hoảng, lạm phát 774,7% trước Đại hội VI (1986) đã vươn lên nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và nằm trong tốp 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài.

Bằng tầm nhìn chiến lược về tư duy tìm đường đưa đất nước phát triển, Đảng ta đã khái quát nên khái niệm và các nội hàm về kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Luận điểm này hoàn toàn không phải là sự áp đặt ý chí chủ quan, duy ý chí, cũng không phải là “sự viển vông, ảo tưởng”, “xa rời thực tế” như các thế lực thù địch bịa đặt, xuyên tạc.

Nâng cao nhận thức không mắc mưu kẻ xấu
Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần đề cao cảnh giác, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường phát triển của đất nước, tuyệt đối không để mắc mưu các thế lực thù địch, phần tử xấu. Chúng ta cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về mục đích, nội dung và bản chất của kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc theo quan điểm của Đảng. Quan điểm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới của Đảng là khách quan, dựa trên cơ sở khoa học, được tổng kết, đúc rút từ kinh nghiệm, bản lĩnh của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, đặc biệt là những thành tựu đất nước đạt được trong gần 40 năm Đổi mới. 

Với tầm nhìn xa, trông rộng, Đảng ta đã phân tích thấu đáo xu hướng vận động, phát triển của thế giới, khu vực; đặc biệt là thế và lực của đất nước. Từ đó, Đảng chỉ rõ thời cơ, những thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực. Đó là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân tự tin, chung sức, đồng lòng bước vào kỷ nguyên phát triển mới xây dựng đất nước giàu đẹp, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Vượt qua giới hạn phát triển đất nước theo chiều rộng để chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu; không khắc phục được những “điểm nghẽn, nút thắt” bằng những biện pháp quyết liệt hơn, hiệu quả cao hơn, nhất là tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nhân lực thì chúng ta không thể tạo ra sự thông thoáng về không gian phát triển, phát huy tối đa sức mạnh của các nguồn lực... đang là hướng đi đúng đắn đã được Đảng chỉ ra nhằm đưa đất nước phát triển. "Ý Đảng, lòng dân" luôn hòa quyện, thống nhất, mà biểu hiện rõ nhất trong giai đoạn hiện này là quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị; thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới. Chúng ta tin tưởng rằng, với những thành tựu to lớn đã đạt được, truyền thống đoàn kết, thống nhất, toàn dân chung sức đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta sẽ không ngừng phát triển, đạt được các mục tiêu đề ra./.
Môi trường ST.

LUẬN ĐIỆU BÓP MÉO QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY!

         Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, chủ trương phát triển kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình. Tuy nhiên, các quan điểm sai trái và thế lực thù địch đã lợi dụng tình hình để tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo rằng việc khuyến khích kinh tế tư nhân là từ bỏ mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm gây hoài nghi và làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Trước những luận điệu sai trái này, Đảng và Nhà nước luôn kiên định với mục tiêu xây dựng một nền kinh tế tự chủ, bền vững, trong đó kinh tế tư nhân được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững, thịnh vượng của đất nước!

Các quan điểm sai trái, phản động về kinh tế tư nhân
Các thế lực thù địch và phản động gần đây đã lợi dụng sự phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam để tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng cố tình tuyên truyền rằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân là dấu hiệu từ bỏ nền tảng xã hội chủ nghĩa, hoặc chuyển hướng sang kinh tế tư bản, chúng xuyên tạc rằng, sự điều chỉnh từ kinh tế nhà nước sang kinh tế tư nhân là một sự lật đổ chính sách.

Một số quan điểm sai trái, phản động khác còn cho rằng chỉ có kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mới phù hợp với quy luật phát triển, đồng thời xuyên tạc Việt Nam đang “chuyển đổi sang nền kinh tế tư bản dưới vỏ bọc xã hội chủ nghĩa”. Ngoài ra, các thế lực này còn cho rằng sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân làm suy yếu vai trò của kinh tế nhà nước và tập thể, dẫn đến bất bình đẳng xã hội và mất kiểm soát tài nguyên quốc gia, sử dụng các diễn đàn trực tuyến, mạng xã hội và các buổi thảo luận giả danh chuyên gia để tuyên truyền rằng “một nền kinh tế thị trường không thể tồn tại trong chế độ độc đảng”. Những luận điệu này không chỉ bóp méo thực tiễn, phủ nhận thành quả của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gây hoài nghi trong dư luận mà còn nhằm phá hoại niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, kêu gọi thay đổi thể chế chính trị.

Cơ sở l‎ý luận và thực tiễn về kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân thực chất là khu vực kinh tế thuộc sở hữu của cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hoạt động vì lợi ích riêng nhưng đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng chế độ sở hữu tư nhân là nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội và sự tha hóa con người. C.Mác chỉ ra rằng, sở hữu tư nhân dẫn đến “sự cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế và cuối cùng là tập trung tư bản, làm gia tăng bất công xã hội”. Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng khẳng định, trong một số giai đoạn lịch sử, kinh tế tư nhân có thể thúc đẩy sản xuất và phát triển lực lượng lao động, tạo tiền đề cho sự phát triển và tiến bộ xã hội.

Kế thừa quan điểm này, V.I.Lênin nhận định, kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin nhấn mạnh: Chính sách ngăn cấm hoàn toàn trao đổi tư nhân là một sự dại dột và tự sát. Chính sách kinh tế mới-NEP (1921) đã cho phép các doanh nghiệp nhỏ và thương mại tự do hoạt động để phục hồi nền kinh tế Nga sau chiến tranh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm khai thác tiềm năng của kinh tế tư nhân để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời định hướng khu vực này theo con đường xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin khẳng định: Chúng ta sẽ học cách vận hành nền kinh tế từ các nhà tư bản, kể cả các nhà tư bản nước ngoài.

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng, trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, khu vực này chiếm hơn 60% GDP, hơn 70% đổi mới công nghệ và tạo ra hơn 80% việc làm ở đô thị, với hơn 90% số lượng doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân, các doanh nghiệp này đã góp phần đáng kể vào việc ổn định tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sáng tạo và hiện đại hóa nền kinh tế Trung Quốc. Đặc biệt, từ sau cải cách mở cửa năm 1978, kinh tế tư nhân đã phát triển vượt bậc, trở thành động lực chính trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Trung Quốc. Chính sách khuyến khích và hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ đã giúp Trung Quốc đạt được những thành tựu lớn, như việc tăng số doanh nghiệp tư nhân trong danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới từ 1 doanh nghiệp năm 2010 lên 28 doanh nghiệp năm 2018. Những con số này cho thấy vai trò không thể thiếu của kinh tế tư nhân trong việc thực hiện mục tiêu "Giấc mộng Trung Hoa" và xây dựng một nền kinh tế hiện đại, phát triển chất lượng cao.

Đối với Hàn Quốc và Nhật Bản, kinh tế tư nhân đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế, trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng và hiện đại hóa. Tại Hàn Quốc, từ thập niên 1960, chính phủ đã thực hiện các chính sách chiến lược nhằm khuyến khích phát triển các tập đoàn lớn như Samsung, Hyundai và LG thông qua vốn vay ưu đãi, bảo vệ ngành công nghiệp nội địa và tập trung vào các ngành chủ chốt như sản xuất hóa chất và thép. Nhờ đó, khu vực kinh tế tư nhân hiện chiếm hơn 80% GDP, tạo ra chuỗi cung ứng rộng lớn và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi đó, Nhật Bản cũng coi khu vực tư nhân là trụ cột quan trọng trong chiến lược tái định hình nền kinh tế. Chính phủ Nhật Bản đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ như giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tài trợ nghiên cứu và phát triển, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giúp khu vực tư nhân chiếm hơn 65% GDP quốc gia.

Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Tại Việt Nam, kinh tế tư nhân bắt đầu được thừa nhận chính thức từ Đại hội VI (1986), khi Đảng khẳng định: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế... Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch...” và nhận ra sự cần thiết phải “sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Từ đó, khu vực này từng bước được nhìn nhận là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta nhấn mạnh: Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Đồng thời, Đảng đặt mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60-65%. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự nhất quán trong đường lối của Đảng nhằm phát triển kinh tế tư nhân trở thành “một động lực quan trọng” thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao đời sống nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn như nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, dân số già hóa nhanh chóng và áp lực từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh đó, kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng hàng đầu để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ đóng góp lớn vào GDP và tạo việc làm mà còn là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứng dụng công nghệ cao; yêu cầu xóa bỏ mọi rào cản, định kiến đối với kinh tế tư nhân; xây dựng các chính sách hỗ trợ toàn diện như cải thiện môi trường pháp lý, phát triển hạ tầng hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Quan điểm này không chỉ phù hợp với lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn nhất quán với đường lối đổi mới của Đảng, khẳng định rằng việc phát triển kinh tế tư nhân là sự vận dụng sáng tạo để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, không hề đi ngược lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn.

Để phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay, cần tập trung vào các giải pháp trọng tâm như hoàn thiện thể chế và xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh, khuyến khích đổi mới sáng tạo thông qua chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cao, cũng như giải phóng tối đa các nguồn lực phát triển. Những giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp tư nhân tiếp cận nguồn lực công bằng mà còn tạo điều kiện để khu vực này trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Thực tế đã chứng minh rằng việc phát triển kinh tế tư nhân không phải là sự từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa như các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, mà chính là sự vận dụng sáng tạo để đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và đạt mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045. Những quan điểm sai trái này cần được kiên quyết đấu tranh, phản bác mạnh mẽ để bảo vệ niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.
Khuyết danh ST.

CUỐN PHĂNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SÁNG BỪNG HÀO KHÍ ĐẠI LỄ!

BÀI 2: BẰNG CHỨNG SỐNG ĐỘNG TỪ HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG!
(tiếp theo và hết)
Để đất nước được thống nhất, non sông liền một dải vào ngày 30-4-1975, cả dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian khổ, hy sinh. Mục tiêu cách mạng “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào...” như lời chúc Tết Kỷ Dậu 1969 của Bác Hồ là khát vọng cháy bỏng của toàn dân tộc. Âm mưu xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, dù được ngụy trang dưới bất cứ hình thức nào, cũng cần phải lật tẩy, lên án...

