Thứ Ba, 3 tháng 6, 2025
TỈNH TÁO TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC SỰ ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG!
CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬT ĐIỆU XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH PHÒNG THỦ BIỂN, ĐẢO TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIV!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN ĐỘI TRONG KỶ NGUYÊN HỘI NHẬP VỚI PHONG TRÀO “BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ”!
Ảnh: Học viện Hải quân tổ chức tập huấn xây dựng học liệu số.
ĐÁNH GIÁ ĐÚNG CÁN BỘ LÀ NHÂN TỐ PHÁT HUY TINH NĂNG ĐỘNG
SÁNG TẠO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH THỜI KỲ MỚI
Ngày nay, thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành ngày càng rõ nét hơn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện, thậm chí đối đầu. Các điểm nóng về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng, tác động đến hòa bình, an ninh và phát triển trên thế giới. Xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Đối với nước ta, sau gần 40 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, những nguy cơ, thách thức đã dự báo, không những chưa được khắc phục mà còn phức tạp hơn…đặt ra những yêu cầu cao về nhận thức lý luận và phát huy vai trò của lý luận trong thời kỳ mới cho cán bộ, đảng viên. Cụ thể: Khi Đảng quan tâm tới chính sách cán bộ; đánh giá và sử dụng cán bộ. Hồ Chí Minh đã đề cập toàn diện tới các vấn đề có ý nghĩa là động lực phát huy vai trò lý luận trong hoạt động thực tiễn của cán bộ như: cất nhắc, lựa chọn sử dụng, bố trí cán bộ, giữ gìn, yêu thương cán bộ và có quan điểm xem xét đánh giá khoa học... Hiệu quả của việc dùng người phụ thuộc vào cách của người dùng, trong dùng người phải dùng người ngay thẳng, trung thực, có tài, tránh dùng những kẻ xu nịnh, bất tài. Khi sử dụng cán bộ phải hết sức chú ý khắc phục những yếu tố có tác động tiêu cực mà Người chỉ ra như: "Hiểu biết cán bộ; khéo dùng cán bộ; cất nhắc cán bộ; thương yêu cán bộ; phê bình cán bộ"[1]. Thương yêu cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: " Thương yêu là luôn luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp cho họ sửa chữa ngay....Phải vun đắp chí khí của họ, để đi đến chỗ "bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu". Lúc phê bình họ, ta chớ có thái độ gay gắt. Lúc khen ngợi họ, ta phải cho họ hiểu rằng: năng lực của mỗi người đều có giới hạn, tuy có thành công cũng chớ kiêu ngạo"[2].
VẬN DUNG LÝ LUẬN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THỰC TIẾN
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH THỜI KỲ MỚI
Theo Hồ Chí Minh, vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiên phải luôn luôn sáng tạo, không áp đặt một cách máy móc, giáo điều, đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận.
Vận dụng sáng tạo lý luận
trong hoạt động thực tiễn là biểu hiện tập trung nhất của việc phát huy vai trò
lý luận đối với hoạt động thực tiễn của cán bộ. Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi
cán bộ , đảng viên: Lý luận và thực tiễn là hai mặt của một quá trình thống nhất
biện chứng trong mọi lĩnh vực hoạt động của cán bộ, mọi sự tách rời hoặc tuyệt
đối hoá về lý luận hoặc thực tiễn đều dẫn tới sai lầm. Người viết: "Lý luận
cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là
lý luận suông. Dù xem dược hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem
ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách". Phát huy
vai trò lý luận đối với hoạt động thực tiễn của cán bộ chiến dịch, chiến lược thể
hiện ở nguyên tắc, phương pháp luận trong dẫn dắt, định hướng và những cơ sở
khoa học trong việc tìm kiếm phương pháp, cách thức tổ chức phù hợp. Đồng thời,
qua quá trình vận dụng vào thực tiễn, lý luận mới thường xuyên dược kiểm nghiệm,
bổ sung, phát triển, không bị lạc hậu: khi đó lý luận mới phát huy được chức
năng chỉ dạo thực tiễn: cho nên Hồ Chí Minh thường nhắc nhở phải ra sức thực
hành mới thành người biết lý luận.
