Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2025

Đại tướng Phan Văn Giang: Tổ chức quân sự địa phương trên cơ sở quan điểm về đường lối quốc phòng toàn dân


Ngày 28-2, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị giao nhiệm vụ cho cơ quan, đơn vị nghiên cứu, đề xuất tổ chức quân sự địa phương. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị.

Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dự hội nghị. 

Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thượng tướng Vũ Hải Sản; Thượng tướng Phạm Hoài Nam; Thượng tướng Lê Huy Vịnh.

Cùng dự có Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Trung tướng Đỗ Xuân Tụng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và lãnh đạo các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng và các học viện, viện nghiên cứu. 

Tại hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa báo cáo dự thảo phương án của Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam đề xuất tổ chức quân sự địa phương theo chủ trương của Đảng, Nhà nước về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Căn cứ vào tình hình thực tiễn về địa lý, diện tích, quy mô dân số, số lượng cấp huyện, xã hiện nay và đặc thù chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của QĐND Việt Nam, dự thảo phương án đã đề xuất xây dựng cơ quan quân sự địa phương phù hợp.

Các đại biểu đã phân tích, đề xuất các ý kiến tổ chức quân sự địa phương theo tinh thần Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17-1-2022 của Bộ Chính trị về tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo; kết luận số 126-KL/TW ngày 14-2-2025 của Bộ Chính trị về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025.

Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam và các cơ quan chức năng nghiên cứu, xây dựng phương án tổ chức quân sự địa phương trên cơ sở quan điểm về đường lối quốc phòng toàn dân, đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng; phù hợp với chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự Việt Nam; thực hiện truyền thống “Ngụ binh ư nông” của dân tộc, quan điểm của Đảng về xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp.

TĐA. Nguồn QĐND


Nghệ thuật "Chia cắt, vây giữ" trong Chiến dịch Tây nguyên

Tây Nguyên có vị trí địa chiến lược quan trọng, nhưng điểm yếu cốt tử là nhiều núi cao hiểm trở, giao thông kém phát triển, địch cơ động chủ yếu dựa vào các trục đường chính (14, 19, 21, 7...). Khi các trục đường bị cắt và “khóa chặt, vây hãm” thì Tây Nguyên bị cô lập, tách rời khỏi vùng đồng bằng Nam Trung Bộ và cả chiến trường miền Nam, địch chỉ còn đường không để chi viện, ứng cứu.

Do đó, khi xây dựng thế trận chiến dịch, ta chọn hướng tiến công chiến lược vào Tây Nguyên là đã chọn đúng điểm nhạy cảm, đánh vỡ đôi thế trận, "bẻ gãy xương sống" của địch. Để “bẻ gãy xương sống” của địch, phải tạo lập thế trận chia cắt, vây giữ chắc. Đây là vấn đề then chốt, nét độc đáo nhất của việc xây dựng thế trận, tạo nên nghệ thuật “chia cắt, vây giữ”. Ý định tác chiến chiến dịch là chia cắt giữa các khu vực phòng ngự với nhau trên chiến trường Tây Nguyên, cụ thể là chia cắt Nam và Bắc Tây Nguyên.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình địch, ta và địa hình khu vực tác chiến, chiến dịch quyết định sử dụng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, với nghệ thuật “chia cắt, vây giữ” địch; táo bạo, bất ngờ tiến công trên nhiều hướng mũi, đánh thẳng vào các mục tiêu trọng yếu bên trong thị xã Buôn Ma Thuột, nhanh chóng làm chủ địa bàn trong thời gian ngắn nhất. Đây là nét đặc sắc, độc đáo về nghệ thuật “chia cắt, vây giữ” bằng cách đánh táo bạo, phù hợp với điều kiện thực tiễn, bởi địch ở Buôn Ma Thuột tuy còn đông nhưng không phải là lực lượng chiến đấu chủ yếu; các căn cứ trong thị xã tuy kiên cố nhưng thiếu liên hoàn, bố trí cách xa nhau, khả năng hỗ trợ, chi viện cho nhau hạn chế. Đồng thời, do chủ quan nên địch đã sai lầm cho rằng, ta chưa có khả năng đánh vào một thị xã lớn như Buôn Ma Thuột trong năm 1975.

Chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi bằng nghệ thuật tạo thế, nghi binh, chia cắt, vây giữ địch. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoàn cảnh và điều kiện đã khác nhiều so với cuộc kháng chiến trước đây, ta đã có thế và lực mạnh hơn... Vì vậy, cần tiếp tục quán triệt và cụ thể hóa những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, nhằm giải quyết các vấn đề về chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật đang đặt ra cả trước mắt và lâu dài.

SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT QUÂN DÂN - NHÂN TỐ QUAN TRỌNG LÀM NÊN ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975

 SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT QUÂN DÂN - NHÂN TỐ QUAN TRỌNG LÀM NÊN ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975


11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, cờ Giải phóng tung bay trên nóc dinh Độc Lập, báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử-Chiến dịch quyết chiến chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân và dân ta toàn thắng.


Đây là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, đánh dấu Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta kết thúc thắng lợi, thực hiện trọn vẹn tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên của độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.


Đánh giá thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, ý nghĩa của Chiến thắng 30-4-1975 nói riêng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) của Đảng đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”(1).


Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả tổng hợp của nhiều nhân tố tạo nên sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta. Đây còn là thắng lợi của cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, ngoan cường, bền bỉ của Nhân dân và Quân đội anh hùng. Thắng lợi đó là kết tinh của sức mạnh đoàn kết quân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sức mạnh đó bắt nguồn từ bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam, đội quân do Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện, đội quân “của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.


Sức mạnh đoàn kết quân dân là cơ sở để Đảng ta đề ra phương pháp cách mạng sáng tạo, độc đáo trong chỉ đạo chiến tranh. Đó là, sử dụng bạo lực cách mạng với hai lực lượng: Lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; tiến hành khởi nghĩa từng phần ở nông thôn và từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị; đánh địch bằng ba mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận; kết hợp ba thứ quân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ; thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ; nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài, đồng thời, biết tạo thời cơ và nắm vững thời cơ tổ chức những trận tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi cuối cùng.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đoàn kết quân dân là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc, để thực hiện tư tưởng chiến lược của Đảng, Bác Hồ kính yêu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Nền tảng đó đã được quân và dân ta không ngừng vun đắp với nhiều phương thức, cách làm sáng tạo, phong phú, phù hợp với hoàn cảnh đất nước tạm thời bị chia làm hai miền. Ở miền Bắc, các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, chi viện sức người, vũ khí trang bị kỹ thuật cho chiến trường miền Nam với tinh thần: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Nhường nhà để hàng, nhường làng để xe”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”,  “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”... Trên chiến trường miền Nam, mặc dù ngụy quân, ngụy quyền và đế quốc Mỹ dùng mọi thủ đoạn chia rẽ giữa nhân dân với bộ đội, du kích, như: Dồn dân lập ấp chiến lược, đàn áp phong trào cách mạng... nhưng mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được củng cố, ngày càng gắn bó. Hàng nghìn, hàng vạn người mẹ, người chị không quản ngại gian khổ, hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh tính mạng để nuôi giấu bộ đội, làm giao liên, y tá... hun đúc nên ý chí “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Đó là những hình ảnh sáng ngời về tình đoàn kết quân dân, là cội nguồn của sức mạnh. Sống trong lòng nhân dân, được nhân dân che chở, giúp đỡ, nuôi dưỡng, bộ đội ta luôn phát huy truyền thống “Trung với nước, hiếu với dân”, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường với ý chí quyết chiến, quyết thắng, bảo vệ nhân dân trong từng trận chống lấn chiếm, càn quét, đánh bại các chiến dịch quy mô lớn của địch, giữ vững vùng giải phóng, chuẩn bị tốt mọi điều kiện để kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975.


Tình đoàn kết quân dân thực sự là nguồn sức mạnh vô địch của Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì nhân dân-đó là động lực mạnh mẽ thôi thúc lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ không quản ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chấp nhận hy sinh, quyết tâm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Thực tiễn lịch sử trong các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã chứng minh và khẳng định sức mạnh của đoàn kết quân dân, nòng cốt của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bất kỳ giai đoạn nào, phải đương đầu với kẻ thù tàn bạo, nếu biết cổ vũ, động viên, quy tụ được sức mạnh toàn dân, cốt lõi là sức mạnh đoàn kết quân dân thì dân tộc ta đều giành thắng lợi vĩ đại, bảo đảm sự bền vững của độc lập, tự do, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ.


Nhận thức sâu sắc sức mạnh đoàn kết quân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương-Bộ Quốc phòng luôn nhất quán quan điểm “dân là chủ”, “lấy dân làm gốc”, nhân dân là chủ thể công cuộc xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta khẳng định: Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.