Cảnh giác với thủ đoạn “dương Đông kích Tây”
Có một kiểu lập luận ngụy biện, ngụy hàn lâm dưới chiêu bài dân túy được các tổ chức phản động rêu rao trên không gian mạng, chúng ta phải hết sức cảnh giác và tỉnh táo nhận diện để đấu tranh. Đó là kiểu tư duy lập lờ, kiểu lập ngôn “cắt khúc”, “hớt ngọn”. Sự thật lịch sử là ngụy quyền Sài Gòn trước thời điểm 30-4-1975 là một chính quyền tay sai do Mỹ dựng lên để thực hiện âm mưu xâm lược, thôn tính Việt Nam. Việc ký kết Hiệp định Paris vào ngày 27-1-1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam buộc Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam là thành quả kháng chiến của cả dân tộc trên tất cả các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao... Sau khi “đánh cho Mỹ cút”, việc “đánh cho ngụy nhào” là bước phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến để đi đến mục tiêu “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.

Đó là sự thật lịch sử, không ai, không thế lực nào, không có bất cứ lý do gì có thể thay đổi, xuyên tạc, phủ nhận. Thế nhưng, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc, đất nước, các thế lực thù địch đã sử dụng chiêu bài dân túy, ngụy biện, ngụy hàn lâm... để tẩy sử, lật sử. Chúng đánh tráo khái niệm, coi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, là một cuộc “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc. Thành quả cách mạng lật đổ ngụy quân, ngụy quyền tay sai bán nước bị chúng cố tình đánh tráo bản chất, thay bằng “nồi da xáo thịt”, “huynh đệ tương tàn”... Thậm chí, chúng đòi viết lại lịch sử, công nhận ngụy quyền Sài Gòn là một “chính thể” để hợp thức hóa âm mưu biến cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân tộc thành cuộc “nội chiến”.

Khi những thứ ngụy hàn lâm này bị lật tẩy, bởi nó là những luận điệu đã lỗi thời, lạc lõng, các thế lực thù địch liền thay đổi phương thức tiếp cận bằng chiêu bài dân túy, lấy cớ thúc đẩy hòa hợp dân tộc, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai bằng kiểu lập ngôn “cắt khúc”, “hớt ngọn”, “lập lờ đánh lận con đen”... Theo đó, chúng cho rằng, chỉ cần nói “thống nhất đất nước” là đủ, bỏ cụm từ “giải phóng miền Nam” cho ngắn gọn, súc tích. Thoạt nghe, không ít người tưởng là có lý. Tuy nhiên, bằng tư duy biện chứng, chúng ta thấy rõ, nếu không có “giải phóng miền Nam” thì làm gì có “thống nhất đất nước”? Cách nói “cắt khúc”, “hớt ngọn” này chính là một kiểu thao túng tâm lý, đánh lừa nhận thức. Nếu nhận thức chính trị, lập trường tư tưởng thiếu vững vàng sẽ dễ sa vào cái bẫy ngôn từ trong chiến dịch truyền thông chống phá của các thế lực thù địch, dẫn đến nhận thức lệch lạc, sai lầm về Đại thắng mùa Xuân 1975 và ý nghĩa của Đại lễ 30-4.

Trên không gian mạng những ngày gần đây xuất hiện nhiều bài viết, dòng trạng thái của các tổ chức, cá nhân thù địch, phản động như: “Việt Tân”, Lê Trung Khoa... tuyên truyền xuyên tạc về ngoại giao Việt Nam trong khuôn khổ Đại lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chúng lộng ngôn, lớn tiếng quy chụp, chỉ trích, bỉ bai... mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng, lèo lái dư luận, kích động hận thù dân tộc, phá hoại đường lối đối ngoại của Đảng...

Nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện, chúng ta dễ dàng lật tẩy chiêu trò truyền thông “bẩn” này. Lại là những kiểu “cắt khúc”, “hớt ngọn” thông tin, thấy hiện tượng mà không thấy bản chất, “thầy bói mù xem voi”... Đường lối đối ngoại của Đảng ta nhất quán mục tiêu độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc... Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Những thông tin lèo lái dư luận, đòi Việt Nam phải dựa vào nước này để chống nước khác là kiểu lập luận ngụy biện, hoàn toàn không có giá trị “phản biện”, “hiến kế”, mà thực chất là mưu đồ phá hoại. Việc tuyên truyền, kích động hận thù kiểu “dương Đông kích Tây” trong bối cảnh hiện nay chính là âm mưu xuyên tạc, phá hoại, hòng làm mất đi ý nghĩa thiêng liêng của ngày đại lễ toàn dân tộc.

Hiện thực đời sống là bằng chứng thuyết phục nhất
Các thế lực thù địch đã và đang áp dụng đủ chiêu trò, mở chiến dịch truyền thông quy mô rầm rộ để kích động, xuyên tạc, chống phá ngày hội non sông của đất nước ta. Nhưng, hiện thực đời sống xã hội ở Việt Nam đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ chính là bằng chứng sống động, thuyết phục nhất, cuốn phăng luận điệu xuyên tạc, khẳng định giá trị trường tồn của thành quả cách mạng. Chỉ cần thông qua những góc nhìn cận cảnh đời sống xã hội ở TP Hồ Chí Minh những ngày này, ai ai cũng thấy rõ điều đó. Hàng vạn người từ khắp nơi đổ về thành phố đón chào những đoàn quân làm nhiệm vụ diễu binh, diễu hành. Trong các buổi hợp luyện, tổng hợp luyện, sơ duyệt, tổng duyệt diễu binh, diễu hành, dòng người chen kín các trục đường, các địa điểm công cộng. Tất cả đều rạng rỡ thần thái, cờ hoa, biểu ngữ rực rỡ đón chào các khối diễu binh, diễu hành, tự hào chiêm ngưỡng những cánh bay mang khát vọng hòa bình, hưng thịnh trên bầu trời rực rỡ nắng vàng. Từ những góc nhỏ trong các quán cà phê, không gian giải trí đến những khu vực sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đâu đâu cũng ngập tràn sắc âm mừng Đại lễ 30-4. Ngập trên các nền tảng mạng xã hội là hào khí, hình ảnh thể hiện tinh thần yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Đặc biệt, mặc dù lượng người đổ về khu vực trung tâm thành phố đông nghịt, nhưng tất cả đều diễn ra trong trật tự, hòa chung bầu không khí tự hào Việt Nam...

Nguồn năng lượng tích cực mang hào khí, khát vọng dân tộc như dòng nước mát lành giữa mùa khô nắng nóng, như những đợt sóng trào từ đại dương, lan tỏa, bừng lên, kết nối triệu cánh tay, triệu trái tim về một mối. Đó là bản sắc, là khí chất, là bản lĩnh, là ý chí, là khát vọng Việt Nam, thấm sâu vào nếp nghĩ, vào huyết quản, vào trái tim mỗi người dân đất Việt, trở thành nhu cầu tự thân. Tất cả tạo nên bầu không khí mừng đại lễ của dân tộc, trang trọng, ấm áp, nghĩa tình, hưng vận...

Chính hưng khí ấy, hào khí ấy, nhịp sống xã hội tươi đẹp và hào sảng ấy đã tạo thành dòng thác, xóa tan, cuốn phăng đi những thứ rác rưởi độc hại, dù nó đang cố tình đu bám, ký sinh trên các nền tảng mạng xã hội.

“Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Hào khí Đại thắng 30-4, nửa thế kỷ bừng lên, rực sáng, củng cố niềm tin, tạo thế và lực để đất nước vươn mình mạnh mẽ vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khát vọng hưng thịnh, phồn vinh. Đó là ý nguyện, là khát vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và kiều bào yêu nước. Và, khi lòng dân đã thuận, ý Đảng đã quyết, thì không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phá hoại được thành quả cách mạng, thành trì tư tưởng của chúng ta.

Được sống, được hòa mình trong bầu không khí ấy, nguồn hưng khí, hưng vận ấy, là hạnh phúc của mọi cán bộ, đảng viên, những "công bộc" của dân. Hưng khí giang sơn, hưng vận dân tộc được kết tinh từ linh khí của xương máu ông cha. Tổ chức Đại lễ 30-4 một cách trang trọng, thiêng liêng không chỉ là cách khẳng định vị thế, uy tín, niềm tự hào, tự tôn dân tộc mà còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tri ân sự hy sinh, công lao cống hiến của thế hệ cha anh và ông bà, tiên tổ. Hồn thiêng của các anh hùng liệt sĩ, các thế hệ hiền nhân sẽ hiển linh hội tụ trong sắc nắng, màu mây; trong màu cờ, sắc áo đại lễ. Biết như thế, hiểu như thế, ngẫm như thế để mỗi chúng ta biết cách mà nâng niu, trân quý giá trị của hòa bình, độc lập, tự do; tiếp thêm niềm tin và nhiệt huyết chiến đấu, góp phần đập tan, cuốn phăng những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng./.
Yêu nước ST.

CUỐN PHĂNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SÁNG BỪNG HÀO KHÍ ĐẠI LỄ

BÀI 1: QUÉT “RÁC” BẰNG TƯ DUY BIỆN CHỨNG!
     Đại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025) thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; kiều bào yêu nước và bạn bè yêu chuộng hòa bình khắp thế giới. Tầm ảnh hưởng tích cực và sức lan tỏa mạnh mẽ của các hoạt động kỷ niệm khiến các thế lực thù địch và những đối tượng phản động cay cú, tăng cường thực hiện các chiến dịch truyền thông xuyên tạc, chống phá...