Lý luận được phát huy
trong hoạt dộng thực tiễn của người cán bộ trước hết phải được thể hiện ở việc
lập kế hoạch. Bởi vì, làm việc có kế hoạch thể hiện sự năng động, sáng tạo của
con người trong vận dụng lý luận vào thực tiễn. Hồ Chí Minh phê phán làm việc
theo cách quan liêu "đóng cửa lại mà định kế hoạch, viết chương trình rồi
đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo". Người còn quả quyết rằng,
làm theo cách quan liêu đó thì dân oán, dân oán dù tạm thời may có chút thành
công, nhưng về mặt chính trị là thất bại. Trên cơ sở kế hoạch người cán bộ phải
căn cứ vào tình hình cụ thể, chủ động phát huy sức mạnh của tập thể để kế hoạch
được thực thi trên hiện thực. Hồ Chí Minh viết: "Người lãnh đạo trong địa
phương hoặc cơ quan đó phải xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc
chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc
nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn
nắp".
Tổng kết khái quát kinh
nghiệm, giải quyết tốt mối quan hệ kinh nghiệm với thực tiễn là vấn đề quan trọng
để phát huy vai trò lý luận trong hoạt động thực tiễn của cán bộ. Người khẳng định:
"Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ".
Người đã phân tích sâu sắc cách khái quát kinh nghiệm quần chúng thành những ý
kiến chung, thành những chỉ thị mới và phê phán thái độ không tích cực tổng kết,
khái quát kinh nghiệm, cho nên ý kiến người lãnh đạo, chỉ huy thành ra ý kiến
suông, không hợp với tình hình thực tế.
Cùng với sự vận dụng
sáng tạo lý luận vào thực tiễn. giải quyết tốt mối quan hệ lý luận và thực tiễn,
lý luận với kinh nghiệm, Hồ Chí Minh còn chỉ ra sự cần thiết phải chống "bệnh
chủ quan", 'bệnh hẹp hòi", "tri thức một nửa"... thông qua
đó để phát huy vai trò lý luận trong hoạt động thực tiễn của cán bộ./.
VAI TRÒ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THỰC TIẾN TRONG TÁC PHẨM "SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC" CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH THỜI KỲ MỚI
Tháng 10 - 1947, trong
bộn bề công việc của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, Hồ Chí Minh đã viết tác
phẩm: “Sửa đổi lối làm việc".
Đây là một tác phẩm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn đối với công tác xây
dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và là một
di sản vô giá đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bảy mươi bảy năm trôi qua, dưới
sự lãnh đạo của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn luyện, Nhân dân ta
đã giành được những thắng lợi to lớn. Sau gần 40 năm đổi mới đất nước phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa đã thu được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, thực tiễn cũng
đang đòi hỏi Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải tiếp tục sửa đổi lối làm việc.
Trong suốt cuộc đời hoạt
động cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của lý luận và luôn quan
tâm tới việc học tập lý luận của cán bộ. Những tư tưởng của Người về vai trò của
lý luận đối với hoạt động thực tiễn và về công tác “Huấn luyện lý luận” cho cán
bộ là di sản vô cùng quý giá của Đảng, của dân tộc ta. "Sửa đổi lối làm việc"
là một trong những tác phẩm lớn của Hồ Chí Minh đã cho chúng ta thấy rõ điều
này.
Trên cơ sở thấm nhuẩn
sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò lý luận cách mạng đối với
Đảng cách mạng và phong trào cách mạng, trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc",
Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá, sáng tạo những vấn đề lý luận, vai trò lý luận với
thực tiễn v.v... Người đi sâu chỉ rõ lý luận là gì? Đó là: "Lý luận là đem
thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so
sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với
thực tế. Đó là lý luận chân chính". Người chỉ rõ vai trò của
lý luận như thế nào ? "Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng
cho chúng ta trong công việc thực tế". "Lý luận chân chính" mà
Hồ Chí Minh đưa ra thực chất là lý luận khoa học có vai trò to lớn đối với thực
tiễn. Người viết: "Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi".
"Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc
cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý
mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại".