Qua gần 40 năm đổi mới, sức mạnh đoàn kết quân dân, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam ngày càng được củng cố và tăng cường. Tiềm lực, thế trận, lực lượng, cơ sở vật chất của nền quốc phòng không ngừng được củng cố, phát triển toàn diện, đồng bộ. Quân đội nhân dân Việt Nam được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng, thực sự là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân; thực hiện tốt chức năng: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; không ngừng củng cố, tăng cường sự gắn bó máu thịt với Nhân dân. Quân đội luôn gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là lực lượng đi đầu tuyên truyền, quán triệt, thực hiện tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chính trị-xã hội ở địa phương; tuyên truyền, vận động Nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ, phá hoại sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng và củng cố lòng tin của Nhân dân với cấp ủy đảng, chính quyền các cấp; chủ động phối hợp xử lý hiệu quả các tình huống phức tạp, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Toàn quân đã nêu cao ý chí, xung kích, đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, kịp thời có mặt ở những nơi gian khổ, hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và của Nhân dân. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là những lúc khó khăn, hoạn nạn, thiên tai; sự có mặt của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là chỗ dựa vững chắc của cấp ủy, chính quyền địa phương và được Nhân dân tin tưởng, yêu mến.


Quân đội luôn đi đầu trong thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”... Với hàng chục đoàn kinh tế-quốc phòng, hàng trăm tổ, đội công tác và cán bộ tăng cường cơ sở, những hoạt động thiết thực đó không ngừng tô thắm truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; là cội nguồn sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.


Đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân đã trở thành truyền thống quý báu, là bản chất của Quân đội, tạo nên sức mạnh vô địch cho Quân đội, là cơ sở vững chắc để mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy các cấp, cũng như toàn quân thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị.


Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Các vấn đề về an ninh truyền thống và phi truyền thống, các hành động xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên tiếp tục diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch luôn tạo cớ can thiệp quân sự, đẩy mạnh thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” bằng những thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm, thâm độc hơn... Tình hình đó đã và đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với xây dựng và tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; trong đó có sức mạnh đoàn kết quân dân, làm cơ sở tăng cường quốc phòng, xây dựng Quân đội, nhất là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước. Để thực hiện yêu cầu đó, toàn quân cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:


Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng, củng cố đoàn kết quân dân trong tình hình mới; phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.


Nền quốc phòng toàn dân mà chúng ta xây dựng là nền quốc phòng “của dân, do dân, vì dân”, phát triển theo phương hướng: Toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, do nhân dân làm chủ, nhằm giữ vững hòa bình, ổn định đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động xâm lược và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Hai là, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; vững mạnh về chính trị; có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ trong tình hình mới. Xây dựng, củng cố đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, biển, đảo; tạo điều kiện để xây dựng, củng cố vững chắc “thế trận lòng dân” ở các địa bàn trọng yếu.


Cán bộ, chiến sĩ toàn quân nhận thức sâu sắc yêu cầu xây dựng tình đoàn kết quân dân; không ngừng tu dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện nếp sống chính quy, xây dựng chuẩn mực đạo đức của người quân nhân cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; không ngừng phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bản chất tốt đẹp và truyền thống vẻ vang, quyết tâm thực hiện thắng lợi các chức năng: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất; mãi mãi là lực lượng chính trị đặc biệt, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, lực lượng nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Ba là, cấp ủy, chỉ huy các cấp tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


Quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận. Các cấp, các đơn vị tiếp tục cụ thể hóa Chương trình hành động số 620-CTr/QU ngày 11-10-2013 của Quân ủy Trung ương về thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; Nghị quyết số 49-NQ/QUTW ngày 26-1-2015 của Quân ủy Trung ương về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Quân đội trong tình hình mới”, cùng các thông tư, quy chế để thực hiện thống nhất trong toàn quân; đồng thời, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác dân vận, thực hiện nghiêm chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước.


Công tác dân vận của Quân đội phải luôn hướng về cơ sở, chú trọng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào tôn giáo; nội dung, hình thức phải thường xuyên được đổi mới, đa dạng, phong phú, xây dựng được nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả, nhất là đẩy mạnh Phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng “Đơn vị dân vận tốt”, Quân đội tham gia xây dựng nông thôn mới, tổ chức hành quân dã ngoại làm công tác dân vận... Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các đơn vị Quân đội với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong tiến hành công tác dân vận. Cấp ủy đảng các cấp có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo, phân công cấp ủy viên phụ trách, xây dựng quy chế, kế hoạch tổ chức thực hiện, gắn với chức trách, nhiệm vụ của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy. Thường xuyên kiện toàn cơ quan dân vận và đội ngũ cán bộ các cấp, đề cao trách nhiệm, nâng cao chất lượng hoạt động, thực hiện tốt chức năng tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn về công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam.


Bốn là, chủ động, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” Quân đội, chia rẽ Quân đội và Nhân dân, Quân đội với Công an của các thế lực thù địch.


Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các luận điệu phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội”, các âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, phủ nhận bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Quân đội.


Tiến hành đồng bộ, toàn diện các giải pháp giữa “xây” và “chống” để bộ đội và nhân dân nhận rõ bản chất phản động, phản khoa học, tính chất nguy hại, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Lên án, phê phán lối sống thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, vi phạm kỷ luật, pháp luật, ảnh hưởng tới bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Quân đội.


Năm là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong các nhiệm vụ, trong đó cần đặc biệt coi trọng làm tốt công tác dân vận, xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội.


Tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận CTĐ, CTCT, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Hoạt động CTĐ, CTCT phải hướng vào thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả CTĐ, CTCT,  xây dựng sức mạnh đoàn kết quân dân chính là nhằm bảo đảm và giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của Quân đội ta.

Chiến thắng Tây Nguyên, khẳng định trình độ tác chiến hiệp đồng

Chiến thắng Buôn Ma Thuột khẳng định trình độ chỉ huy tác chiến hiệp đồng quân-binh chủng khôn khéo, linh hoạt, quyết đoán và tổ chức chặt chẽ, mưu trí, sáng tạo, đạt tới trình độ cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Đây chính là bài học kinh nghiệm quý báu cần được vận dụng trong công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu hiện nay. Muốn vậy, cần phải xây dựng tinh thần chiến đấu vững vàng, rèn luyện khả năng phối hợp đồng bộ giữa các binh chủng và phát triển khả năng lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ là những yếu tố quyết định để Quân đội ta luôn sẵn sàng đối phó hiệu quả với mọi tình huống, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong tình hình hiện nay, đối tượng tác chiến đã có điều chỉnh, vũ khí công nghệ cao tạo nên sự thay đổi lớn trên chiến trường. Nghiên cứu vận dụng nghệ thuật quân sự, đáp ứng với điều kiện tác chiến trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi tư duy mới về tác chiến hiện đại. Nhưng bài học về nghệ thuật tác chiến của trận đánh Buôn Ma Thuột vẫn còn nguyên giá trị, cần vận dụng sáng tạo, phù hợp với tình hình mới.

Tham gia Chiến dịch Tây Nguyên, Trung đoàn 95 đã thể hiện rõ ràng bản lĩnh chiến đấu kiên cường, chiến thuật linh hoạt và sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa các binh chủng, góp phần quan trọng vào chiến thắng quyết định này. Ngày nay, để góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu trong mọi điều kiện, không để bị động trước các tình huống chiến tranh bất ngờ, Trung đoàn luôn chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt, từ chiến thuật đến tâm lý, từ trang bị đến khả năng phản ứng nhanh trước mọi tình huống chiến tranh. Coi trọng huấn luyện các tình huống mô phỏng thực tế, trong đó huấn luyện với các tình huống thay đổi liên tục để giúp bộ đội nắm bắt nhanh chóng mọi tình huống và thích ứng một cách linh hoạt.

ĐẢNG ĐANG GÁNH VÁC TRỌNG TRÁCH LỊCH SỬ LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI

ĐẢNG ĐANG GÁNH VÁC TRỌNG TRÁCH LỊCH SỬ LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI


Tổng Bí thư nhấn mạnh: Đảng đang gánh vác trọng trách lịch sử lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên mới với nhiều khó khăn, thách thức.


Ngày 27.2, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì cuộc họp với Thường trực các Tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng và Ban Chỉ đạo tổng kết 40 năm Đổi mới cho ý kiến về những chủ trương lớn vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.


Theo TTXVN, thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, từ sau Hội nghị Trung ương 10 đến nay, Thường trực các Tiểu ban đã rà soát, tổng hợp để xem xét bổ sung, cập nhật vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, trong đó có nội dung về mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030 hướng tới đạt hai con số, tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy bên trong của các cơ quan, đơn vị, tổ chức…


Đồng thời rà soát một số nội dung quan trọng khác về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, về xây dựng và hoàn thiện nhà nước, pháp luật và về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiêu cực.


Kết luận cuộc họp, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh cần đánh giá khái quát những vấn đề mang tầm chiến lược, nêu bật ý chí quyết tâm khát vọng phát triển bứt phá vươn lên của toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta.


Tổng Bí thư yêu cầu, các báo cáo phải viết theo hướng hành động và triển khai ngay vào thực tiễn để các tầng lớp nhân dân, cán bộ, đảng viên có niềm tin và thấy rõ mục tiêu đặt ra là có cơ sở và thực hiện được. Tinh thần là ngay khi được thông qua, cả hệ thống chính trị sẽ triển khai ngay.