Những thứ rác rưởi của trò lố chính trị
Theo dõi những thông tin xuyên tạc trên các nền tảng mạng xã hội do các thế lực thù địch tung ra, lan truyền, nhắm vào xuyên tạc, phá hoại Đại lễ “Ngày hội non sông” 30-4, bằng tư duy logic, chúng ta thấy rõ, đó là một kiểu “nhai lại”, được ngụy trang, mị dân sau lớp vỏ công nghệ hiện đại. Thứ “nhai lại” ấy chính là nội dung, thông tin phản động. Sau 50 năm kể từ ngày non sông liền một dải, tư tưởng hận thù dân tộc vẫn được các đối tượng thù địch gặm nhấm, bấu víu nhằm đánh tráo khái niệm, đổi trắng thay đen về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Những cái gọi là “ngày quốc hận”, “tháng tư đen”, “khát vọng phục quốc”... chúng “nhai đi, nhai lại” một cách cay cú và ngày càng gia tăng tính chất, mức độ, phạm vi “phủ sóng”. Cứ mỗi dịp đất nước ta tổ chức các hoạt động kỷ niệm “Ngày hội non sông thống nhất đất nước” là truyền thông mang tư tưởng thù địch lại lập tức mang cái thứ tư tưởng, tư duy lỗi thời, lạc lõng này ra để rêu rao.

Trong dịp Đại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, điệp khúc ỉ ôi này lại râm ran, rền rĩ trên các nền tảng mạng xã hội. Chúng cấu kết thành lập những thứ gọi là “ban”, “hội đồng” tại Hoa Kỳ và một số nước phương Tây, do số đối tượng “tàn dư” của chế độ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn trước năm 1975 thực hiện, như: “Ban tổ chức đại lễ tưởng niệm 50 năm quốc hận 30-4”, “Hội đồng lãnh đạo điều hành sự kiện kỷ niệm 50 năm...” và các “Cộng đồng người Việt tị nạn”, “Hội đồng phục quốc”... Chúng tập hợp, mang theo cờ “ba sọc”, mặc trang phục ngụy quân, tổ chức những trò lố gọi là “biểu tình”, “tuần hành”, “diễu hành”, “hội luận tình hình Việt Nam sau 50 năm...” rồi quay video tung lên các nền tảng mạng xã hội để “khuếch trương thanh thế”, “phông bạt”, “làm màu”...

Gọi những thứ này là rác rưởi, trò lố bởi cái gọi là “lực lượng”, “đội quân” tham gia “tuần hành”, “diễu hành” ấy chỉ lèo tèo vài nhóm người, đa số đều là những đối tượng già cả, ốm yếu, thậm chí có nhiều đối tượng chân bước không vững, vừa đi vừa lết, thều thào hô khẩu hiệu. Phía dưới những video phản động, phản cảm này, rất nhiều người đã để lại những dòng bình luận phê phán, giễu cợt, kiểu như: “Để dành sức mà húp cháo”, “Răng rụng hết rồi, hô hào gì nữa”, “Bước không vững còn bày đặt “phục quốc”...

Một trong những tổ chức phản động lưu vong có tần suất thông tin xuyên tạc dày đặc trên các nền tảng mạng xã hội, chống phá Đại lễ 30-4-2025 của dân tộc, đó chính là tổ chức khủng bố “Việt Tân”. Tổ chức này do Lý Thái Hùng cầm đầu. Với chiêu bài chuyển hướng hoạt động từ khủng bố vũ trang sang “đấu tranh bất bạo động”, “Việt Tân” đã và đang đẩy mạnh tận dụng tiện ích không gian mạng, sử dụng AI để tuyên truyền, gieo rắc thông tin, tư tưởng phản động, dân túy. Từ Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025 đến nay, "Việt Tân" thực hiện dồn dập các chiến dịch tuyên truyền quy mô lớn, đa hướng, đa kênh, tận dụng các website, trang Facebook..., sử dụng AI nhằm gia tăng lượng tiếp cận, tương tác của người dân trong nước, lan truyền những thông tin mị dân, chống phá đất nước. Chúng biên soạn, tán phát những tài liệu như: “Thư chúc Tết”, “Văn kiện Việt Nam nửa thế kỷ tụt hậu và lối thoát cho tương lai”... có nội dung phủ nhận thành quả cách mạng ngày 30-4-1975, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, tự do dân chủ; quy chụp Việt Nam “tụt hậu” về kinh tế; từ đó kích động người dân tụ tập, biểu tình, gây bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân; mở đường cho lực lượng phản động “phục quốc”...

Nhìn tổng thể để thấy rõ bản chất
Cần phải nói ngay và luôn, các hoạt động truyền thông mang tính chất lừa bịp, xuyên tạc, kích động, chống phá thành quả cách mạng ở Việt Nam do các thế lực thù địch thực hiện, không phải là đề tài mới mẻ gì. Ngay sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 50 năm trước, trong lúc chúng ta nỗ lực tái thiết cuộc sống, thực hiện các chính sách hòa hợp dân tộc, chung tay xây dựng đất nước thì những thành phần chống đối cũng rắp tâm thực hiện âm mưu chống phá. Chúng thể hiện ý đồ lật đổ chính quyền nhân dân, đạp đổ thành quả cách mạng, gây rối loạn an ninh chính trị trong nước. Một bộ phận người Việt Nam lưu vong ở nước ngoài đã cấu kết, hình thành những tổ chức phản động, được sự "hà hơi", "tiếp sức" của các lực lượng quốc tế mang tư tưởng thù địch với cách mạng Việt Nam, tiến hành các hoạt động có tính chất khủng bố, bạo loạn. Bên cạnh các hoạt động vũ trang “chuyển lửa về quê nhà”, chúng tăng cường mạng lưới truyền thông, sử dụng các kênh phát sóng bằng tiếng Việt, chĩa “mũi dùi” về đất nước để tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống phá. Mục tiêu của chúng là làm lung lay trận địa tư tưởng, gây mất lòng tin của nhân dân, gây rối ren trật tự xã hội... để thừa cơ tiến hành bạo loạn, lật đổ chính quyền.

Đặc biệt, sau khi mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, thoái trào, các chiến dịch truyền thông xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch càng gia tăng cấp độ, phạm vi, tính chất. Tuy nhiên, hiện thực lịch sử và đời sống xã hội; cơ đồ, vị thế của đất nước đã chứng minh, không một thế lực nào, không một âm mưu nào có thể phá vỡ bức tường thành vững chắc của thế trận lòng dân ở Việt Nam. Chúng ta đã giữ vững thành quả cách mạng, đẩy lùi và từng bước làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả, đưa đất nước phát triển bền vững.

Nhắc lại những vấn đề mang tính khái quát này để chúng ta có cái nhìn toàn diện về cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng hiện nay. Sở dĩ phải nhấn mạnh điều này bởi không ít người khi tiếp cận với những thông tin xuyên tạc, xấu độc trên không gian mạng đã “quên” mất phương pháp tư duy, suy luận vấn đề theo logic biện chứng. Thay vào đó là kiểu thấy hiện tượng mà không biết bản chất, thấy cây mà không thấy rừng; là kiểu “thầy bói mù xem voi”; tư duy “hớt váng”, “cắt khúc”, “cắt ngọn”... Tâm lý “hóng hớt”, “hội chứng đám đông”, lập trường tư tưởng chính trị thiếu vững vàng của một bộ phận nhỏ công chúng chính là kẽ hở trong trận địa tư tưởng khiến các thế lực thù địch lợi dụng khoét rộng, đào sâu nhằm “ký sinh”, “tầm gửi” quan điểm sai trái, phản động, chống phá đất nước.

Bằng thủ đoạn dân túy, được ngụy trang, che đậy dưới lớp vỏ ngôn ngữ bóng bẩy, sử dụng AI làm công cụ, những thông tin xuyên tạc, xấu độc của các thế lực thù địch đã dụ dỗ được một số người nhẹ dạ, cả tin, những thành phần cực đoan, cơ hội, non kém bản lĩnh và ý thức chính trị. Đáng tiếc là trong số đó có một số trường hợp cá biệt thuộc tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ. Trang cá nhân của họ trên các nền tảng mạng xã hội có lượng theo dõi, tương tác khá lớn. Trong quá khứ, những người này đã có đóng góp nhất định cho sự nghiệp văn hóa nghệ thuật. Tuy nhiên, vì non kém bản lĩnh và ý thức chính trị, họ đã suy thoái tư tưởng chính trị, được các thế lực thù địch tung hô như những “người hùng”, lên mạng xã hội phát ngôn đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và lợi ích dân tộc, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ông Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011), cựu Thủ tướng, cựu Phó tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, khi còn sống, đã bức xúc lên tiếng: “Nước Việt Nam có mất cho Tây cho Tàu đâu mà phục quốc?... Và tôi từng hỏi, nếu họ thật sự yêu nước thì họ phải biết ngồi im và biết suy nghĩ chứ đừng đi theo một lũ côn đồ, hám danh hám lợi, lừa gạt mọi người. Cứ nhân danh chính nghĩa quốc gia, nhân danh tự do dân chủ, nhân danh chống cộng, dân chủ mà đi lừa gạt người ta”.

Thiết nghĩ, không cần bình luận gì thêm về những phát ngôn thẳng thắn, nhận thức rõ "đúng-sai" này, bởi nó đã góp phần lột trần sự thật và bản chất của những thành phần bất mãn, cơ hội, phản bội Tổ quốc. Nhắc lại điều này để một lần nữa giúp bạn đọc có những góc nhìn đa chiều, khách quan, có nhãn quan chính trị và phương pháp luận biện chứng khi tiếp cận, phân tích, đánh giá, bày tỏ thái độ trước những thông tin xấu độc đang xuất hiện tràn lan trên không gian mạng hiện nay...
(còn nữa)
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM "VUN ĐẮP TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT NAM - BELARUS NGÀY CÀNG BỀN CHẶT"!

     Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Belarus từ ngày 11 đến 12-5, chiều 11-5 (giờ địa phương), Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã có cuộc gặp Hội hữu nghị và giao lưu văn hóa với nước ngoài của Belarus, Hội hữu nghị Belarus-Việt Nam và các cựu chuyên gia Belarus đã từng giúp đỡ Việt Nam.