Xuất phát từ vai trò của
lý luận cách mạng với thực tiễn cách mạng, xuất phát từ những hạn chế, bất cập
về trình độ lý luận của đội ngũ cán bộ. Hồ Chí Minh đã chỉ ra tầm quan trọng và
tính cấp thiết phải nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ cán bộ và Người yêu cầu
mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận trong thực tế:
đồng thời, phải chữa các bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông. Đối
với cán bộ "mắc bệnh" kinh nghiệm Người nói: " Có
kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ".
Thực chất của tinh thần đó là mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ chiến dịch,
chiến lược nói riêng cần phải tích cực, chủ động nắm bắt yêu cầu của thực tiễn,
không ngừng phát huy vai trò của lý luận trong hoạt động thực tiễn của mình.
Thứ Hai, 2 tháng 6, 2025
Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quán triệt tinh thần thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí. Đặc biệt, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, kết luận về thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí.
Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21-8-2006, của Hội nghị Trung ương 3 khóa X, “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” nhận định, tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta; từ đó, Nghị quyết nhấn mạnh: “Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta”. Nghị quyết đã đề ra 10 giải pháp để phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Ngày 25-5-2012, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI ban hành Kết luận số 21-KL/TW, “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa X”. Nghị quyết khẳng định cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đồng bộ mục tiêu, quan điểm và các giải pháp được nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X, chú trọng cả phòng, chống tham nhũng và phòng, chống lãng phí, với tinh thần kiên quyết, kiên trì, liên tục, đúng pháp luật, sớm khắc phục hạn chế, yếu kém để tạo chuyển biến rõ rệt trong công tác này. Nghị quyết cũng đề ra sáu nhiệm vụ, giải pháp, trong đó nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cũng như cần tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế - xã hội để phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Xuất phát từ tình hình thực tế, ngày 21-12-2012, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 21-CT/TW “Về việc đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”, trong đó nêu rõ tình hình lãng phí vẫn còn xảy ra nghiêm trọng, gây bức xúc trong xã hội, nhất là trong bối cảnh kinh tế đất nước và đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Chỉ thị nêu lên 8 nhiệm vụ trọng tâm yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tập trung thực hiện.
Ngày 25-12-2023, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 27-CT/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”. Chỉ thị nhận định: Bên cạnh kết quả đạt được, nhận thức về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa sâu sắc, đầy đủ; có lúc, có nơi tổ chức chưa tốt, chấp hành chưa nghiêm; một số cơ quan, đơn vị, địa phương, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tình trạng lãng phí, thất thoát còn nhiều, một số trường hợp rất nghiêm trọng. Chính sách, pháp luật, nhất là chính sách, pháp luật về quản lý tài chính, tín dụng, tài sản công, đầu tư công, đất đai, đấu thầu... chưa hoàn thiện, còn bất cập. Việc thực hiện kết luận, kiến nghị của cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán liên quan đến vấn đề này còn chậm. Công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa được quan tâm đúng mức(9). Từ thực trạng ấy, Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị định hướng cấp ủy, tổ chức đảng nghiêm túc thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp và quán triệt tinh thần Chỉ thị đến từng chi bộ, đến từng cán bộ, đảng viên. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí... chưa có chuyển biến rõ rệt..., xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế... Tham nhũng, lãng phí... vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp... ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội”.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 1998; Quốc hội đã thông qua Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 và năm 2013. Điều 56, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhiều lần, trong các bài viết, bài nói chuyện, Người đã nhắc nhở cán bộ, đảng viên và nhân dân hết sức chú ý đến việc phòng, chống xa hoa, lãng phí, sử dụng hợp lý và hiệu quả tiền của, thời gian, công sức. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần, kiệm chính là phẩm chất của người cách mạng, đã là người cách mạng thì phải thường xuyên thực hành và nêu gương cần, kiệm, phòng, chống lãng phí. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ tiết kiệm là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Người cũng không tán đồng cách hiểu và thực hành tiết kiệm một cách cực đoan. Tiết kiệm không đồng nghĩa với keo kiệt, bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nống”, “gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu”. Người nêu rõ tầm quan trọng của việc tiết kiệm. Tiết kiệm thời gian, sức người, sức của, tập trung nguồn lực cho sản xuất thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy xã hội phát triển. Người người cùng tiết kiệm, nhà nhà cùng tiết kiệm thì sẽ tích lũy được của cải cho công cuộc kiến quốc, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Trái ngược với tiết kiệm là lãng phí. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích tác hại của thói lãng phí. Người chỉ rõ “Tham ô có hại; nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn: Nó tai hại hơn tham ô vì lãng phí rất phổ biến...”. Bởi vì tham ô có thể chỉ tập trung ở một số ít người, nhưng lãng phí thì rất phổ biến, ai cũng có nguy cơ mắc căn bệnh này, lãng phí của công và lãng phí của tư đều có khả năng làm suy giảm nguồn lực xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra nguồn gốc của lãng phí: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa”. “Lãng phí có nhiều nguyên nhân. Hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo. Hoặc vì trong khi thực hiện kế hoạch tính toán không cẩn thận. Hoặc vì bệnh hình thức, xa xỉ, phô trương. Hoặc vì thiếu tinh thần bảo vệ của công. Nói tóm lại là vì thiếu ý thức trách nhiệm, thiếu ý thức quý trọng sức của, sức người của Nhà nước và của nhân dân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ: “Phải quý trọng của công: Tất cả cái ăn, cái mặc, cái dùng của các cô, các chú là mồ hôi nước mắt của đồng bào. Phải tiết kiệm, giữ gìn, không được lãng phí”. Người cho rằng lãng phí là một thứ giặc mà chúng ta phải đương đầu, phải kiên quyết đấu tranh để loại bỏ. “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc ở trong lòng”. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Vì vậy, chiến sĩ và nhân dân phải hăng hái tham gia phong trào ấy”.
Không chỉ phê phán thói lãng phí, kêu gọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân tích cực, hăng hái thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về tu dưỡng đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Từ bữa ăn, tấm áo cho đến công việc của Đảng, của đất nước, Người luôn giản dị, tiết kiệm, khiêm nhường; một đời tận hiến, phụng sự cho Tổ quốc, cho nhân dân. Trong Di chúc (năm 1969), Người căn dặn: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”
Kiểm tra bắn súng kết thúc huấn luyện chiến sĩ mới tại sư đoàn 301 Bộ tư lệnh Thủ đô
Đạt 82 điểm-giành hoa bắn giỏi sau loạt bắn, chiến sĩ Nguyễn Văn Bách (Đại đội 2, Tiểu đoàn 4) hào hứng chia sẻ: "Để có được kết quả này, quá trình huấn luyện, tôi luôn nắm chắc yếu lĩnh, tích cực luyện tập. Nội dung nào chưa rõ, tôi đều hỏi chỉ huy và kịp thời rút kinh nghiệm sau từng lần tập. Ngoài ra, tôi còn chủ động mang theo sổ tay cá nhân để ghi chép nội dung quan trọng cần nhớ. Nhờ đó, tôi luôn nắm vững kiến thức, những điểm chú ý trong huấn luyện các nội dung”. Khác với chiến sĩ Nguyễn Văn Bách có sự tiến bộ và thể hiện năng khiếu ngay từ những buổi đầu luyện tập, chiến sĩ Phùng Anh Thái (Đại đội 1, Tiểu đoàn 4) lại “vạn sự khởi đầu nan”. Kết quả 3 lần bắn phân đoạn của Thái khá thấp. Sau nhiều lần được chỉ huy đơn vị rút kinh nghiệm, với quyết tâm cao, Thái luôn nghiêm túc trong huấn luyện, chủ động luyện tập thêm ngoài giờ. Nhờ đó, Thái đã giành hoa bắn giỏi trong đợt kiểm tra 3 tiếng nổ. Tâm sự với chúng tôi sau khi hoàn thành nội dung kiểm tra bắn súng, Thái phấn khởi cho biết: “Sau nhiều lần có kết quả bắn chưa tốt, tôi đã tự rút kinh nghiệm và chủ động hỏi chỉ huy, được các anh tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tập thêm, chia sẻ kinh nghiệm, rèn luyện về thể lực và tâm lý khi tiếp xúc với đạn thật. Nhờ đó, tôi đã tiến bộ hơn và hôm nay giành được hoa bắn giỏi". Càng về trưa, nắng càng gắt, các loạt đạn vẫn vang rền trên thao trường huấn luyện của Trung đoàn 692 và những bông hoa điểm mười cũng tiếp tục nở rộ. Trên gương mặt sạm đen vì nắng gió của các chiến sĩ luôn nở nụ cười tươi, khẳng định thành công của một mùa huấn luyện.