Tổng Bí thư chỉ rõ, cần cập nhật, bổ sung, làm sâu sắc hơn những đánh giá kết quả đạt được, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm 40 năm Đổi mới trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng.


Kết quả sắp xếp tinh gọn, tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị phản ánh rõ nét hơn kết quả phát triển kinh tế - xã hội trong những năm cuối nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng; với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật để đánh giá những tồn tại, hạn chế, những điểm nghẽn, nút thắt nổi cộm trên các lĩnh vực.


Tổng Bí thư lưu ý, phải đánh giá thật khách quan để định vị rõ chúng ta đang ở đâu, trình độ phát triển đang ở mức độ nào, có những giải pháp đúng để triển khai, không tô hồng thành tích nhưng cũng không bi quan chỉ thấy được tồn tại, hạn chế mà không đánh giá đúng thành tích kết quả toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được.


Tiếp tục cập nhật bổ sung, đánh giá, phân tích dự báo chiến lược về bối cảnh quốc tế, xu hướng nhất là những vấn đề mới có thể tác động trực tiếp đến nước ta cả trước mắt và lâu dài, để Đảng và Nhà nước có chiến lược, đối sách phù hợp…


Tổng Bí thư nêu rõ, xuyên suốt các văn kiện phải bổ sung và nhấn mạnh vai trò then chốt của công tác xây dựng Đảng, khẳng định sự kiên định về tư tưởng vào đường lối Đổi mới, đồng thời phải thấy rõ Đảng đang gánh vác trọng trách lịch sử lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên mới với nhiều khó khăn, thách thức.


Từ đó đòi hỏi Đảng ta không ngừng nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, năng lực đổi mới, từng bước tự hoàn thiện mình để hoàn thành trọng trách lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc./. 

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CUỘC CÁCH MẠNG VỀ SẮP XẾP, TINH GỌN BỘ MÁY

 CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CUỘC CÁCH MẠNG VỀ SẮP XẾP, TINH GỌN BỘ MÁY 


Gần đây, trên trang mạng Vietnamthoibao có bài viết của tác giả Nguyễn Đình Ấm với tựa đề: “Những con đường để biên chế liên tục phình to”. Cần khẳng định rằng đây là bài viết chứa đựng những nội dung mang tính chất xét lại, vô căn cứ, phủ nhận gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tin của Nhân dân, cố tình bóp méo, xuyên tạc, đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng ta hiện nay. Thực chất đây là những luận điệu không mới. Bởi trước đó các thế lực thù địch như tổ chức phản động Việt Tân, đài Châu Á tự do, RFI, Việt Nam thời báo liên tục đưa ra các luận điệu xuyên tạc về cuộc cách mạng tinh gọn hệ thống chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên, chiêu trò trên thâm độc, nguy hiểm ở chỗ chúng xuất hiện với tần xuất ngày càng nhiều vào đúng thời điểm Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết liệt triển khai, thực hiện chủ trương tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, nhằm chuẩn bị tốt về mọi mặt tổ chức đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng trong năm 2025 và đầu năm 2026. Do vậy, mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác trước các luồng thông tin xấu độc này, tuyệt đối không mơ hồ, nhầm tưởng đó là những thông tin mang tính phản biện xã hộị. Vì những lý do sau:


Một là, việc tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị luôn được Đảng ta đặc biệt quan tâm

Từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới (Đại hội VI năm 1986 đến nay, qua nhiều kỳ đại hội, nhất là trong các đại hội gần đây (Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII) đều nhấn mạnh nhiệm vụ về tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị của Đảng, Nhà nước ta. Điển hình như tháng 4/2015 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết  chuyên đề số 39-NQ/TW “về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức” với mục tiêu đến năm 2021 tinh giản tối thiểu 10% biên chế. Kết quả, chúng ta đã tinh giản được 11,67% biên chế trong giai đoạn này, vượt chỉ tiêu đề ra.  Đặc biệt, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã nêu bật các nhiệm vụ cụ thể, đồng thời là bước ngoặt và được ví như cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở nước ta.


Hai là, những kết quả quan trọng, bước đầu trong thực hiện Nghị quyết 18 đã tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị là minh chứng cho quyết tâm chính trị của Đảng

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, Đảng ta khẳng định: Qua 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được sắp xếp đồng bộ, tinh gọn, giảm số lượng đầu mối bên trong, từng bước hoàn thiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức được rà soát, điều chỉnh, bổ sung rõ ràng hơn. 


Ở Trung ương: Từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2024 đã giảm 3 ban chỉ đạo; 1 đảng uỷ trực thuộc Trung ương; 17 tổng cục và tương đương; 84 cục, vụ và tương đương thuộc bộ, ban, ngành Trung ương. Khối Đảng, đoàn thể: Giảm 4 cơ quan đảng Trung ương; 25 ban cán sự đảng, 16 đảng đoàn trực thuộc Trung ương; giảm 119 đầu mối cấp vụ của cơ quan, ban đảng, đơn vị sự nghiệp của Đảng, cơ quan Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Khối Quốc hội: Giảm 5 cơ quan của Quốc hội; 13 đầu mối cấp vụ, đơn vị. Khối Chính phủ: Giảm 5 bộ, cơ quan ngang bộ; 3 cơ quan thuộc Chính phủ; 13/13 tổng cục và tổ chức tương đương (100%); 519 cục và tổ chức tương đương; 219 vụ và tổ chức tương đương…


Ở địa phương: Khối Đảng, đoàn thể địa phương: Giảm 1.442 đầu mối cấp phòng. Khối chính quyền địa phương: Giảm 4.633 đầu mối cấp phòng; 7.434 đơn vị sự nghiệp công lập. Giai đoạn 2019 - 2021: Cả nước đã sắp xếp 21 đơn vị hành chính cấp huyện, 1.056 đơn vị hành chính cấp xã tại 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Kết quả giảm 8 đơn vị hành chính cấp huyện, 561 đơn vị hành chính cấp xã. Về biên chế: Tính đến ngày 30/6/2021, cả hệ thống chính trị có 2.858.241 biên chế, giảm 720.360 biên chế so với năm 2015 (20,13%)... Đạt được những kết quả trên do nhiều nguyên nhân, nhưng bao trùm là sự quyết tâm cao, sự nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. 


Như vậy, có thể thấy rằng: Chủ trương về tinh gọn bộ máy đã và đang được Đảng ta quyết liệt thực hiện trước thềm Đại hội XIV, là một bước chuyển quan trọng để đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình trong thời đại mới. Tinh gọn bộ máy là yêu cầu thực tiễn đòi hỏi sự nỗ lực của các cơ quan, ban, ngành, từ Trung ương đến địa phương và của mỗi cán bộ, đảng viên. Đồng thời, đây còn là minh chứng thuyết phục nhất để phản bác lại các luận điệu vô căn cứ, mang tính chất xét lại, xuyên tạc, phủ nhận công lao to lớn về cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn bộ máy trong hệ thống chính trị của Đảng ta./.

ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM ĐANG ĐỨNG TRƯỚC CƠ HỘI LỚN

 ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM ĐANG ĐỨNG TRƯỚC CƠ HỘI LỚN


Đường sắt Việt Nam có bề dày lịch sử gần 150 năm với mạng lưới trải dài trên 34 tỉnh, thành phố, tổng chiều dài khoảng 3.143km đang đứng trước những cơ hội lớn chưa từng có để phát triển.


Hình ảnh già nua, cũ kỹ của đường sắt Việt Nam


Thời gian qua, ngành đường sắt đã đóng góp to lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hàng hóa từ các vùng nguyên liệu, sản phẩm công nghiệp và nông sản được vận chuyển thuận lợi hơn, góp phần thúc đẩy giao thương nội địa và xuất khẩu. Đường sắt cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch khi kết nối các điểm du lịch nổi tiếng trên cả nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương thức vận tải khác, đường sắt Việt Nam dần bộc lộ nhiều hạn chế về hạ tầng cũ kỹ, lạc hậu, trở thành hình ảnh già nua, cũ kỹ của một phương thức vận tải không chiếm ưu thế.


Hệ thống đường sắt Việt Nam hiện nay chủ yếu sử dụng đường ray đơn khổ 1.000mm - tiêu chuẩn kỹ thuật đã lỗi thời so với quốc tế, dẫn đến tốc độ vận hành hạn chế. Hiện nay, tàu hàng chỉ chạy với tốc độ 50-60km/h, còn tàu khách là 70-80km/h, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu suất và khả năng cạnh tranh so với các phương tiện vận tải khác. Hàng chục năm trở lại đây, vận chuyển đường sắt dần mất thị phần cả về hành khách và hàng hóa khi không kịp thay đổi trong khi đường bộ và hàng không đã có những bước tiến đáng kể và đột phá. Năm 2024, ngành vận tải đường sắt đã nâng cao chất lượng phục vụ, vận chuyển đạt hơn 7 triệu lượt khách, tăng 16% so với cùng kỳ, về hàng hóa xếp 4 triệu tấn hàng, tăng trưởng 6%. Mặc dù có tín hiệu tích cực, nhưng thị phần vận tải của ngành đường sắt vẫn đang giảm sút nghiêm trọng. Không chỉ cơ sở hạ tầng cũ kỹ, thiếu đồng bộ và chưa được đầu tư nâng cấp kịp thời, bên cạnh đó, hệ thống kết nối giữa đường sắt với các phương thức vận tải khác chưa phát huy hiệu quả, làm giảm sức hấp dẫn của loại hình vận tải này.


Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam: Đầu tư cho tương lai


Trước những thách thức hiện tại, Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Mục tiêu đến năm 2030 là hiện đại hóa các tuyến đường sắt hiện có, xây dựng mới các tuyến quan trọng như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các tuyến kết nối cảng biển, khu công nghiệp và cửa khẩu quốc tế. Tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam sẽ hoàn thiện mạng lưới đường sắt quốc gia hiện đại, đồng bộ, đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa ngày càng tăng. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là phát triển tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam với tốc độ thiết kế lên đến 350km/h, nhằm rút ngắn thời gian di chuyển giữa Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Ngoài ra, các tuyến kết nối liên vùng như Hà Nội - Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh - Cần Thơ cũng được chú trọng để tạo thành mạng lưới giao thông đồng bộ, hiệu quả.


Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam là một trong những dự án trọng điểm quốc gia, có tổng chiều dài 1.541km, kết nối Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Tuyến đường sắt này dự kiến sẽ giảm thời gian di chuyển xuống chỉ còn 5 giờ, giúp kết nối kinh tế - xã hội giữa hai miền Nam - Bắc hiệu quả hơn. Để triển khai dự án, Việt Nam sẽ huy động vốn từ nhiều nguồn, bao gồm ngân sách nhà nước, vốn vay ODA và hợp tác công - tư (PPP). Theo kế hoạch, dự án sẽ được khởi công vào năm 2027 và dự kiến đi vào vận hành giai đoạn đầu vào năm 2035. Khi hoàn thành, tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, giảm áp lực giao thông đường bộ và hàng không, đồng thời tạo động lực phát triển công nghiệp và dịch vụ liên quan.


Phát triển đường sắt đô thị tại các thành phố lớn


Bên cạnh các tuyến đường sắt quốc gia, Việt Nam cũng đang tập trung đầu tư phát triển hệ thống đường sắt đô thị tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội, tuyến đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông đã đi vào vận hành, giúp giảm tải giao thông nội đô. Ngoài ra, thành phố còn đang triển khai thêm nhiều tuyến khác như Nhổn - Ga Hà Nội, Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo, nhằm hoàn thiện mạng lưới giao thông công cộng hiện đại, hiệu quả. Tại TP Hồ Chí Minh, tuyến metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên) đã phục vụ trên 4,6 triệu lượt hành khách sau 2 tháng vận hành và khai thác thương mại. Thành phố cũng lên kế hoạch xây dựng các tuyến metro khác để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, đồng thời giảm tải giao thông đường bộ.


Mặc dù có nhiều kế hoạch và dự án quan trọng, ngành đường sắt Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn như hạ tầng cũ kỹ, thiếu đồng bộ, nguồn vốn đầu tư hạn chế và sự cạnh tranh gay gắt từ các phương thức vận tải khác. Để vượt qua những thách thức này, cần đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư bằng cách thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP) và huy động vốn vay ODA từ các đối tác quốc tế. Đồng thời, việc hiện đại hóa hạ tầng là yếu tố then chốt, bao gồm đầu tư nâng cấp hệ thống đường ray, nhà ga, cũng như áp dụng công nghệ tiên tiến vào quản lý và vận hành./.

Chiến thắng Tây Nguyên- Chiến thắng mang tầm chiến lược

Chiến thắng Tây Nguyên là thắng lợi quan trọng mang tầm chiến lược, có ý nghĩa to lớn trong thời điểm quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với thắng lợi này, ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, giải phóng địa bàn có ý nghĩa chiến lược, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch ở phía Bắc, cắt đôi và phá vỡ thế bố trí chiến lược của địch, làm cho quân địch phải co cụm và bị động đối phó trên các chiến trường; đẩy chúng đi từ những sai lầm về chiến thuật, chiến dịch đến sai lầm về chiến lược, tạo thế tan rã về chiến lược.

Thắng lợi đột biến của chiến dịch đã đẩy nhanh nhịp độ cho cuộc tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam. Đồng thời, Chiến thắng Tây Nguyên đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần chiến đấu của địch trên chiến trường, khiến chúng rối loạn; cổ vũ, động viên mạnh mẽ tinh thần và khí thế chiến đấu, củng cố quyết tâm và lòng tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào thắng lợi cuối cùng.

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên đã cho thấy, để đối phó với chiến tranh xâm lược của kẻ thù, trước hết phải dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, biết phát huy những thuận lợi của ta, đồng thời kịp thời phát hiện và triệt để khai thác những khó khăn, những chỗ yếu cốt tử của địch; xây dựng, bố trí các lực lượng trên từng địa bàn, từng khu vực có thể hỗ trợ, phối hợp tác chiến chặt chẽ với nhau; khi thực hành tác chiến phải nắm chắc mục tiêu, đối tượng tác chiến, thực hiện nghi binh, lừa địch, làm cho địch bị bất ngờ về cả hướng, mục tiêu, thời gian và phương pháp tác chiến.

Cuộc Cách mạng 4.0 tạo ra sự phát triển mạnh mẽ các loại vũ khí, trang bị, kỹ thuật công nghệ cao tác động đến sự thay đổi về mục đích chiến tranh, sự phát triển về hình thái và phương thức tiến hành chiến tranh, không gian, thời gian tác chiến, ranh giới tiến công với phòng ngự, chiến thuật với chiến dịch; tác động đến nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng, sử dụng vũ khí, trang bị, nhất là các loại vũ khí sử dụng nguyên lý vật lý mới, các phương tiện không người lái, robot chiến đấu ứng dụng trí tuệ nhân tạo...; đồng thời tác động mạnh mẽ đến phương thức chỉ đạo, điều hành, bảo đảm tác chiến cũng như trong công tác đào tạo và huấn luyện... Xác định chiến trường miền Trung-Tây Nguyên là chiến trường có giá trị chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai, chúng ta cần phải xây dựng thế trận, bố trí lực lượng và chuẩn bị phương án giữ vững địa bàn hết sức quan trọng này nhằm bảo đảm thế liên hoàn cho các chiến trường (hướng chiến lược) của cả nước.

ĐẢM BẢO TÍNH HIỆU QUẢ VÀ GẦN DÂN

 ĐẢM BẢO TÍNH HIỆU QUẢ VÀ GẦN DÂN 


Tổng Bí thư Tô Lâm đã có nhiều chỉ đạo quan trọng đối với các địa phương trong việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII. Các chỉ đạo này tập trung vào nhiều khía cạnh, trong đó Tổng Bí thư nhấn mạnh tính hiệu quả và gần dân sau khi sắp xếp sáp nhập hình thành các cơ quan, đơn vị mới.


Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu các địa phương triển khai thực hiện việc tinh gọn bộ máy một cách quyết liệt, bài bản và khoa học, theo đúng định hướng của Trung ương. Ông đề cao tinh thần "vừa chạy, vừa xếp hàng", "Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng", nhấn mạnh sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, quyết liệt từ Trung ương giúp quá trình thực hiện khẩn trương, tích cực, nghiêm túc. Các địa phương cần chủ động, tích cực triển khai, rà soát, sắp xếp tổ chức bên trong, nghiên cứu và đề xuất phương án tinh gọn, kết thúc hoạt động, sáp nhập, hợp nhất các cơ quan đồng bộ theo chỉ đạo của Trung ương.


Theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy cần bảo đảm tính hiệu quả, hiệu lực, đồng thời phải gần gũi với người dân, tạo niềm tin trong nhân dân. Mục tiêu cuối cùng là giảm chi thường xuyên, giảm chi lương để tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội. Việc tinh giản ở cơ sở cần căn cứ vào đặc thù từng ngành, lĩnh vực, tránh tinh giản cơ học.


Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ một trong những thách thức lớn nhất là sắp xếp lại đội ngũ cán bộ dôi dư. Ông yêu cầu phải áp dụng chính sách hỗ trợ phù hợp, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cán bộ, sắp xếp lại một cách khoa học, đồng thời có chính sách vận động, tạo điều kiện cho những cán bộ sắp nghỉ hưu hoặc chuyển đổi công việc.


Sau khi thực hiện sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 18-NQ/TW, cần tiếp tục thực hiện các công việc sau để đảm bảo hoạt động hiệu quả và ổn định:


Cần rà soát và cập nhật hệ thống văn bản pháp luật để phù hợp với mô hình mới của tổ chức bộ máy. Việc này bao gồm sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị được sắp xếp, tinh gọn. Cần thiết lập các quy chế làm việc cụ thể để định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng cơ quan, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị.