Phát biểu tại buổi gặp, Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ vui mừng và xúc động được gặp gỡ những người đồng chí, người bạn Belarus - những trái tim luôn gắn bó với Việt Nam, trong đó có các chuyên gia đã dành nhiều nỗ lực, công sức và tâm huyết hỗ trợ Việt Nam trong những năm tháng khó khăn.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, trong hơn 30 năm kể từ khi Việt Nam và Belarus thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992 đến nay, trải qua nhiều khó khăn, thử thách, song tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân hai nước vẫn luôn bền chặt, nồng ấm và tin cậy. Đây là tài sản quý giá của hai dân tộc.

Việt Nam trước sau như một coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống với Belarus; mong muốn tăng cường hợp tác giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực, vì lợi ích chung của hai nước, vì hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự ủng hộ mạnh mẽ và sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình mà Chính phủ và nhân dân Liên Xô trước đây, cũng như Belarus ngày nay, dành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hoan nghênh những hoạt động năng động, sáng tạo, thiết thực của Hiệp hội hữu nghị và giao lưu văn hóa với nước ngoài của Belarus và Hội hữu nghị Belarus-Việt Nam thời gian qua, Tổng Bí thư đề nghị Hiệp hội hữu nghị và giao lưu văn hóa với nước ngoài của Belarus và Hội hữu nghị Belarus-Việt Nam tích cực phối hợp với Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội Hữu nghị Việt Nam-Belarus, tiếp tục tổ chức các hoạt động giao lưu phong phú, sâu sắc hơn, thu hút nhiều hơn sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, các nhà khoa học, doanh nghiệp và đặc biệt là thế hệ trẻ, giúp thế hệ trẻ hai nước ngày hiểu biết và gắn bó với nhau hơn, nhằm vun đắp cho tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam-Belarus ngày càng bền chặt. Các hội, liên hiệp hội thúc đẩy các hoạt động giới thiệu, làm cầu nối để một số trường đại học, tổ chức nghề nghiệp và doanh nghiệp của hai nước xây dựng quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, văn hóa, thương mại-đầu tư...

Tổng Bí thư nhấn mạnh, các tổ chức nhân dân là những nhân tố quan trọng để gìn giữ lịch sử và truyền lại cho các thế hệ mai sau về tình hữu nghị son sắt, thủy chung và sự hợp tác bền chặt giữa nhân dân hai nước, góp phần củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam-Belarus.

* Trước đó, chiều cùng ngày, Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tới thăm và dâng hoa tại Tượng đài Chiến thắng ở thủ đô Minsk, Belarus. Đây là nơi người dân Belarus cũng như những du khách từ khắp thế giới đến thăm và tưởng nhớ những người đã hy sinh trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại./.
Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2025

Giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ không ngừng thay đổi thủ đoạn tiến công, chống phá quyết liệt, xảo quyệt. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài. Thắng lợi hay thất bại trong cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay hoàn toàn do sức mạnh của lực lượng cách mạng quyết định.

Để chiến thắng trong cuộc đấu tranh này, đòi hỏi chúng ta phải chủ động, tích cực, với nhiều biện pháp, nhiều lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” với “chống”, giữa “xây” với “chống”, lấy “xây” làm chính dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, đội ngũ cán bộ, đảng viên, với sự tham gia của các tổ chức trong hệ thống chính trị và lực lượng toàn dân. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cần vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá của địch; giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa, tiếp tục thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Để thực hiện đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” đạt hiệu quả, cần chú trọng tiến hành đồng bộ nhiều hoạt động, trước hết là đẩy mạnh giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, ý thức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam.

Nếu cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân được giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì họ sẽ được nâng cao giác ngộ chính trị, bản lĩnh vững vàng, ý chí quyết tâm cao, đạo đức cách mạng trong sáng, tạo sự “miễn dịch” cần thiết, tăng sức “đề kháng”, đủ để ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu, xâm nhập của các luận điệu xuyên tạc, các thế lực thù địch sẽ thất bại trong “diễn biến hòa bình”, không thể thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Mặt khác, họ sẽ chủ động, tích cực phối hợp mọi lực lượng để kiên quyết chống lại “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thực tế cho thấy, mặc dù các thế lực thù địch đã thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” gây nhiều tác hại nghiêm trọng đối với cách mạng Việt Nam, luôn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta trong nhiều năm qua, nhưng vẫn có nhiều người không nhận thức được điều này, thậm chí còn cho rằng, chúng ta cố tình thổi phồng các vấn đề này. Do vậy, cần tiếp tục giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho mọi người nhận thức rõ hơn âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta của các thế lực thù địch; thấy rõ “diễn biến hòa bình” thực sự là một trong những nguy cơ lớn đe dọa tới sự sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa, đến vai trò lãnh đạo của Đảng, sự ổn định chính trị của đất nước.

Để nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, nâng cao ý thức cảnh giác của mọi người dân, cần làm tốt công tác giáo dục những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở để cán bộ, đảng viên, quần chúng quán triệt đường lối của Đảng, củng cố vững chắc niềm tin và nâng cao khả năng đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Quá trình giáo dục cần tập trung làm rõ bản chất cách mạng, khoa học, chỉ rõ những giá trị, phương hướng vận dụng học thuyết, tư tưởng ấy trong đời sông. Qua đó, giúp mọi người có đủ tự tin, có lý lẽ để phê phán những luận điệu sai trái, kịp thòi giải đáp có sức thuyết phục những băn khoăn, thắc mắc có liên quan đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của đời sốhg xã hội mà quần chúng nhân dân quan tâm.

Cần giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng thấu hiểu đường lối chính trị, quân sự của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nưốc, nhiệm vụ cách mạng, xây dựng, củng cố vững chắc lòng tin và quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao. Giáo dục nâng cao lòng yêu nưốc, truyền thông của dân tộc, của Đảng, của quân đội, của cơ quan, đơn vị. Đây chính là nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần nuôi dưỡng tình cảm, lòng tin, ý chí, thúc đẩy mọi người quyết tâm vượt qua mọi khó khàn, thử thách, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cách mạng, ý thức tổ chức, kỷ luật cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, đẩy lùi mọi biểu hiện của đạo đức, lối sống thực dụng, hưởng lạc, đề cao chủ nghĩa cá nhân, xa rời những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của Đảng. Thường xuyên giáo dục nâng cao trình độ văn hóa, khoa học - công nghệ hiện đại, nâng cao đời sống văn hóa - tinh thần cho Nhân dân, tẩy trừ sản phẩm văn hóa xấu độc, phản động. Tích cực bồi dưỡng cán bộ, đảng viên nâng cao năng lực đấu tranh chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng thông qua việc trang bị những kiến thức về lý luận, ván hóa, khoa học - công nghệ, chuyên môn nghiệp vụ.

Thường xuyên giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho mọi người dân nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, tính chất nham hiểm, thâm độc, lừa mị che đậy, ẩn giấu đằng sau những cái gọi là “viện trợ kinh tế”, “cứu trợ nhân đạo”, tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, đa nguyên chính trị, lợi dụng những sơ hở của ta trong quản lý đất nước để xuyên tạc, bôi nhọ thanh danh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, uy tín của Đảng, Nhà nước ta, bài xích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.

Giáo dục nâng cao nhận thức của mọi người dân, trước hết là cán bộ, đảng viên về nội dung mới, điểu kiện mới, hình thức mới của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giữa hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và hệ tư tưởng tư sản; giúp họ nhận thức rõ xu hướng hợp tác quốc tế, đối tượng, đối tác của nước ta hiện nay, cùng nhau hợp tác, phát triển và giữ gìn hòa bình.

Về quy mô, hình thức, tốc độ của “diến biến hòa bình” chống phá Việt Nam

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ mở rộng quy mô thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên tất cả các lĩnh vực: chính trị - xã hội, kinh tế, tư tưởng - văn hóa, quốc phòng - an ninh. Chúng sẽ thực hiện các hình thức tinh vi hơn, kết hợp giữa công khai với ngấm ngầm, giữa mềm dẻo, khôn khéo với cứng rắn, trắng trợn; giữa diện rộng với chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhanh hơn.

- Trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng

Các thế lực thù địch sẽ tập trung chống phá mạnh vào nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ nhận Cương lĩnh, đường lối của Đảng, nhất là những vấn đề cơ bản trong Văn kiện Đại hội Đảng; nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực của Nhà nước; mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các thành tố trong hệ thống chính trị và nhân dân. Phổ biến rộng rãi hơn tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ. Tìm cách đẩy nhanh tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, nhất là số cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp trong Đảng và Nhà nước bằng nhiều hình thức. Chúng đẩy mạnh kích động, lôi kéo, tăng cường hỗ trợ tài chính cho các nhóm, bọn cơ hội chính trị tiến hành các hoạt động chông phá; đặc biệt, chúng đẩy mạnh việc móc nối, cài cắm người của chúng vào các cơ quan của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là các cơ quan trọng yếu, cơ mật của Đảng và Nhà nước, tích cực chỉ đạo việc hình thành phe nhóm, tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam.

- Trên lĩnh vực kinh tế

Các thế lực thù địch tăng cường chống phá đường lối kinh tế của Đảng; triệt để lợi dụng hình thức quan hệ kinh tế, thương mại; sử dụng các công cụ kinh tế và thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế để chi phối, kiểm soát, khống chế, chuyển hóa với tốc độ nhanh nền kinh tế Việt Nam hiện nay thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa; đồng thời tìm cách chi phối quá trình cổ phần hóa để lái các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng tư nhân hóa.

- Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội

Các thế lực thù địch sẽ tăng cường lợi dụng mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế để thực hiện các hình thức tuyên truyền, quảng bá, phổ biến những chuẩn mực đạo đức, lối sống của phương Tây. Lợi dụng giao lưu, hợp tác về giáo dục - đào tạo để chuyển hóa tư tưởng, ý thức của một số trí thức, sinh viên, thế hệ trẻ, mang văn hóa phẩm đồi trụy, độc hại vào Việt Nam. Bằng hình thức xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo, nhân quyền của Đảng, kích động chia rẽ, ly khai, tạo ra nhiều “điểm nóng”, gây mâu thuẫn, xung đột xã hội.