Cảnh giác và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về chính sách biển đảo của Việt Nam
Giải pháp đầu tiên và quan trọng nhất là nâng cao nhận thức chính trị và khả năng “đề kháng tư tưởng” của cán bộ, đảng viên và toàn dân. Theo đó, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, dễ hiểu và thường xuyên về các chủ trương, chính sách quốc phòng, đặc biệt là chiến lược quốc phòng “4 không” của Việt Nam. Giúp người dân hiểu rõ bản chất hòa bình, chính nghĩa, tự vệ của quốc phòng Việt Nam, từ đó tự tin, vững vàng trước các thông tin bịa đặt. Trang bị kiến thức pháp lý quốc tế về chủ quyền biển, đảo để làm cơ sở phản bác các quan điểm sai lệch về quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế.
Chủ động phản bác, ngăn chặn thông tin sai trái ngay từ khi mới xuất hiện trên không gian mạng. Thiết lập và vận hành hiệu quả các lực lượng đấu tranh trên không gian mạng. Sử dụng tiếng nói của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, cựu chiến binh, người từng công tác trong LLVT để phản bác bằng lý lẽ khoa học, dẫn chứng thực tế, góp phần tạo niềm tin vững chắc trong dư luận. Khuyến khích người dân tham gia “làm sạch” không gian mạng, thông qua việc báo cáo tin giả, không chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng và chủ động chia sẻ những nội dung tích cực, truyền cảm hứng về tình yêu biển, đảo và trách nhiệm công dân.
Tăng cường giáo dục lý luận chính trị-pháp luật trong toàn xã hội; đưa nội dung giáo dục chủ quyền biển, đảo, nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá vào chương trình học phổ thông, đại học và các lớp bồi dưỡng chính trị, giúp hình thành tư duy độc lập, phản biện lành mạnh. Tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị chuyên đề trong hệ thống chính trị, đoàn thể, nhất là trong lực lượng đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên, qua đó nâng cao ý thức giữ vững trận địa tư tưởng. Tăng cường các diễn đàn đối thoại, tọa đàm, giao lưu giữa LLVT và nhân dân để trực tiếp giải đáp các vấn đề nóng, nhạy cảm về biển, đảo, quốc phòng, xây dựng lòng tin vững chắc và sự gắn bó máu thịt quân dân.
Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông và người có ảnh hưởng lớn. Các cơ quan báo chí chủ động, nhanh nhạy, chính xác, kịp thời phản ánh sự thật, định hướng dư luận một cách có trách nhiệm và nhân văn. Tăng cường sản xuất các sản phẩm truyền thông sáng tạo, gần gũi giới trẻ như video ngắn, infographic, podcast... để truyền tải thông điệp yêu nước, niềm tin chính trị, trách nhiệm công dân với biển, đảo Tổ quốc. Khuyến khích các nhà báo, người có ảnh hưởng trên mạng xã hội tích cực lan tỏa thông tin chính thống, phản bác thông tin sai trái một cách có lý, có tình, góp phần tạo ra “vùng thông tin xanh” trên môi trường mạng.
Cùng với tuyên truyền, đấu tranh, cần thực thi pháp luật một cách mạnh mẽ, nghiêm minh để phòng ngừa hiệu quả. Xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi tán phát thông tin sai lệch, kích động chia rẽ, bôi nhọ LLVT, xuyên tạc chính sách quốc phòng, đặc biệt trong thời gian cao điểm chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng các cấp. Tăng cường năng lực giám sát, phát hiện và xử lý tin giả của các cơ quan chức năng, kết hợp giữa công nghệ và nhân lực để tạo “lá chắn kỹ thuật số” hiệu quả. Hoàn thiện hệ thống pháp lý về an ninh mạng, thông tin, truyền thông, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị-xã hội trong quản lý và đấu tranh trên không gian mạng. Tăng cường công khai, minh bạch các chính sách quốc phòng, đối ngoại, giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo, giúp người dân không bị mơ hồ mà tỉnh táo nhận thức đúng trước sự nhiễu loạn thông tin
Chính sách biển đảo của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn
Việt Nam luôn nhất quán thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, thế trận biển, đảo vững chắc trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Việt Nam luôn nhất quán quan điểm: Hòa bình, tự vệ, không liên minh quân sự. Từ năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định đường lối quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu nhưng không tách rời khỏi nghĩa vụ quốc tế và tôn trọng luật pháp quốc tế.
Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách QPAN "4 không" này không chỉ thể hiện lập trường độc lập, tự chủ của Việt Nam mà còn phản ánh tư duy chiến lược tỉnh táo, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm vừa giữ vững chủ quyền, vừa đóng góp vào hòa bình, ổn định chung.
Việt Nam khẳng định chủ quyền biển, đảo dựa trên đầy đủ bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp lý vững chắc và phù hợp với UNCLOS 1982. Tất cả hoạt động bảo vệ chủ quyền, tài nguyên và duy trì trật tự, an ninh trên biển của Việt Nam đều tuân thủ nghiêm các quy định quốc tế, không gây hấn, không xâm phạm chủ quyền các nước khác. Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế biển, khai thác tài nguyên, cũng như huấn luyện, diễn tập quân sự trong phạm vi chủ quyền đều nằm trong khuôn khổ hợp pháp và minh bạch, được thông tin công khai. Điều này cho thấy Việt Nam không hề “mập mờ” hay “thiếu minh bạch” như các thế lực phản động xuyên tạc. Thực tế, Việt Nam là quốc gia đi đầu trong việc kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, đàm phán song phương và đa phương, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
Việt Nam hiểu rõ rằng, hòa bình chỉ bền vững khi có sức mạnh bảo vệ, do đó, việc củng cố tiềm lực quốc phòng là tất yếu, nhưng không phải để gây chiến, mà để phòng ngừa xâm lược và bảo vệ lợi ích quốc gia. LLVT nhân dân Việt Nam, đặc biệt là Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng... làm nhiệm vụ trên biển luôn duy trì tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, làm chủ tình hình, xử lý linh hoạt, đúng mực trong mọi tình huống. Việc xây dựng các lực lượng này không nhằm chạy đua vũ trang mà để mỗi tấc đất, tấc biển của Tổ quốc đều được gìn giữ bởi chính con em nhân dân. Chủ trương kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, quốc phòng với đối ngoại cũng là điểm sáng trong chính sách của Việt Nam. Đây là chiến lược bền vững, giúp đất nước phát triển mạnh mẽ từ bên trong, đồng thời nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam không chỉ mang tính chất nội bộ mà còn đóng vai trò tích cực trong khu vực và thế giới. Việt Nam là thành viên tích cực của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thúc đẩy xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, hòa bình, thịnh vượng. Việt Nam nhiều lần lên tiếng phản đối hành vi vi phạm luật pháp quốc tế ở Biển Đông, nhưng luôn theo hướng kiềm chế, thiện chí và cầu thị, vì hòa bình và thượng tôn pháp luật, được nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế ghi nhận. Việt Nam cũng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, gửi lực lượng đến nhiều điểm nóng như Nam Sudan, Trung Phi... cho thấy hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm.
Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam là kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh chính trị và tinh thần trách nhiệm cao đối với dân tộc và cộng đồng quốc tế. Đó là chính sách đúng đắn, chính nghĩa và minh bạch, thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình nhưng không chấp nhận đánh đổi chủ quyền, độc lập dân tộc. Việc các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo chính sách này không làm thay đổi được bản chất đúng đắn, mà ngược lại càng cho thấy sự bất lực của chúng trước một Việt Nam ngày càng ổn định, vững mạnh và có uy tín trong khu vực cũng như trên thế giới
Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng
Đại thắng mùa Xuân 1975 đã đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, ngay sau đó, đất nước ta lại phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã kiên cường chiến đấu, đánh thắng hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc; đồng thời, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả ở Campuchia.
Đặc biệt, trong bối cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng và sụp đổ vào thập niên 80 và 90 của thế kỷ 20, nhưng với bản lĩnh, trí tuệ và đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, Đảng đã lãnh đạo đất nước ta vượt qua khó khăn, thử thách ngặt nghèo, vững bước trên con đường đổi mới. Theo đó, sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Kinh tế vĩ mô ổn định; tiềm lực, quy mô và sức mạnh của nền kinh tế được nâng lên; phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao; chính trị, xã hội ổn định, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường.
Quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố và tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia-dân tộc được giữ vững. Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân”, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm được củng cố vững chắc. Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng hiệu quả, chặt chẽ. Chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch...
Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng, đến nay đã có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước, trong đó có tất cả nước lớn; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng. Từ một nước có nền kinh tế chậm phát triển, bị bao vây, cấm vận, đến nay, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế-thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đã mở rộng và đẩy mạnh đối ngoại, hợp tác quốc phòng với hơn 100 quốc gia, trong đó có 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả nước lớn... Uy tín, vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Sau 50 năm độc lập, thống nhất, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Rõ ràng, cả lịch sử và hiện tại đều cho thấy, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của Đảng và nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn; thành quả cách mạng sau 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là những bằng chứng rất rõ ràng, khách quan nhất để bác bỏ toàn bộ luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Đồng thời, là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi nguy cơ, thách thức, tiếp tục vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh của dân tộc
Sự lựa chọn đúng đắn, sáng suốt của Đảng
Sau chiến thắng “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ngày 21-7-1954, Hiệp định Geneva được ký kết, mở ra một trang mới trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, trong khi chúng ta nghiêm túc thực hiện các điều khoản của Hiệp định Geneva và chuẩn bị cho Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước vào năm 1956, thì ở miền Nam, tháng 6-1954, Mỹ đã dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và điên cuồng thực hiện chính sách “tố Cộng, diệt Cộng”, lê máy chém đi khắp miền Nam, công khai giết hại dã man hàng vạn cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, đồng bào ta, làm cho phong trào cách mạng bị tổn thất nặng nề...
Như vậy, mặc dù Đảng, Nhà nước, quân và dân ta đã bằng mọi cách để bảo vệ nền hòa bình, ngăn chặn chiến tranh xảy ra, nhưng với bản chất ngoan cố, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã trắng trợn vi phạm, xé bỏ các điều khoản của Hiệp định Geneva với mưu đồ biến miền Nam Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Chính âm mưu thâm độc trên khiến dân tộc ta không có sự lựa chọn nào khác, buộc phải bước vào một cuộc đấu tranh mới-kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, chiến lược “chiến tranh cục bộ” và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, ngụy. Đồng thời, đánh bại chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân lần thứ nhất (1964-1968) và lần thứ hai (từ tháng 4-1972 đến tháng 12-1972) của đế quốc Mỹ, bắn rơi hàng nghìn máy bay các loại, đặc biệt là “pháo đài bay B-52”, bắt sống nhiều giặc lái, lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không” vang dội trên bầu trời Hà Nội.
Thắng lợi to lớn của quân và dân hai miền Bắc và Nam buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (27-1-1973). Tuy nhiên, với bản chất ngoan cố, đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ âm mưu thôn tính, chia cắt lâu dài đất nước ta nên chúng vẫn để lại đội ngũ cố vấn hùng hậu, giao lại cho quân đội ngụy toàn bộ cơ sở vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh và tăng cường viện trợ cho ngụy quyền Sài Gòn. Dựa vào viện trợ của Mỹ, chính quyền ngụy ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền, liên tiếp mở các cuộc hành quân “tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm vùng giải phóng của ta.
Trước dã tâm của kẻ thù, Đảng ta đã đánh giá đúng tương quan lực lượng giữa ta và địch, chớp thời cơ lịch sử và đề ra quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Thực hiện chủ trương của Đảng, từ ngày 4-3-1975, quân và dân ta đã liên tiếp mở chiến dịch giải phóng Tây Nguyên; chiến dịch giải phóng Trị-Thiên-Huế; chiến dịch giải phóng Đà Nẵng và các tỉnh Trung Bộ.
Từ những thắng lợi liên tiếp trên, ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Với tư tưởng chỉ đạo “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa...”, từ ngày 26-4-1975, quân ta trên các hướng đã đồng loạt tiến về Sài Gòn, đánh bại địch tại sào huyệt của chúng, buộc Tổng thống ngụy Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc
"Phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết"
“...
phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”
Chủ
tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập số
12 (tháng 12-1958), khẳng định: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh
nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”.