Cần thực hiện các cuộc điều tra, khảo sát để đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy sau khi sắp xếp. Phân tích các số liệu liên quan đến hiệu suất công việc, sự hài lòng của nhân dân về dịch vụ hành chính. Định kỳ tổng hợp và báo cáo kết quả hoạt động của bộ máy tổ chức với cấp trên để có những điều chỉnh kịp thời nếu cần thiết.


Sau khi sắp xếp, đội ngũ cán bộ có thể cần phải được đào tạo nâng cao năng lực, chuyên môn để đáp ứng yêu cầu công việc mới. Các địa phương cần tổ chức các khóa bồi dưỡng, tập huấn phù hợp. Cần có chính sách hỗ trợ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nâng cao năng lực thông qua việc tài trợ cho các khóa học, chương trình nâng cao trình độ.


Tăng cường kiểm tra, giám sát, cần thiết lập hệ thống kiểm tra, giám sát độc lập để theo dõi hiệu quả hoạt động của bộ máy sau khi sắp xếp. Điều này bao gồm cả việc lấy ý kiến phản hồi từ người dân về sự phục vụ của các cơ quan nhà nước. Định kỳ yêu cầu các đơn vị thành viên báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ và công tác cải cách hành chính, để phát hiện sớm các vấn đề phát sinh và điều chỉnh kịp thời.


Cải cách về bộ máy phục vụ nhân dân, cần đảm bảo rằng sự thay đổi trong bộ máy nhà nước thực sự phục vụ lợi ích của nhân dân và tạo thuận lợi cho các dịch vụ hành chính. Tích cực thu thập ý kiến phản hồi từ người dân về dịch vụ công, để từ đó đưa ra những cải tiến phù hợp.


Tạo sự ổn định và động lực phát triển, đảm bảo sự ổn định cho cán bộ, công chức trong bộ máy sau sắp xếp, tránh để xảy ra tình trạng thiếu động lực do sự thay đổi quá nhiều. Cần xây dựng kế hoạch phát triển dài hạn, trong đó tính toán sự phù hợp với giai đoạn tiếp theo sau khi đã tinh giản tổ chức bộ máy.


Tóm lại, sau khi sắp xếp tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 18, phải đảm bảo tính hiệu quả và gần dân, tạo niềm tin trong nhân dân. Cần tập trung vào việc hoàn thiện quy định pháp lý, đánh giá hiệu quả hoạt động, đào tạo đội ngũ cán bộ, kiểm tra giám sát, phát huy vai trò của người dân và duy trì sự ổn định để từ đó có thể xây dựng một bộ máy nhà nước hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn mới./.

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ GIAO BAN BỘ QUỐC PHÒNG THÁNG 2/2025

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ GIAO BAN BỘ QUỐC PHÒNG THÁNG  2/2025.


Sáng 27/2, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, chủ trì Hội nghị giao ban Bộ Quốc phòng tháng 2/2025. Tham dự có các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu cùng đại diện các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.


Hội nghị đánh giá, trong tháng 2-2025, toàn quân đã triển khai đồng bộ, quyết liệt và hoàn thành toàn diện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Các hoạt động thi đua mừng Đảng, mừng Xuân Ất Tỵ diễn ra sôi nổi, hiệu quả. Công tác sẵn sàng chiến đấu được duy trì nghiêm, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Công tác giao, nhận quân bảo đảm nhanh, gọn, đủ chỉ tiêu, chất lượng cao hơn năm 2024.


Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ toàn quân và yêu cầu tiếp tục duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, không gian mạng; chủ động dự báo, xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Toàn quân cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; thực hiện tốt công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, chuyển đổi số và cải cách hành chính, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong thời gian tới.

NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN PHẢN CÔNG VÀ TIẾN CÔNG BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM

 NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN PHẢN CÔNG VÀ TIẾN CÔNG BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM

*****

Điểm nhấn về nghệ thuật quân sự trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam là nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của Đảng ta từ thế bị động nhanh chóng chuyển sang chủ động phản công và tiến công sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả.

Từ tháng 5-1975 đến tháng 4-1977, quân Pol Pot xâm chiếm các đảo Phú Quốc, Thổ Chu và xâm phạm chủ quyền lãnh thổ biên giới Tây Nam nước ta. Tháng 12-1978, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary tập trung nhiều sư đoàn mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, giết và làm bị thương nhiều dân thường, phá hủy nhiều nhà cửa, tài sản của nhân dân ta.

Trước hành động gây hấn và mở rộng chiến tranh xâm lược của quân Pol Pot, Đảng và Nhà nước ta đã kiềm chế và kiên trì chính sách hòa bình, hữu nghị với nhà nước Campuchia Dân chủ, nhưng càng kiềm chế thì kẻ địch càng lấn tới, buộc chúng ta phải đứng lên thực hiện quyền tự vệ chính đáng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm mở cuộc tổng phản công và tiến công chiến lược tiêu diệt quân địch trên tuyến biên giới Tây Nam; đồng thời sẵn sàng hỗ trợ các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia nổi dậy. Thực hiện phương châm tác chiến từ thế bị động sang chủ động phản công và tiến công là quyết định đúng đắn, sáng tạo của Đảng, thể hiện tư tưởng tích cực tiến công, nghĩa là tiến hành phản công địch bằng tiến công, lấy tiến công làm loại hình tác chiến chủ yếu.


Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định sử dụng 18 sư đoàn thuộc 3 quân đoàn (2, 3, 4); các Quân khu 5, 7, 9, các quân chủng và binh chủng cùng 600 xe tăng, bọc thép, 137 máy bay, 160 tàu chiến đấu và vận tải, tham gia cuộc phản công và tiến công lịch sử này (theo cuốn Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân). Quân ta vận dụng loại hình chiến dịch phản công và tiến công hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn, tiến hành đồng thời và kế tiếp nhau, giữa các chiến dịch không có khoảng cách.


Theo kế hoạch, từ ngày 23 đến 31-12-1978, ta mở cuộc tổng phản công và tiến công, mở đầu bằng một loạt chiến dịch quy mô cấp quân đoàn, từ 2 đến 3 sư đoàn của các quân đoàn 2, 3, 4; hoặc cụm sư đoàn của các Quân khu 5, 7, 9 được không quân chi viện, tiến công đồng thời từ 5 hướng (Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9 và Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4), trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, dài hơn 1.200km. Trong các chiến dịch phản công và tiến công, ta vận dụng phương pháp tác chiến chủ yếu là luồn sâu, ém sẵn và thọc sâu bằng lực lượng mạnh (quy mô cấp sư đoàn), kết hợp đột phá chính diện, hình thành thế bao vây nhiều tầng, chia cắt địch ra nhiều khu vực để tiêu diệt chúng. Bằng cách đánh đó, trên hướng Quân đoàn 3, chỉ trong một ngày, ta phá vỡ tuyến phòng ngự của 4 sư đoàn địch; trên hướng Quân đoàn 2 và Quân khu 9, trong hai ngày đánh tan 2 sư đoàn địch...


Đến ngày 31-12-1978, quân ta trên các hướng tiến công đã đẩy quân Pol Pot ra khỏi biên giới, hoàn thành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Theo yêu cầu của nhân dân và Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, các đơn vị bộ đội Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia tiến hành chiến dịch tiến công kế tiếp, bằng phương pháp tiến công trong hành tiến, với các đòn tiến công hiệp đồng tác chiến quân, binh chủng từ nhiều hướng, giải phóng thủ đô Phnom Penh ngày 7-1-1979.

Nữ điều dưỡng quân y "3 giỏi"

Sinh ra và lớn lên trên quê hương Hoài Đức, Hà Nội, tốt nghiệp Hệ Cao đẳng, Học viện Quân y (1994), với 31 năm công tác liên tục trong Quân đội, Trung tá QNCN Nguyễn Thị Kim Hồng có 13 năm đảm trách công tác chuyên môn làm điều dưỡng ở Trung tâm Khám bệnh đa khoa và Điều trị theo yêu cầu, Bệnh viện TƯQĐ 108. Chị Hồng chia sẻ: "Tôi rất biết ơn môi trường công tác bệnh viện, chính từ môi trường này mà tôi được tu dưỡng, rèn luyện, học hỏi thêm kiến thức chuyên ngành, trau dồi kỹ năng, nâng cao tay nghề”.

Nữ điều dưỡng quân y “3 giỏi”

Trung tá QNCN Nguyễn Thị Kim Hồng là gương điển hình tiên tiến Phong trào Thi đua Quyết thắng Bệnh viện TƯQĐ 108, năm 2020. 

Công việc hằng ngày chị Hồng đảm trách từ 6 giờ sáng đến 17 giờ 30 phút chiều, trong khoảng thời gian đó, chuẩn bị trang phục chỉnh tề, cùng tâm thế tự tin, thái độ niềm nở, sẵn sàng đón tiếp, tư vấn, hướng dẫn từng người bệnh tiến hành theo quy trình, cách thức đăng ký lấy số, thăm khám, điều trị. Tận tụy trong công việc, tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, đạt nhiều thành tích cao trong các hội thi, hội thao của trung tâm và bệnh viện.