- Về quốc phòng - an ninh

Các thế lực thù địch tiếp tục mở rộng chống phá đường lối quốc phòng - an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng; đẩy nhanh tốc độ “phi chính trị hóa” quân đội và công an; phá hoại mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước, Nhân dân với quân đội và công an; chia rẽ mối đoàn kết giữa quân đội với công an; tăng cường móc nối, cài cắm người vào quân đội và công an; xuyên tạc, gây căng thẳng, bất đồng, tranh chấp, xung đột chủ quyền biên giới, biển đảo với các nưóc láng giềng; tạo cớ can thiệp bằng quân sự.


Dự báo âm mưu, thủ đoạn mới của “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam trong những năm tới

Nhận định về sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị nước ta. Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”.

Trong những năm tới, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với Việt Nam. Trong quá trình đó, chúng luôn thay đổi âm mưu, thủ đoạn chuyển hóa chế độ ở Việt Nam. Những âm mưu, thủ đoạn mới của chúng được thể hiện trên những vấn đề sau:

Thực hiện điều chỉnh theo hướng tăng cường quan hệ hợp tác với ta về nhiều mặt, giảm tối đa và không đi sâu vào các vấn đề, các lĩnh vực tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ giữa các bên. Thông qua mở rộng quan hệ và đi vào chiều sâu trên các lĩnh vực chủ yếu: chính trị - xã hội, kinh tế - đối ngoại, tư tưởng - văn hóa, quốc phòng - an ninh để thâm nhập sâu hơn, thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên mọi lĩnh vực, ở mọi đối tượng người dân Việt Nam. Đây là sự chuyển hướng quan trọng của các thế lực thù địch trong thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, và chỉ bằng cách đó thì chúng mới có điều kiện, môi trường, cơ hội để thực hiện kịch bản “dân chủ” ở Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, để chuyển hóa được chế độ cộng sản Việt Nam, nhất thiết phải tạo cho được “khoảng trống” về ý thức hệ, phải phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấp vào “khoảng trống” đó là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản.

Trong chiến lược tăng cường hợp tác toàn diện với Việt Nam, các thế lực thù địch thực hiện “lộ trình dân chủ toàn diện” theo ba giai đoạn là: 1) Thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam, từ đó làm cho nền kinh tế Việt Nam từng bước chệch hướng xã hội chủ nghĩa; 2) Tạo môi trường và điều kiện để hình thành “xã hội dân sự” và các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện nhiều hơn, nhất là ở các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước. Các tổ chức đối lập này hoạt động công khai, làm cho Đảng và Nhà nước không kiểm soát được tình hình, từ đó tạo tình thế thay đổi, buộc Đảng Cộng sản hoặc phải chấp nhận “dân chủ” hoặc tan vỡ do đột biến chính trị - xã hội; 3) Thực hiện “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng và đảng viên ra khỏi quần chúng để có điều kiện  tạo áp lực, lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Một trong những thủ đoạn mới được các thế lực thù địch tập trung thực hiện “diễn biến hòa bình” thời gian tới là sẽ tăng cường hướng lái các hoạt động ngoại giao của Việt Nam. Thông qua ngoại giao chính thức để tiếp cận nhiều hơn, sâu hơn, thực hiện “chuyển hóa” Việt Nam từ bên trên, nhất là thực hiện hỗ trợ cho những người được coi là “có tư tưởng thân phương Tây”, từ đó tạo những đột biến trong “tự chuyển hóa”. Thực hiện ý đồ này, các thế lực thù địch sẽ đẩy mạnh hơn nữa những hoạt động đối ngoại với các hình thức giao lưu, trao đổi, tiếp xúc trong nhiều lĩnh vực để quảng bá hình ảnh “ngoại giao thân thiện” của phương Tây, cũng qua các hình thức này thực hiện tiếp cận sâu hơn, xâm nhập ngầm bằng các thủ đoạn tình báo để “chuyển hóa” Việt Nam.

Cùng với việc điểu chỉnh trong quan hệ với Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ đẩy mạnh những hoạt động móc nối, xâm nhập, tác động vào tiến trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Việt Nam mạnh mẽ hơn. Trong đánh giá của các thế lực thù địch, thì lực lượng ngầm trong nội bộ của Đảng, Nhà nước Việt Nam là lực lượng có tính chất quyết định, nòng cốt cho việc chuyển hóa, thúc đẩy “tự diễn biến” trong nội bộ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng cho rằng, để đẩy mạnh “chuyển hóa” nội bộ của Việt Nam phải thực hiện thông qua xây dựng lực lượng đối lập ngay trong Đảng và chính quyển mà trước hết nhằm vào Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, hình thành lực lượng mới có tư tưởng thân phương Tây, nhất là tập trung tạo ra những phe, nhóm trong nội bộ, từng bước phá vỡ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam và phát triển được lực lượng đối lập. Cơ hội để thực hiện việc gieo “mầm mống dân chủ”, cài cắm lực lượng đối lập này sẽ là dịp chuẩn bị nhân sự của các kỳ đại hội của Đảng.

Một hướng mới được các thế lực thù địch tăng cường đầu tư là tranh thủ, lôi kéo, mua chuộc một số cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu, trong đó có cả các tướng lĩnh quân đội, những cán bộ bị kỷ luật, bất mãn với chế độ để thực hiện các hoạt động chống Đảng, núp dưới chiêu bài “góp ý với Đảng”, “trang thư ý kiến”, “thư ngỏ”, “tham gia đấu tranh chống tệ tham nhũng, quan liêu”, thổi phồng những khuyết điểm, hạn chế, những khó khăn của đất nước trong các giai đoạn trước đây, những thiếu thốn, thiệt thòi về lợi ích so với đội ngũ cán bộ đương chức để kích động gây bức xúc tâm lý và nảy sinh tư tưởng chông Đảng của họ, đẩy mạnh lôi kéo họ ủng hộ việc thay đổi chế độ, thực hiện cái gọi là “dân chủ hóa đời sống xã hội”, “khôi phục lại danh dự cá nhân”... Tăng cường kích động và lợi dụng một bộ phận cán bộ nghỉ hưu, thương binh, bệnh binh làm lực lượng xung kích, lôi kéo, tổ chức quần chúng khiếu kiện tập thể, chống đốì chính quyến, tạo ra những bức xúc, mâu thuẫn trong xã hội và mâu thuẫn giữa đội ngũ cán bộ đã nghỉ hưu với chính quyền nhà nước, thực hiện gây rối, mất ổn định chính trị ở địa phương, gây trở ngại cho việc triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, từng bước tạo điều kiện cho biểu tình, bạo loạn chính trị, “cách mạng đường phố”. Đồng thời tìm kiếm, lựa chọn, xây dựng lực lượng chốhg phá ngay trong hàng ngũ cán bộ cách mạng; tích cực hỗ trợ, chỉ đạo lực lượng phản động, chống đối chính trị trong và ngoài nước tăng cường chống phá Việt Nam, nhất là dịp lấy ý kiến góp ý các văn kiện trình Đại hội Đảng; hỗ trợ xây dựng, phát triển các tổ chức, đảng phái chính trị đối lập vối Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng ở Việt Nam một chế độ thân phương Tây, lệ thuộc vào phương Tây.

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ chú trọng đẩy mạnh xâm nhập, tác động nhằm chuyển hướng hoạt động của báo chí, truyền thông vào thực hiện ý đồ chuyển hóa Việt Nam. Đây là lĩnh vực khó kiểm soát, kiểm duyệt nhất đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Các thế lực thù địch cho rằng để đẩy nhanh quá trình “dân chủ hóa” Việt Nam, nhất thiết phải thực hiện “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam và “dân chủ hóa” trong báo chí, truyền thông và toàn xã hội. Đây là hai vấn để chi phối, hỗ trợ nhau để thúc đẩy “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ nhanh hơn, hiệu quả hơn. Thực hiện “dân chủ hóa” truyền thông, thực chất là đưa “dân chủ” vào trong truyền thông của Nhà nước, đồng thời thúc đẩy hệ thống truyền thông phi chính thông phát triển. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng việc Đảng ta tổ chức đại hội các cấp, và việc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên để xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng, đả kích, phá hoại nội bộ Đảng, ra sức khai thác những khuyết điểm, yếu kém trên các lĩnh vực để bôi nhọ, hạ uy tín, làm giảm lòng tin của quần chúng với Đảng, gây mâu thuẫn, chia rẽ giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước. Hòng thực hiện âm mưu xảo quyệt này, các thế lực thù địch triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại với một khối lượng lốn các đài phát thanh, các loại sách, báo chí, các phương tiện thông tin tuyên truyền khác của phương Tây, của bọn phản động người Việt lưu vong, lợi dụng truyền thông trong nước; triệt để sử dụng các trang mạng xã hội để tạo dư luận và kích động đòi quyền “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận”, đòi lập báo chí tư nhân; lái báo chí, truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước, hoạt động theo ý đồ của các thế lực thù địch.

Một thủ đoạn mối được các thế lực thù địch sử dụng phổ biến là lợi dụng sức ép từ nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trước hành động vi phạm, gây hấn của nước ngoài trên biển Đông và quan hệ căng thẳng, phức tạp, có tính chất lâu dài giữa Việt Nam và các nước đang tranh chấp trên biển Đông. Trong lúc Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên quyết, kiên trì con đường đấu tranh hòa bình để giữ vững chủ quyền quốc gia, thì các thế lực thù địch, một mặt kích động các lực lượng chống đối lên tiếng phê phán với những luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là nô lệ của Trung Quốc”, mặt khác thông qua tăng cường quan hệ, tiếp xúc, “hỗ trợ” giải quyết tranh chấp biển, đảo để chúng “ve vãn”, lôi kéo hòng tạo liên minh. Qua đó, đưa Việt Nam vào quỹ đạo và chịu sự chi phối của chúng.