Đạo
đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm và có vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của xã hội. Hồ Chí Minh là người bàn nhiều về đạo đức,
nhất là đạo đức cách mạng; theo Bác, đạo đức không chỉ là “gốc”, là nền tảng,
là sức mạnh và nhân tố chủ chốt của người cách mạng, mà còn là thước đo lòng
cao thượng của con người, là gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Đối với người
đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của
giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, thì điều đầu tiên và
vô luận trong mọi hoàn cảnh phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Ở
đây chính là việc đảng viên thực hiện trọn vẹn lời hứa tại lễ kết nạp đảng viên
và giải quyết tốt 3 mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với người
và với việc).
Người
đảng viên có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại... cũng
không rụt rè lùi bước, khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần
gian khổ, khiêm tốn, chất phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật
sự trở thành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người đảng viên thật
sự có đức thì bao giờ cũng luôn cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện
năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Học
tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp cán bộ, đảng viên trong quân đội luôn
không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trở thành hạt nhân lãnh đạo, trung
tâm đoàn kết và là tấm gương sáng về tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc
lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào
cũng vượt qua; thuyết phục, chinh phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền bằng chính
đạo đức cách mạng, năng lực, trách nhiệm, tinh thần chịu đựng, vượt qua khó
khăn, gian khổ, tận tâm, tận lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Trong
giai đoạn hiện nay, để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, giữ vững và không ngừng
phát huy tốt phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với
việc xây dựng, rèn luyện và phát huy tính tiền phong gương mẫu, năng lực của đội
ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội; nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ trì
các cấp.
Sưu tầm
“Trí thức đáng trọng là trí thức hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”
“Trí
thức đáng trọng là trí thức hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”
Đó
là lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng,
Dân, Chính ở cơ quan Trung ương vào khoảng đầu tháng 2-1953, khi nước ta đang đẩy
mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã dự cảm về một giai đoạn mới của cách mạng nước ta sau khi
cuộc kháng chiến thắng lợi-giai đoạn kiến thiết và xây dựng. Do vậy, rất cần phải
củng cố sự đoàn kết, thống nhất và phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc,
trong đó có đội ngũ trí thức. Tuy nhiên, có một bộ phận cán bộ, đảng viên còn
chưa nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, chưa chấp hành đúng chủ trương, đường
lối của Đảng. Thậm chí, một bộ phận cán bộ, đảng viên có thành kiến, chưa nhìn
nhận, đánh giá đúng về trí thức, làm cho nhiều trí thức trong các cơ quan Nhà
nước cho rằng, Đảng không coi trọng trí thức.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò to lớn của trí thức trong phát triển
kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe nhân dân và mối quan hệ
giữa trí thức với cách mạng; đồng thời cũng đưa ra tiêu chuẩn về người trí thức
chân chính. Lời dạy của Người không chỉ giúp chúng ta có nhận thức và thái độ
đúng về trí thức mà còn là một cơ sở để Đảng ta hoạch định đường lối, chủ
trương xây dựng đội ngũ trí thức cách mạng. Đây cũng là phương hướng, mục tiêu
phấn đấu của mỗi trí thức và là cơ sở để đấu tranh với những nhận thức, quan điểm,
tư tưởng sai trái về trí thức.
Thực
hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn coi trọng, đánh giá
đúng vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc
phòng. Trên cơ sở đó, quán triệt, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương,
đường lối của Đảng, của Quân ủy Trung ương về xây dựng, phát triển đội ngũ trí
thức trong quân đội; không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo tại các
học viện, nhà trường trong toàn quân và có chính sách đúng, cách làm hợp lý để
phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong quân đội. Cùng với việc đào tạo đội
ngũ trí thức về chuyên môn, nghiệp vụ, các cấp trong toàn quân thường xuyên bồi
dưỡng đội ngũ trí thức về lập trường tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng, làm
cho đội ngũ trí thức tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng chính trị của
Đảng; kịp thời phát hiện, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng
chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Sưu tầm