Đặc biệt, chị Hồng đã có 1 sáng kiến đăng ký khám, chữa bệnh bằng “quét mã vạch QRCode giúp rút ngắn thời gian xếp hàng chờ đợi của người bệnh; năm 2016 đoạt giải cao hội thi “điều dưỡng có tay nghề giỏi” của Bệnh viện; tham gia nhóm đề tài cấp Bệnh viện về “nâng cao kỹ năng phục, làm hài lòng người bệnh”; viết bài đăng trên tạp chí chuyên ngành; từ tháng 9 đến tháng 12-2020, tham gia đoàn công tác giúp đỡ nhân dân TP Hồ Chí Minh phòng, chống dịch Covid-19, được UBND TP Hồ Chí Minh tặng Giấy khen.

Đánh giá về trình độ, năng lực, kinh nghiệm làm việc cấp dưới của mình, Thượng tá, TS Nguyễn Ngọc Quyền, Bí thư Chi bộ Khoa C-1A cho biết: ''Tôi được công tác cùng đồng chí Hồng nhiều năm, nhận thấy đồng chí Hồng là một điều dưỡng mẫn cán, có trình độ năng lực chuyên môn tốt, có kỹ năng, kinh nghiệm xử lý hiệu quả các tình huống phát sinh trong công tác; luôn biết làm hài lòng những bệnh nhân khó tính. Xứng đáng là người chị cả của trung tâm, làm gương sáng cho các đồng nghiệp noi theo''.

Nữ điều dưỡng quân y “3 giỏi”
Điều dưỡng Nguyễn Thị Kim Hồng tư vấn khám bệnh và hướng dẫn trị liệu cho bệnh nhân.

Luôn ghi nhớ lời Bác Hồ dạy: “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền”, hằng ngày phải tiếp xúc với nhiều đối tượng người bệnh với giới tính, độ tuổi, tính cách, loại bệnh khác nhau,… nhưng chị luôn biết làm hài lòng từng bệnh nhân, coi nỗi đau người bệnh như chính người thân trong gia đình mình. Để hoàn thành tốt công việc, chị Hồng cho biết trong mỗi việc làm cần phải có sự tận tâm, chân thành, tôn trọng người bệnh, ân cần hướng dẫn từ cách uống thuốc, động tác trị liệu cơ thể, vệ sinh vết thương đến bữa ăn, giấc ngủ, chế độ dinh dưỡng… Và điều quan trọng nhất là tạo cho người bệnh có niềm tin, nghị lực vượt qua bệnh tật.  

Nhận xét về tinh thần, thái độ, trách nhiệm chăm sóc, phục vụ người bệnh, cô Lê Thị Thảo và anh Hoàng Văn Tuấn (Hải Dương) cùng có chung đánh giá: ''Điều dưỡng Hồng luôn có thái độ rất ân cần, niềm nở trong đón tiếp, tư vấn, hướng dẫn khám bệnh; luôn coi chúng tôi như người thân trong nhà. Mỗi khi gặp chị, luôn thấy sự bận bịu công việc chuyên môn, song chị Hồng luôn dành thời gian hỏi thăm sức khỏe người bệnh''.

Cùng với làm tốt công việc chuyên môn, Trung tá QNCN Nguyễn Thị Kim Hồng còn hoàn thành xuất sắc vai trò Chủ tịch Hội Phụ nữ Trung tâm Khám bệnh đa khoa và Điều trị theo yêu cầu.

Nữ điều dưỡng quân y “3 giỏi”
Trung tá QNCN Nguyễn Thị Kim Hồng tham gia hiến máu nhân đạo.

Với 13 năm công tác là quãng thời gian chị đóng vai trò người thủ lĩnh Hội, bằng trí tuệ, tâm huyết, tình cảm và trách nhiệm của mình, chị Hồng đã kịp thời tham mưu cho lãnh đạo, chỉ huy Trung tâm có nhiều chủ trương, giải pháp phát huy khả năng các hội viên (điều dưỡng) trong thực hành chuyên môn và các phong trào chuyên trách của Hội, tiêu biểu như: Thành lập các tổ, đội đón tiếp, hướng dẫn, chăm sóc người bệnh ở các khu khám bệnh, nên đã phát huy tối đa sở trường cá nhân “vì việc chọn người” làm cho các hoạt động của Trung tâm luôn vận hành nhịp nhàng, hiệu quả. Hội duy trì hiệu quả một số mô hình: “Tiếp sức người bệnh”, “Trao yêu thương, nhân hạnh phúc”; các phong trào "Giỏi việc quân, đảm việc nhà", "Lao động giỏi, lao động sáng tạo", "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", "Vì sự tiến bộ phụ nữ y tế", “Phụ nữ ba đảm đang”…

Với những kết quả trên, chị Hồng đã vinh dự được nhận 1 bằng khen của Phụ nữ Quân đội; 3 bằng khen của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; 3 danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở; 2 giấy khen của Bệnh viện…

Đại tá CKII Lê Hùng Trường, Giám đốc Trung tâm Khám bệnh đa khoa và Điều trị theo yêu cầu cho biết, Trung tá QNCN Nguyễn Thị Kim Hồng là một điều dưỡng viên giỏi, luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu và trách nhiệm với công việc, bệnh nhân. Mặc dù điều kiện gia đình còn gặp nhiều khó khăn, có chồng là cán bộ Quân đội nhưng đóng quân xa nhà, một mình nuôi 2 con nhỏ, chăm sóc bố mẹ già hai bên nội, ngoại, quê ở xa, nhưng đồng chí luôn đảm đương rất tốt cả hai vai, “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, thực sự là tấm gương vượt khó vươn lên, tận tâm, tận tụy với nghề. Những việc làm của đồng chí đã góp phần tạo dựng uy tín cũng là tôn chỉ “Tất cả vì người bệnh thân yêu” của Bệnh viện nói chung và Trung tâm Khám bệnh đa khoa và Điều trị theo yêu cầu nói riêng.

KHI HOÀ BÌNH CỦA MỘT ĐẤT NƯỚC MÀ PHỤ THUỘC VÀO CÁC NƯỚC KHÁC THÌ THẬT KHÓ

 Cuộc gặp của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky với ông Donald Trump đã kết thúc trong thảm họa vào ngày 28/2, sau khi hai nhà lãnh đạo cãi vã nảy lửa trước giới truyền thông thế giới tại Nhà Trắng.

Ông Zelensky coi cuộc gặp tại Phòng Bầu dục là cơ hội để thuyết phục Mỹ không đứng về phía Tổng thống Nga Vladimir Putin. Thay vào đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống J.D. Vance đã chỉ trích ông Zelensky, nói rằng ông thể hiện sự thiếu tôn trọng, đẩy mối quan hệ với đồng minh thời chiến quan trọng nhất của Kiev xuống mức thấp mới. Một quan chức Mỹ cho biết nhà lãnh đạo Ukraine đã được yêu cầu rời đi.

Một thỏa thuận giữa Ukraine và Mỹ để cùng phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của Ukraine, điều mà Kiev và các đồng minh châu Âu hy vọng sẽ mở ra mối quan hệ tốt đẹp hơn, cuối cùng vẫn chưa được ký kết.

Ông Trump đã nghiêng về phía Nga kể từ khi lên nắm quyền Tổng thống, gây sốc cho các đồng minh truyền thống ở châu Âu đồng thời khiến Ukraine ngày càng dễ bị tổn thương. Sự việc xảy ra hôm 28/2 là sự thể hiện công khai nhất về sự thay đổi đó.

Ông Vance nhấn mạnh sự cần thiết của ngoại giao để giải quyết cuộc xung đột lớn nhất ở châu Âu kể từ Thế chiến II, trong khi ông Zelensky khoanh tay, phản bác rằng không thể tin ông Putin trong bất kỳ cuộc đàm phán nào và lưu ý rằng ông Vance chưa bao giờ đến thăm Ukraine.

Ông Zelensky còn công khai thách thức ông Trump về cách tiếp cận nhẹ nhàng của ông với ông Putin, kêu gọi ông "không thỏa hiệp với kẻ giết người".

Ông Trump, trước đó cho biết nhóm của ông đang "đứng lên vì người Mỹ", đã nhanh chóng lên mạng xã hội Truth Social để cáo buộc ông Zelensky không tôn trọng nước Mỹ.

“Tôi đã xác định rằng Tổng thống Zelensky chưa sẵn sàng cho hòa bình nếu có sự tham gia của Mỹ”, ông viết. “Ông ấy có thể quay lại khi sẵn sàng cho hòa bình".

Thế mới thấy, một đất nước không tự quyết định vận mệnh của mình thì rất khó có hòa bình.

PBVN ST 


CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH - NHỮNG DẤU ẤN CÒN MÃI

 CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH - NHỮNG DẤU ẤN CÒN MÃI


Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), vốn đã đầy ắp những sự kiện, nhưng càng trở nên phong phú, sinh động hơn bởi trong đó Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước có ý nghĩa giá trị dân tộc và thời đại sâu sắc. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, Chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn là đỉnh cao thắng lợi của chiến tranh cách mạng Việt Nam, đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta những trang vàng chói lọi nhất.