Các thế lực thù địch sẽ đẩy mạnh lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Vì vậy, hệ thống truyền thông của ta cần có nhiều biện pháp tuyên truyền, đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình dân chủ, nhân quyền, dân tộc và tự do tôn giáo, vu cáo Việt Nam thiếu dân chủ, vi phạm nhân quyền, không có tự do tôn giáo, đối xử không công bằng với người dân tộc thiểu số; vạch mặt bọn hô hào đòi “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyển”, tự do tôn giáo... và đòi thành lập các tổ chức “dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo” kiểu phương Tây, làm mất ổn định chính trị, xã hội.

Các thế lực thù địch sẽ gia tăng thúc đẩy việc hình thành “xã hội dân sự” ở Việt Nam để tạo “kênh phản biện” công khai chống lại đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là đường lối, chủ trương của Đảng đề ra. Mục tiêu của chúng là hình thành “xã hội dân sự”, thực hiện cái gọi là “dân chủ hóa” đất nước Việt Nam và hình thành các tổ chức đối trọng với Đảng, bộ máy chính quyền, ban đầu là thực hiện “giám sát” mọi hoạt động của Đảng, bộ máy của Nhà nước, dần từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng một xã hội dân chủ, tự do kiểu phương Tây.

Sưu tầm

Những quan điểm sai trái do các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mân gây ra

Một số đối tượng “lá mặt, lá trái” cơ hội chính trị, số phần tử bất mãn, cực đoan quá khích đang sống, làm việc thụ hưởng những thành quả cách mạng do Đảng và Nhân dân mang lại, nhưng lại bí mật cộng tác với những phần tử bất mãn, phản động nước ngoài để mưu cầu lợi ích cá nhân. Số đối tượng này tiếp nhận, tán phát tài liệu có nội dung xấu, móc nối viết bài nói xấu chế độ, chống phá Nhà nước Việt Nam. Những bài viết được tung lên mạng intenet có nội dung tán phát những quan điểm phản động, cực đoan chống Đảng, Nhà nước, kích động tụ tập đông người, biểu tình gây áp lực với chính quyền, đòi thả tự do cho số “tù nhân lương tâm”. Họ phản đối việc Việt Nam đăng cải tổ chức Hội nghị cấp cao APEC, phủ nhận sự thành công của Hội nghị, xuyên tạc bài diễn văn của Tổng thống Mỹ hòng gây chia rẽ quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.

Những biểu hiện cơ hội hữu khuynh ở nước ta hiện nay đã và đang xuất hiện trong bối cảnh đất nước vừa có thời cơ, vận hội lớn, vừa đứng trước nguy cơ, thách thức nghiêm trọng. Tư tưởng cơ hội hữu khuynh đó không chỉ được xây dựng trên một cơ sở lý luận xét lại nào đó, mà còn là sự cóp nhặt hỗn tạp giữa trào lưu triết học, xã hội học tư sản hiện đại, song lại chưa thoát được căn bệnh giáo điều đối với chủ nghĩa Mác - Lênin và mắc bệnh thực dụng. Điều này thể hiện thái độ và lối sống cơ hội nhằm trục lợi cả chính trị lẫn vật chất.

Một số quan điểm khác phủ nhận con đường phát triển đất nước theo hướng chủ nghĩa xã hội viện dẫn cơ sở lý luận, phương pháp luận mácxít về quá trình vận động của lịch sử như một dòng chảy lịch sử - tự nhiên. Những người cơ hội trước kia đã từng giáo điều trong việc nhận thức về sự thối nát, “giãy chết” của chủ nghĩa tư bản, thì bây giờ họ lại ấu trĩ cho rằng thế giới tư bản chủ nghĩa ngày nay toàn những nước tư bản có nền công nghệ phát triển cao, toàn những “con rồng”, “con hổ”; rằng con đường tư bản đưa dân tộc đến tương lai tươi sáng. Họ ngụy biện rằng không nhất thiết phải theo chủ nghĩa Mác - Lênin, xây dựng chủ nghĩa xã hội, không nhất thiết phải chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản thì đất nước mới phát triển. Từ đó vội vàng đi đến kết luận rằng chủ nghĩa xã hội chỉ là một lý thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực, nếu có thì chỉ mới có sự chứng thực của sự thất bại và đổ vỡ.

Họ tung ra luận điệu trong Đảng có “phe cải cách” và “phe bảo thủ”, có “nhóm lợi ích” từ lãnh đạo cấp cao và nhóm này chi phối toàn bộ các “nhóm lợi ích” ở cấp dưới. Họ cũng bịa đặt rằng “điều này cho thấy phe bảo thủ đã thành công trong việc đặt nặng sự ổn định chính trị trong nước trước cải cách. Thành phần thủ cựu trong Đảng Cộng sản lo ngại Nhà nước sẽ mất đặc quyền đặc lợi”. Họ tìm mọi cách bịa đặt, nói xấu cán bộ của Đảng và Nhà nước, xuất hiện nhiều cuốn nhật ký, hồi ký tài liệu tung ra những chuyện giật gân trong sinh hoạt của các nhà lãnh đạo, đề cao người này, hạ thấp người kia, kích động, chia rẽ lãnh đạo cao cấp của Đảng, gây nghi ngò hòng mong chia rẽ Nhân dân với Đảng.

Các đối tượng phủ định đường lốì, chính sách của Đảng và Nhà nước, công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục phát triển kinh tế quốc doanh với những lý sự, như “kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội không thể hòa nhập được”; “kinh tế thị trường là kinh tế tư bản chủ nghĩa, do thời cuộc và do cuộc sống bắt buộc, chính quyền Việt Nam phải chọn sống chung với con hổ yêu tinh hiện đại này, thể nào sớm hay muộn cũng bị nó ăn thịt”; thực hiện đường lối mở cửa, phát triển kinh tế thị trường là chế độ cộng sản Việt Nam đã uống liều thuốc đắng, kinh tế nhà nước là ung nhọt, là “sân sau” của những “nhóm lợi ích” cấp cao, là những tổ mối đục khoét của cải của đất nưóc.

Bôi nhọ lịch sử chính là một thủ đoạn mới của các đối tượng phản động nhằm phá hoại về tư tưởng, làm mất lòng tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ. Tất cả các mũi tấn công trên đều nhằm vào phát triển mầm mống các nhân tố chống chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy sự hình thành “xã hội dân sự” dưới tác động của hàng hóa, nguồn vốn phương Tây, hình thành tâm lý sùng bái đồng đôla, lôi kéo thêm lực lượng cán bộ, đảng viên có quan điểm sai trái, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân để lấn át kinh tế nhà nưóc.

Tiếp tục phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, gần đây họ tung lên luận điệu “No Ho” hòng phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc công lao, sự nghiệp vĩ đại của Bác. Thâm độc hơn, họ tung ra luận điệu hòng tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác - Lênin. Họ ngụy biện rằng, bây giờ học thuyết Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Từ đó họ lại ám chỉ “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa dân tộc”. Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm, vì như vậy sẽ làm suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là từ phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh.

Họ còn nói chế độ một đảng là không dân chủ, đòi đảng cộng sản đang cầm quyền phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình. Một số phần tử cho rằng thích ứng với nền kinh tế đa sở hữu thì nền chính trị không thể nhất nguyên được, không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất. Do vậy theo họ, dân chủ phải đi liền với đa nguyên về chính trị. Không ít những lời gièm pha, chỉ trích rằng dân chủ của ta là nửa vời, chưa mở ra đã khép lại... Có người nói cách làm của chúng ta là non gan, yếu bóng vía, không dám mở bung dân chủ hết cỡ, không dám thực hiện dân chủ công khai, không giới hạn.

Sưu tầm

CÁC NỮ DU KÍCH BẮN RƠI MÁY BAY MỸ BẰNG SÚNG BỘ BINH KHIẾN THẾ GIỚI SỬNG SỐT


Sự kiện 14 cô gái lần đầu tiên bắn rơi máy bay bằng súng bộ binh nhanh chóng thu hút sự quan tâm của truyền thông quốc tế. Đoàn báo chí các nước đã phỏng vấn, trong đó có cả phóng viên của Mỹ.


Các "O du kích" bắn rơi 3 máy bay Mỹ


Chiến tranh đã lùi xa, 14 cô gái thuộc Trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa năm xưa nay chỉ còn 11 người. 6 người sinh sống xa quê, 5 người đang ở tại thôn Hoa Trung, xã Hoa Lộc.


Những cô gái đôi mươi năm ấy, giờ đã ở tuổi "thất thập cổ lai hy", trở thành các bà, các cụ. Nhưng họ vẫn nhớ như in những ngày tháng đánh giặc gian khổ mà hào hùng ở trận địa Đông Ngàn, xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc.


Giai đoạn 1965-1967, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam. Chúng leo thang đánh phá miền Bắc bằng hải quân và không quân. Địch bắn phá nhà cửa, làng mạc, kho thóc và một số tuyến đường vận chuyển huyết mạch của ta như kênh De (Hậu Lộc), phà Thắm (Nga Sơn), cầu Lèn (Hà Trung), đường 5 (nay là đường 10, thuộc huyện Hậu Lộc)…


Trước tình hình đó, nhận lệnh cấp trên, ngày 1/6/1967, tại cánh đồng Đông Ngàn, xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc, Trung đội nữ dân quân gái Hoa Lộc được thành lập gồm 14 cô gái ở độ tuổi 18, đôi mươi.


Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, họ đã viết "Quyết tâm thư", với lý tưởng "Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh" rồi rời ghế nhà trường, cầm súng bảo vệ quê hương. Trung đội được giao 3 khẩu súng bộ binh để bảo vệ bầu trời, kho thóc và tuyến đường sông, đường biển quan trọng từ Bắc vào Nam.


Nhớ lại những tháng ngày vượt khó, bám chốt trực chiến, bà Hoàng Thị Mợi (76 tuổi), Trung đội trưởng Trung đội dân quân gái Hoa Lộc, cho biết chưa đầy một tuần tập huấn, ngày 16/6/1967, không quân Mỹ điều 4 chiếc A4D thả 6 quả bom xuống khu vực phà Thắm.


Khi chúng tiến lên đánh kênh De (huyện Hậu Lộc), Trung đội dân quân gái Hoa Lộc đã kịp thời vào vị trí chiến đấu, đồng loạt khai hỏa, nã 21 viên đạn về phía máy bay địch. Thấy chiếc máy bay bốc cháy nghi ngút, tốp còn lại quay đầu ra biển.


"Chúng tôi không nghĩ đã bắn rơi máy bay. Tối đến, Đài tiếng nói Việt Nam phát tin: Từ đài quan sát của ta ở đảo Nẹ, Trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc đã hạ gục chiếc máy bay A4D. Nghe đến đây, chúng tôi mừng lắm, ôm chặt lấy nhau", bà Mợi hồi tưởng.


Sau lần bắn rơi máy bay này, 14 cô gái được Bác Hồ gửi thư khen, tặng mỗi thành viên một huy hiệu của Người. Trung đội cũng được trang bị thêm 3 khẩu súng phòng không 14,5 ly.


Ngày 2/11/1967, địch ném bom khu vực kênh De, Trung đội dân quân gái Hoa Lộc đã bắn rơi chiếc F4. Đây là chiếc thứ 2 do Trung đội dân quân gái Hoa Lộc bắn hạ. Sau đó, Mỹ giảm tấn công ra miền Bắc. Thời gian này, chị em vừa trực chiến vừa tham gia sản xuất, nuôi lợn, trồng lúa.


Năm 1972, Mỹ thực hiện kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh" điên cuồng cho máy bay ném bom đánh phá miền Bắc lần thứ 2.


"Ngày 30/7/1972, địch dùng máy bay tấn công ồ ạt. Nhận lệnh, chúng tôi vào vị trí chiến đấu. Đến 16h cùng ngày, 14 chị em đã bắn rơi chiếc máy bay của Mỹ", bà Mợi tự hào kể.


Với những thành tích đạt được trong chiến đấu và lao động sản xuất, Trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba; Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì. Ngày 3/9/1973, Trung đội vinh dự được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Lời hẹn sau hòa bình của phóng viên Mỹ


Sự kiện hiếm có về 14 cô gái lần đầu tiên bắn rơi máy bay bằng súng bộ binh (loại vũ khí được thiết kế cho các chiến sĩ bộ binh, dân quân tự vệ chiến đấu trên mặt đất). Đây là loại vũ khí có sức sát thương cao. nhanh chóng thu hút sự quan tâm của truyền thông quốc tế. Đoàn báo chí các nước đã phỏng vấn, trong đó có cả phóng viên của Mỹ.


"Một phóng viên hỏi "các chị nhỏ bé và không sợ chết hay sao lại cầm súng chiến đấu"? Tôi trả lời dứt khoát "chúng tôi không sợ chết". Thanh xuân chỉ có một lần, phải cống hiến sức lực cho Tổ quốc. Khi đất nước bị xâm lăng, phải đánh, không đánh là mất nước", bà Mợi kể bằng giọng kiên định.


Theo Trung đội trưởng Trung đội dân quân gái Hoa Lộc, ngày ấy nghèo, đói, các chị em ăn khoai, sắn để chiến đấu. Nhiều đoàn báo chí về thăm, Trung đội mang khoai ra trận địa luộc đãi khách.


"Trong một lần dùng khoai luộc mời phóng viên ăn, một phóng viên Mỹ, nói: "Rất buồn khi đế quốc của chúng tôi ném bom xuống Việt Nam. Sau này hòa bình, tôi sẽ trở lại Việt Nam thăm các chị...". Dù chưa có dịp gặp lại, lời hứa ấy vẫn in đậm trong ký ức của tôi", bà Mợi kể.


Được báo chí đưa tin, 14 cô gái trong đội dân quân xã Hoa Lộc đã trở thành "biểu tượng sống" trong phong trào toàn dân đánh giặc. Hưởng ứng "Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào thi đua sản xuất, chiến đấu giỏi lan rộng khắp mọi miền.


Biết tin những "bông hồng thép" anh dũng bắn rơi máy bay, các chiến sỹ ở tiền tuyến đã gửi thư về động viên, hỏi thăm. "Nhận được thư, lời nhắn của các anh, chị em, chúng tôi như được tiếp thêm sức mạnh. Chúng tôi hứa với nhau, chỉ yêu, lấy bộ đội. Thế rồi cả 14 chị em đều nên duyên với bộ đội", bà Mợi vui vẻ chia sẻ.


Nữ du kích Việt khiến hội trường quốc tế vỗ tay không ngớt


Sau chiến công vang dội ở trận địa Đông Ngàn, "O du kích" Hoàng Thị Mợi được sang các quốc gia như Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Chile,… tuyên truyền về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Bà cùng đoàn tuyên truyền mong muốn thế giới ủng hộ Việt Nam, phản đối cuộc xâm lược phi nghĩa của đế quốc Mỹ.


Bà Trịnh Thị Cần (78 tuổi), Trung đội phó Trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc, kể: "Tại Liên Xô năm 1968, phóng viên đã hỏi tôi "Làm thế nào mà phụ nữ Việt Nam có thể bắn rơi được máy bay?".


Tôi tự hào trả lời: Tinh thần chống giặc ngoại xâm khiến những người phụ nữ chân yếu, tay mềm bắn rơi máy bay. Ở Việt Nam, việc hạ gục máy bay là bình thường, ai cũng có thể bắn rơi nó. Tôi vừa dứt lời, hội trường dậy lên tràng pháo tay, đầy cảm phục".


Năm 1971, Đoàn thanh niên Dân chủ thế giới cử một phái đoàn quốc tế sang thăm Việt Nam nhằm thể hiện sự đoàn kết, ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Nhân chuyến thăm, phái đoàn quốc tế đến giao lưu với Trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc.


"Đến thăm trận địa Đông Ngàn, một lãnh đạo trong đoàn yêu cầu tôi thực hiện việc ngắm bắn ở cự ly gần, xa,… Thực hiện xong, họ khen phụ nữ Việt Nam giỏi, rồi đến bắt tay và mời tôi đi dự mít tinh ở Chile", xạ thủ Nguyễn Thị Thứ (78 tuổi) kể lại.


Tại Chile, Đoàn thanh niên Dân chủ thế giới đã thông qua chiến dịch toàn cầu mang tên "Thanh niên tố cáo chủ nghĩa đế quốc" để phản đối hành động can thiệp, xâm lược của thế lực đế quốc, đặc biệt là Mỹ, đối với các quốc gia đang đấu tranh giành độc lập, chủ quyền.


"Trưa 30/4/1975, nhận tin đất nước hoàn toàn giải phóng, chị em chúng tôi phấn khởi lắm. Trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc tự hào khi góp một phần sức lực của mình, đưa đất nước đến ngày thống nhất", bà Thứ chia sẻ./. 


ST

"KHI ĐẢNG CẦN, CHÚNG TÔI SẴN SÀNG HY SINH" - TINH THẦN BẤT DIỆT CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG

 

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” - lời hiệu triệu bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là khẩu hiệu cách mạng mà còn là lời thề thiêng liêng của triệu trái tim người Việt Nam.


Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, đặc biệt là dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có biết bao con người - không phân biệt tuổi tác, tầng lớp, vùng miền - sẵn sàng dâng hiến cả tuổi thanh xuân, thậm chí là tính mạng của mình, vì lý tưởng cao đẹp ấy. Họ không chỉ chiến đấu với quân thù, mà còn chiến đấu với cả sự sợ hãi, với cái chết, bằng lòng dũng cảm và niềm tin sắt son vào Đảng, vào dân tộc. Và chính từ mạch nguồn thiêng liêng ấy, đã hình thành một lời hứa bất diệt: “Khi Đảng cần, chúng tôi sẵn sàng hy sinh”.


Sẵn sàng hy sinh - một di sản tinh thần cần được kế thừa


Tự nguyện bước vào con đường cách mạng là tự nguyện chấp nhận gian khổ, kể cả cái chết. Đối với những người cộng sản chân chính, hy sinh không phải là mất mát vô nghĩa, mà là sự dâng hiến trọn vẹn vì một mục tiêu cao cả - vì sự nghiệp độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là phẩm chất đặc biệt, là biểu hiện cao nhất của lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc.


Không phải ngẫu nhiên mà suốt gần một thế kỷ qua, từ những ngày đầu Đảng mới ra đời trong gian khổ, cho đến các cuộc kháng chiến trường kỳ, rồi đến thời kỳ đổi mới và hội nhập, tinh thần “Khi Đảng cần, chúng tôi sẵn sàng hy sinh” vẫn luôn là phương châm sống, chiến đấu và cống hiến của nhiều thế hệ người Việt Nam. Đó không chỉ là sự lựa chọn, mà là một sứ mệnh thiêng liêng mà mỗi người chiến sĩ cộng sản mang trên vai.


Tinh thần sẵn sàng hy sinh ấy không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của quá trình rèn luyện lý tưởng, phẩm chất và bản lĩnh qua thực tiễn cách mạng. Đó là kết tinh của lòng yêu nước, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, được soi rọi bởi ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, được tổ chức và dẫn dắt bởi Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống để bảo vệ nền độc lập, tự do mà Đảng và Bác Hồ đã dày công vun đắp. Sự hy sinh của họ là những trang sử vàng chói lọi, là minh chứng hùng hồn cho tinh thần “sẵn sàng chết vì Đảng, vì nước, vì dân”.


Ai có thể quên được hình ảnh anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu - người con gái đất đỏ kiên trung, tuổi mười chín bước ra pháp trường với nụ cười hiên ngang, không một lời sợ hãi? Sự hy sinh của chị không phải là kết thúc, mà là khởi đầu cho bao thế hệ thanh niên tiếp bước lý tưởng cách mạng. Hay hình ảnh anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, người chiến sĩ biệt động Sài Gòn, khi ra pháp trường vẫn hô to “Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”. Sự bất khuất ấy là lời tuyên ngôn sống động cho niềm tin sắt đá vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng dẫn dắt.