Sau Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27-1-1973), nhận thấy tương quan so sánh lực lượng đã hoàn toàn nghiêng về phía ta, ngày 7-1-1975, Bộ Chính trị họp “Bàn về tình hình và nhiệm vụ cuộc chống Mỹ, cứu nước” hạ quyết tâm lịch sử: Giải phóng miền Nam. Bộ Chính trị nhận thấy quân Mỹ khó có khả năng quay lại tham chiến tại miền Nam và nhất trí thông qua phương án giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976, đồng thời chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu và xác định: “Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực”[1]. Thực hiện chủ trương đề ra, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, bắt đầu từ ngày 4-3-1975 với chiến thắng mở đầu Buôn Ma Thuột. Tiếp đó, chiến thắng ở Tây nguyên, chiến thắng Trị Thiên - Huế, chiến thắng Đà Nẵng và miền Trung Trung Bộ đã làm thay đổi hẳn lực lượng so sánh giữa ta và địch. Quân ngụy Sài Gòn không những không có khả năng lấy lại các vùng đã mất mà còn đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí trong Quân ủy Trung ương duyệt phương án tác chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh (Hà Nội, 4-1975). Ảnh: TTXVN

Đánh giá thế và lực so sánh ta - địch sau chiến thắng miền Trung, Bộ Chính trị họp ngày 31-3-1975 nhận định: “Về chiến lược, về lực lượng quân sự, chính trị, ta đã có sức mạnh áp đảo, địch đang đứng trước nguy cơ sụp đổ và diệt vong. Mỹ tỏ ra hoàn toàn bất lực, dù có tăng viện cũng không thể cứu vãn được tình thế của ngụy. Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt, mà thời cơ để mở tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn - Gia Định đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu”[2].


Từ đánh giá đó, Bộ Chính trị quyết định: “Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm. Phải hành động “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”. Phải tiến công những lúc địch hoang mang, suy sụp. Tập trung lực lượng lớn hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trên từng hướng, trong từng lúc. Phát huy sức mạnh của ba đòn chiến lược, kết hợp tiến công và nổi dậy, từ ngoài đánh vào, từ trong đánh ra”.

GIỮ LIÊM - SỈ LÀ GIỮ CÁI GỐC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 GIỮ LIÊM - SỈ LÀ GIỮ CÁI GỐC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN 


Bộ Chính trị vừa ban hành Chỉ thị số 42-CT/TƯ về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Theo đó, cán bộ, đảng viên phải biết trọng liêm sỉ, không tham nhũng, lãng phí.


Chỉ thị được ban hành khi cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí do Đảng ta phát động và trực tiếp chỉ đạo trong thời gian qua đã đạt nhiều kết quả rất khả quan, nhiều cán bộ có hành vi tham nhũng đã bị kỷ luật, bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nạn tham nhũng bước đầu đã được ngăn chặn, lòng tin của nhân dân vào Đảng cầm quyền trong sạch, vì dân, không tham nhũng ngày càng được củng cố.


Tuy nhiên, phải ban hành thêm Chỉ thị này cho thấy Đảng ta đặc biệt chú trọng đến công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức và yêu cầu về tinh thần tự tu dưỡng, tự rèn luyện, nêu gương sáng của cán bộ đảng viên, nhất là những cán bộ đảng viên giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan Đảng, Nhà nước. Bởi chúng ta ai cũng biết rằng, tham nhũng là căn bệnh cộng sinh với quyền lực. Ở đâu mà quyền lực nhà nước không được kiểm soát tốt, thì ở đó, nạn tham nhũng có cơ hội hoành hành.


Lịch sử 80 năm lập nước, chưa bao giờ chúng ta phải chứng kiến nhiều vụ án tham nhũng bị phanh phui như trong vài nhiệm kỳ gần đây. Cũng chưa bao giờ có nhiều cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước bị kỷ luật, bị truy tố và chịu sự trừng phạt của pháp luật vì liên quan đến tội danh tham nhũng như vậy.


Từ đại án tham nhũng "Kit test Việt Á", "Chuyến bay giải cứu", đến vụ án xảy ra trong ngành Đăng kiểm Việt Nam; từ vụ án AIC đến vụ lừa đảo, rửa tiền, chiếm đoạt tài sản ở Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, những vụ tham nhũng xảy ra ở Tập đoàn Phúc Sơn, Tập đoàn Thuận An, Công ty Sài Gòn - Đại Ninh, Công ty Xuyên Việt Oil… ở đâu cũng thấy có sự nhúng tay của một số cán bộ quyền cao chức trọng.


Chỉ tính riêng liên quan đến Tập đoàn Phúc Sơn, Thuận An, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật 58 tổ chức Đảng, 86 đảng viên, trong đó có 17 cán bộ diện Trung ương quản lý. Về xử lý hình sự, đến nay đã khởi tố 44 bị can, trong đó có 10 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Riêng vụ án xảy ra tại tập đoàn Phúc Sơn đã khởi tố 8 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trong đó có 4 Bí thư, nguyên Bí thư tỉnh ủy; 3 Chủ tịch, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh.


Chính lòng tham chứ không phải là gì khác, đã hủy hoại toàn bộ sự nghiệp, danh dự, lý tưởng của họ - những người từng được xem là tinh hoa của đất nước. Bất chấp luật pháp và đạo lý, họ đã tìm mọi cách vơ vét, trục lợi cho bản thân và phe nhóm, sân sau của mình, trong khi đi đâu, làm gì họ cũng luôn lớn tiếng rao giảng đạo đức, tiết tháo làm người!


Với Chỉ thị 42-CT/TƯ, Bộ Chính trị một lần nữa nhấn mạnh đến vai trò giáo dục nền tảng đạo đức, phẩm chất của cán bộ đảng viên là cần thiết, nhằm ngăn chặn tình trạng tham nhũng trong bộ máy công quyền. Vì vậy, Bộ Chính trị yêu cầu cán bộ đảng viên giữ liêm - sỉ và không tham nhũng, lãng phí.


Bởi người biết trọng chữ liêm, sẽ không tham lam, biết giữ mình trong sạch, không lợi dụng địa vị để dĩ công vi tư, nhũng nhiễu, bóc lột nhân dân, không dám làm trái quốc pháp và đạo lý luân thường.


Người giữ sỉ sẽ biết xấu hổ, gặp chuyện không hợp đạo lý, trái lương tâm thì tuyệt đối không làm; biết thẹn khi không đủ tài đức mà dám cầm trọng trách; càng xấu hổ vì mình đã phản bội lại lý tưởng; “nói một đàng làm một nẻo”; miệng rao giảng đạo đức nhưng sẵn sàng đếm tiền bẩn nhoay nhoáy dưới gầm bàn…


Không liêm thì của gì cũng dám lấy; không sỉ thì việc gì cũng bất chấp mà làm. Người như thế, không chỉ “thân bại danh liệt" và thử hỏi, có tai họa nào không tìm đến? Cán bộ lãnh đạo tốt là người phải biết cách để đạo đức được lan tỏa, quốc pháp được thi hành. Ngược lại, thấy cái gì cũng rắp tâm mưu đoạt, việc gì cũng dùng mọi thủ đoạn để làm, thì bị xã hội lên án, bị Đảng kỷ luật, pháp luật trừng trị là lẽ đương nhiên!


Trọng liêm - sỉ, cán bộ sẽ biết mình phải làm gì, sống thế nào để giữ được thanh danh, xứng đáng là công bộc của dân.


Không ai dám chắc cả đời làm quan không có khuyết điểm, thậm chí là sai lầm. Điều quan trọng là ứng xử thế nào để vừa giữ tròn danh dự mà không tổn hại đến sự nghiệp chung. Dám từ chức khi bị kỷ luật, khi thấy mình năng lực hạn chế, uy tín giảm sút là sự dũng cảm của những người biết liêm - sỉ; không chỉ giữ thanh danh cho mình, mà còn là cách để giữ thanh danh cho Đảng; để mình không là lực cản trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, góp phần làm trong sạch bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Khẳng định thương hiệu thầy thuốc bộ đội Cụ Hồ

Trong những năm qua, ngành quân y được đầu tư toàn diện, tạo tiền đề cơ bản cho việc nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe bộ đội. Hệ thống y học dự phòng được quan tâm nâng cấp toàn diện theo hướng đồng bộ từ cơ sở, nâng cao chất lượng, khả năng giám sát, phát hiện sớm, khống chế dịch bệnh, hạn chế đến mức thấp nhất dịch lây lan vào các đơn vị Quân đội.

Vinh quang người chiến sĩ áo trắng - Bài 2: Khẳng định thương hiệu thầy thuốc Bộ đội Cụ Hồ
Bác sĩ Bệnh viện Quân y 103 thăm khám cho bệnh nhân tận tình, chu đáo. Ảnh: QUANG DŨNG

Tuyến quân y đơn vị từ cấp đại đội (tuyến đầu tiên có biên chế nhân viên quân y) tới cấp tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn và tương đương được xem như tuyến y tế cơ sở, nơi trực tiếp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho bộ đội được quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị. Chất lượng công tác quản lý sức khỏe và cấp cứu, điều trị từng bước phát triển vững chắc, làm chủ các kỹ thuật theo phân tuyến chuyên môn, trong đó đã thực hiện được một số phẫu thuật trung phẫu. Đặc biệt, tuyến quân y đơn vị thực hiện tốt công tác phát hiện, xử trí hiệu quả các ca cấp cứu phức tạp ngay từ cơ sở, vận chuyển lên tuyến trên cứu chữa kịp thời...

Sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế trong những năm qua đã làm thay đổi cơ bản hệ thống bệnh viện Quân đội về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, tạo ra những bước phát triển nhảy vọt về chất lượng thu dung, cấp cứu, điều trị và phát triển khoa học kỹ thuật của toàn ngành. Các bệnh viện tuyến chiến dịch đã làm chủ được nhiều kỹ thuật của tuyến trên, như phẫu thuật cột sống, sọ não, điều trị ung thư, phẫu thuật nội soi cắt dạ dày, đại tràng, phẫu thuật nội soi lấy sỏi thận qua da bằng đường hầm nhỏ được thực hiện thường quy.

Các bệnh viện quân y tuyến cuối có bước phát triển khá vững chắc và toàn diện về kỹ thuật mới, kỹ thuật hiện đại, có nhiều kỹ thuật mũi nhọn ngang tầm khu vực, như điều trị ung thư, ghép tạng, ghép đa tạng (ghép thận, ghép gan, ghép tim, ghép đồng thời tụy thận, ghép phổi, ghép chi thể...), phẫu thuật nội soi, can thiệp tim mạch, kỹ thuật ECMO... Một số bệnh viện như Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Quân y 175, Bệnh viện Quân y 103, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác phát triển, làm chủ được nhiều kỹ thuật chuyên sâu, tương đương với trình độ các nước có nền y học tiên tiến trong khu vực. 

Vinh quang người chiến sĩ áo trắng - Bài 2: Khẳng định thương hiệu thầy thuốc Bộ đội Cụ Hồ
Các y, bác sĩ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 phẫu thuật cho bệnh nhân bị di chứng chấn thương vùng hàm mặt. Ảnh: AN NGỌC

Chia sẻ về công tác phát triển kỹ thuật mới trong khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Quân y 103, Đại tá, PGS, TS, bác sĩ Tạ Bá Thắng, Phó giám đốc Bệnh viện cho biết: Năm 2024, Bệnh viện triển khai phát triển một số kỹ thuật mới, như tiêm nong khớp vai dưới hướng dẫn của siêu âm; phẫu thuật nội soi cột sống, phẫu thuật nội soi hoàn toàn cắt đại tràng phải, phẫu thuật nội soi cắt thận người hiến sống, phẫu thuật ghép gan... Một số kỹ thuật cao, kỹ thuật truyền thống được duy trì và phát triển. Nổi bật là trong lĩnh vực ghép tạng, tính đến cuối năm 2024, Bệnh viện đã thực hiện ghép thận được tổng số 1.627 cặp (trong đó riêng năm 2024 ghép 215 cặp). Cũng trong năm vừa qua, Bệnh viện triển khai phẫu thuật 4 ca ghép gan dưới sự hỗ trợ của chuyên gia Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và phát triển nhiều kỹ thuật can thiệp, phẫu thuật tim mạch, như điện sinh lý tim, cấy máy tạo nhịp, phẫu thuật tim và mạch máu, siêu âm tim, siêu âm mạch máu...

Cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại, công tác huấn luyện, đào tạo quân y luôn được chú trọng nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y. Trong giai đoạn 2018-2023, toàn ngành quân y đã đào tạo 7.855 cán bộ, nhân viên quân y, trong đó có hơn 1.700 bác sĩ, 155 tiến sĩ, 234 thạc sĩ, góp phần đưa tỷ lệ cán bộ sau đại học toàn ngành đạt 66,47%. Riêng trong năm 2024, cán bộ ngành quân y vinh dự được Nhà nước phong tặng 5 giáo sư, 28 phó giáo sư, 10 Thầy thuốc Nhân dân, 37 Thầy thuốc Ưu tú. 

Ở Bệnh viện Quân y 103, nhiều y, bác sĩ nhắc đến câu chuyện của bệnh nhân Nguyễn Thành Tuấn Anh (40 tuổi, là Việt kiều tại Đức) đang điều trị tại Bộ môn-Khoa Phục hồi chức năng như một sự hồi sinh kỳ diệu. Hơn một năm trước, khi đang sinh sống tại Đức, anh Tuấn Anh bị đột quỵ, liệt toàn thân. Các bệnh viện ở Đức không tìm ra phương pháp điều trị phục hồi. Được người quen giới thiệu, gia đình đưa anh về Việt Nam, đến Bệnh viện Quân y 103 với hy vọng “còn nước còn tát”. Tưởng như vô phương cứu chữa, nhưng sau một năm điều trị với sự chăm sóc tích cực và phương pháp trị liệu riêng biệt của Thiếu tá QNCN Lê Văn Viễn, Kỹ thuật viên Bộ môn-Khoa Phục hồi chức năng, bệnh nhân Nguyễn Thành Tuấn Anh đã hồi phục kỳ diệu. Từ một người bị liệt toàn thân, đến nay, anh đã có thể vận động tay, chân, tự mình bước đi mà không cần người hỗ trợ. 

Vinh quang người chiến sĩ áo trắng - Bài 2: Khẳng định thương hiệu thầy thuốc Bộ đội Cụ Hồ
Bác sĩ Bệnh viện Quân y 103 thăm khám cho bệnh nhân tận tình, chu đáo. Ảnh: QUANG DŨNG

Thiếu tá QNCN Lê Văn Viễn nhớ lại: “Ngày bệnh nhân Tuấn Anh tự mình vịn tay vào thanh lan can tập đi và bước những bước tập tễnh sau một năm nằm bất động, cậu ấy đã khóc và nói rằng: “Em sống rồi, em sống rồi...”. Với người bác sĩ quân y, chúng tôi luôn coi bệnh nhân như người thân ruột thịt và chăm sóc, điều trị bằng tất cả tình cảm, trách nhiệm của người thầy thuốc chiến sĩ”.

Theo Đại tá, PGS, TS, bác sĩ Tạ Bá Thắng, năm 2024, Bệnh viện Quân y 103 đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng khám bệnh. Đáng chú ý là tổ chức phân luồng tại Khoa Khám bệnh, điều chỉnh hoạt động của các khoa: Cấp cứu, Siêu âm, X-quang chẩn đoán... nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người bệnh. Bệnh viện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám bệnh, triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng phục vụ, như: Đăng ký khám, tra cứu thông tin thông minh, thanh toán từ xa... Vì thế, tỷ lệ hài lòng của người bệnh nội trú năm vừa qua đạt 96,85%. Năm 2024, Bệnh viện đã tổ chức khám cho 693.336 lượt bệnh nhân (đạt 115,6% kế hoạch, tăng 2% so với năm 2023).

Còn tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã triển khai hệ thống bệnh án điện tử, đăng ký khám bệnh trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt. Những cải tiến này không chỉ giúp giảm tải áp lực tại khu vực khám bệnh mà còn nâng cao hiệu quả vận hành, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người bệnh. Nhờ được đầu tư trang thiết bị hiện đại và làm chủ kỹ thuật tiên tiến, tăng cường chuyển đổi số, đơn giản hóa thủ tục hành chính nên số người đến khám, chữa bệnh đều tăng qua các năm. Trong năm 2024, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã khám bệnh cho hơn 1,1 triệu lượt bệnh nhân, tăng hơn 21.000 so với năm 2023; tỷ lệ bệnh nhân khỏi bệnh ra viện đạt 82,3% (vượt chỉ tiêu 17,3%). Năm 2024, Bệnh viện cũng tiến hành gần 43.200 ca phẫu thuật; trong đó 31,2% phẫu thuật loại đặc biệt, 43,8% loại 1; trung bình một bàn mổ sử dụng 3 ca/ngày. 

Những số liệu thống kê trong công tác khám, chữa bệnh ở các bệnh viện quân y tuyến cuối phần nào nói lên kết quả của toàn ngành. Trong giai đoạn 2018-2023, hệ thống quân y các cấp đã khám cho hàng chục triệu lượt người; thu dung tuyến bệnh viện hơn 3 triệu lượt người, tuyến bệnh xá hơn 500 nghìn lượt người. Tỷ lệ sử dụng giường tuyến bệnh viện đạt từ 135% đến gần 155%... Riêng năm 2024, hệ thống quân y đã khám bệnh cho hơn 6 triệu lượt người; phẫu thuật 193.769 ca, trong đó phẫu thuật loại 1 và loại đặc biệt 104.919 ca; tỷ lệ sử dụng giường 169,57%. 

Những kết quả trên cho thấy rất nhiều áp lực trong công tác chuyên môn, nhưng đồng thời cũng là niềm vui, niềm tự hào của đội ngũ thầy thuốc quân y khi được bộ đội và nhân dân tin tưởng.