Và còn biết bao cái tên đã trở thành bất tử: Tô Vĩnh Diện lấy thân bảo vệ pháo, Phan Đình Giót mang thân mình lấp lỗ châu mai, Bế Văn Đàn dùng thân mình làm giá súng, 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc, giữa mưa bom B-52, vẫn bám trụ mặt trận giao thông, không một ai lùi bước, để rồi tất cả cùng hóa thành bất tử trong lòng quê hương...


Mỗi người, mỗi câu chuyện là một bản anh hùng ca, một sự lựa chọn dũng cảm không toan tính. Những con người ấy không chỉ là nhân vật lịch sử. Họ là chứng nhân của một thời đại lý tưởng, là chuẩn mực đạo đức của một thế hệ, là thước đo lòng dũng cảm của cả dân tộc. Họ đã thực hiện trọn vẹn lời thề: Khi Đảng cần - họ đã không ngần ngại hiến dâng cả cuộc đời.


Thời bình không phải là không có hy sinh. Chỉ là những hy sinh ấy lặng lẽ hơn, thầm lặng hơn. Trong dòng chảy hiện đại hôm nay, tinh thần “sẵn sàng hy sinh khi Đảng cần” vẫn cháy âm ỉ trong trái tim của biết bao người chiến sĩ, cán bộ, nhân viên nơi tuyến đầu thầm lặng.


Chúng ta không thể quên vụ sạt lở đất ở Thủy điện Rào Trăng 3 năm 2020, nơi 13 cán bộ, sĩ quan, trong đó có Thiếu tướng Nguyễn Văn Man (khi ấy là Phó tư lệnh Quân khu 4) đã mãi mãi nằm lại giữa núi rừng lúc đang làm nhiệm vụ cứu hộ. Họ không ngần ngại trước hiểm nguy, bởi với họ, nhân dân đang cần và đó là mệnh lệnh từ trái tim người lính. Họ ra đi để lại bao tiếc thương, nhưng cũng để lại bài học sống động về lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và sự tận hiến đến tận cùng.


Hay trong đại dịch Covid-19, hàng nghìn cán bộ y tế, Quân đội, Công an đã hy sinh sức khỏe, thậm chí tính mạng để bảo vệ sự sống của hàng triệu đồng bào. Có người gục ngã nơi bệnh viện dã chiến, có người đổ mồ hôi giữa khu cách ly… Họ không màng vinh quang, bởi với họ, “khi Đảng cần, chúng tôi phải có mặt”.


Những con người ấy - trong thời bình - không cầm súng ra trận, nhưng lại là chiến sĩ trên mặt trận đời sống, thiên tai, dịch bệnh và an ninh xã hội. Họ là minh chứng hùng hồn cho chân lý: Sự hy sinh không chỉ là của quá khứ mà còn là trách nhiệm thiêng liêng của hiện tại.


Hãy sống xứng đáng với những hy sinh


Điều gì đã tạo nên một lớp người sẵn sàng đối mặt với cái chết bằng nụ cười? Đó là lý tưởng cao đẹp, là sự rèn luyện dưới ngọn cờ của Đảng, là niềm tin tuyệt đối vào chính nghĩa, vào tương lai dân tộc. Đảng không chỉ là tổ chức chính trị, mà còn là ngọn đèn soi sáng con đường của những người dấn thân. Chính Đảng đã tạo nên một thế hệ biết sống cho lý tưởng, biết chết vì nhân dân. Và chính từ những trang sử ấy, chúng ta mới hiểu rằng: Sức mạnh của một dân tộc không chỉ đến từ vũ khí, mà đến từ tinh thần - từ những trái tim biết yêu thương và hy sinh.


Ngày nay, trước những biến động khó lường của thời đại - chiến tranh công nghệ, thông tin nhiễu loạn, sự suy giảm niềm tin - thì tinh thần ấy càng cần được nuôi dưỡng, lan tỏa. Giới trẻ hôm nay cần được tiếp thêm lửa từ những ngọn lửa không bao giờ tắt. Những tấm gương hy sinh ấy cần được kể lại bằng ngôn ngữ của trái tim, chứ không chỉ là bài học khô cứng trên giảng đường. Bởi vì, đất nước không chỉ cần những người giỏi, mà còn cần những người có lý tưởng. Không chỉ cần những người sống tốt cho bản thân, mà còn biết sống cho Tổ quốc. Khi Đảng cần - dù ở lĩnh vực nào, hoàn cảnh nào - vẫn sẽ có những người sẵn sàng đi trước, nhận phần khó về mình.


Chúng ta đang sống trong hòa bình, độc lập - thành quả của bao máu xương lớp trước. Nhưng hơn thế, chúng ta đang thừa hưởng một di sản tinh thần vô giá: Tinh thần sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì Đảng, vì nhân dân. Hôm nay, mỗi chúng ta - dù là cán bộ, đảng viên, hay người dân bình thường - đều có thể tự hỏi mình: Khi Tổ quốc cần, khi nhân dân cần, khi Đảng cần - ta đã sẵn sàng chưa?


Hy sinh trong thời đại mới, đôi khi, chỉ là từ bỏ lợi ích cá nhân vì cộng đồng; là đấu tranh với cái sai, cái xấu; là dấn thân vào nơi khó khăn, gian khổ; là sống tử tế, trung thực và cống hiến - thầm lặng nhưng thiết thực... Và khi lý tưởng sống ấy được lan tỏa, khi hàng triệu người cùng mang trong tim lời thề "sẵn sàng hy sinh", thì dân tộc này - dù trong bất cứ hoàn cảnh nào - cũng sẽ vững bước dưới cờ Đảng, tiến về tương lai bằng lòng kiên cường và ánh sáng của niềm 

ST

3 ĐIỀU VĨ ĐẠI TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ 


Có 3 điều kỳ vĩ được thực hiện bằng sức người mà chúng ta đã làm ngỡ ngàng quân địch tại Điện Biên Phủ. 

  Một là đưa những khẩu pháo hạng nặng đến đỉnh những ngọn đồi, điểm cao bao quanh cứ điểm này. 

  Hai là việc vận chuyển lương thực bằng xe thồ lên trận địa. 

  Và cuối cùng, đó là hơn 200km chiều dài hầm, hào, công sự được đào trong vòng hơn 2 tháng chiến dịch. Hơn 95% công việc được hình thành trên những chiếc xẻng quân dụng cá nhân. Và có hơn 50 chiến sĩ, dân quân, thanh niên xung phong đã hy sinh trong trong quá trình đào hầm, hào, công sự tại Điện Biên Phủ. 

Hãy nhớ rằng. tuyến cao tốc có chiều dài lớn nhất Việt Nam hiện tại cũng chỉ có chiều dài 170km.

ST

CHỦ NGHĨA MẪU QUỐC SẼ THẤT BẠI VÀ KHÔNG CÒN TỒN TẠI Ở CÁC CÁC QUỐC GIA CHÂU PHI.

 

Trong những vị khách mời đặc biệt của Nga có một người rất nổi tiếng đến từ châu Phi, đó là Đại úy Ibrahim Traore, người mà năm 2022 đã làm nên một "cuộc cách mạng" thoát khỏi chế độ quốc mẫu của cộng hòa Pháp hơn 100 năm. 


Máy bay thuộc đội bay IL 96 và chiến đấu cơ tàng hình SU-57 của Chính phủ Nga đã được Tổng thống Putin cử đến tận Burkina Faso để đón Đại úy Ibrahim Traore và đoàn tùy tùng sang tham dự Lễ duyệt binh kỷ niệm 80 năm ngày chiến thắng phatxit tại Quảng trường đỏ Moscow, Nga.


Nhiều chính trị gia quốc tế ngỡ ngàng trước sự kiện này và thừa nhận, đây là sự tôn trọng bình đẳng, một biểu tượng cao đẹp đúng nghĩa về ngoại giao của một nước lớn đối với một quốc gia chịu sự nghèo đói và bóc lột của các nước phương Tây.


Sự hiện diện của Đại úy Ibrahim Traore không chỉ mang tính nghi lễ mà còn là một tuyên bố địa chính trị táo bạo của Nga trước thế giới, rằng: mọi quốc gia đều có độc lập và bình đẳng, lợi ích mỗi bên đều phải trên tinh thần tôn trọng chứ không phải là quan hệ giữa "đại ca - mẫu quốc" với chư hầu, giữa thu thuế và đóng thuế, giữa trừng phạt - cấm vận với bị phạt và bị cấm đoán.


Đối với Châu Phi, sự kiện này báo hiệu một sự chấm dứt khỏi sự thống trị của phương Tây, đặc biệt là Pháp - quốc gia từ lâu đã thống trị nền kinh tế - chính trị của Burkina Faso bằng cách thu thuế thân, thuế khai thác tài nguyên, thuế bảo hộ quốc mẫu.... Châu Phi nói chung sẽ không còn thụ động trong các vấn đề toàn cầu nữa mà phải có sự giúp đỡ bình đẳng của cộng đồng quốc tế, trong đó có Nga để khẳng định vị thế của mình. Lập trường chống bá quyền của Nga tạo ra sự cân bằng chiến lược đối với áp lực của phương Tây. 


Nga đã chuyển hóa sự tranh giành của phương Tây bằng các lệnh trừng phạt và tuyên truyền của họ để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi các quốc gia châu Phi từ con đường thủ động, phụ thuộc, hèn yếu sang tự quyết định đối tác, lợi ích dân tộc mình theo hướng đa cực. 


Chuyến đi Moscow của Traoré cũng đã chứng minh rằng Châu Phi đã sẵn sàng để giành vị trí của mình trong trật tự thế giới mới. Khi đã tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình thì đồng nghĩa với sự thất bại của chủ nghĩa cường quyền phương Tây trong ý đồ thâu tóm thuộc địa, bá quyền và bóc lột. 


Thế giới văn minh, hòa bình thì mọi quốc gia sẽ bình đẳng trong quan hệ quốc tế, không ràng buộc bởi trừng phạt kinh tế, chính trị và ngoại giao như CNTB đang làm.../.

ST_