Năm 1911, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bắt đầu ra đi tìm lý tưởng cách mạng sau khi phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX đã thất bại rơi vào bế tắc, các phong trào đầu thế kỷ thứ XX như Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân cho đến Việt Nam Quang phục hội đều không tìm được lối ra.
Nhưng lý tưởng
cách mạng mà Người tìm thấy cũng chỉ có thể ở dưới ánh sáng của Cách mạng tháng
Mười và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Pháp với sự ra đời của Đảng Cộng
sản Pháp. Những tờ báo Người cùng khổ và Bản án chế độ thực dân Pháp… là những
hạt giống của chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản đầu tiên gieo rắc
trên đất nước ta.
Trong bối cảnh
nước mất, phong trào Cần vương đã bị dập tắt. Phong trào Duy Tân bị đàn áp. Các
cuộc vận động Đông Du cũng bị thất bại. Từ đầu thế kỷ XX cho đến cuộc Chiến
tranh thế giới lần thứ nhất, người được xem là đã “làm một cuộc cách mạng trong
làng Nho”[1],
đó chính là cụ Phan Bội Châu. Cụ đã từng kiên trì bạo động, đã từng tuyên
truyền, cải cách… miễn sao giành lại độc lập cho non sông đất nước, nhưng cuối
cùng đều thất bại. Lúc ấy lịch sử đặt ra với dân tộc ta là một thử thách thật
khắc nghiệt.
Một câu hỏi lớn đặt ra là trong bối cảnh
như vậy: Ai là những người tiếp thu lý tưởng cách mạng mới ấy? Cũng như hạt
giống phải có miếng đất gieo trồng thích hợp thì hạt giống mới nảy mầm được,
nếu gặp miếng đất khô cằn thì không thể nảy mầm xanh ngọn. Người tiếp thu lý
tưởng mới ấy tất nhiên không phải là những sĩ phu trái mùa trong “làng nho”,
cũng không phải là tầng lớp tư sản mới hình thành, mà về căn bản, phải là những
người đương mang một sứ mệnh của lịch sử, xây dựng xã hội người không bóc lột
người. Theo đồng chí Trần Văn Giàu không ai khác là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc,
người “làm cuộc cách mạng trong tân nho, tôi (Trần Văn Giàu-TG) muốn nói trong
làng Tây học, đó là Nguyễn Ái Quốc”[2].
Trong lúc lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lê-nin về Việt Nam, giai cấp công nhân
Việt Nam đã phát triển tới mức độ nào? Trên thực tế, qua cuộc khai thác thuộc
địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, số công nhân, kể cả lao công tại các xí
nghiệp, công trường, không quá 10 vạn người, trình độ tập trung lúc ấy còn
thấp, ý thức giai cấp chưa rõ rệt chưa cho phép nói lên là giai cấp công nhân
đã thành hình rõ nét. Phải sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cuộc khai
thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp bước vào thời kỳ phồn vinh và tư
sản dân tộc Việt Nam đã có cơ phát triển thì số lượng công nhân mới tăng hẳn
lên. Còn số 22 vạn thợ chuyên nghiệp [3],
lấy năm 1930 làm mức, cộng với những cuộc đầu tranh lác đác nổ ra tại những nơi
công nhân tập trung từ năm 1920 đến năm 1925, mới nói lên giai cấp công nhân
thành hình cả về giai cấp tự nó đến giai cấp vì nó.
Ngoài giai cấp
công nhân hình thành và lãnh đạo cách mạng, thì số trí thức mới xuất thân từ
các tầng lớp tiểu tư sản, nhất là tầng lớp tiểu tư sản thành thị, là những
người đầu tiên tiếp thu những tư tưởng tiến bộ nhất của thời đại và mạnh bạo
bước vào cách mạng. Ở nước ta, những người đầu tiên tuyên truyền chủ nghĩa cộng
sản, tổ chức cộng sản, bên cạnh một số ít người thuộc thành phần công nhân, đại
đa số là trí thức tiểu tư sản, nhất là trung và tiểu trí thức.
Giới trí thức tiểu tư sản trong tầng lớp
trung gian là những nhà giáo, công chức nghèo, người làm nghề tự do, sinh viên,
học sinh bãi khóa trong dịp đòi thả Phan Bội Châu và để tang Phan Châu Trinh
năm 1926. Một số đông những người này, trong những ngày đầu “tầm sư học đạo” đã
hướng về Mát-xcơ-va (Liên Xô), hướng về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tìm đến giai
cấp công nhân… Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vì đã nắm vững quy luật phát triển và
thực tiễn cách mạng ở Việt Nam, năm 1925, trong điều kiện và hoàn cảnh, tình thế
lúc bây giờ, Người đã sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, là tổ chức
tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tế của Hội
Việt Nam cách mạng Thanh niên, là thành phần chủ yếu là tiểu tư sản có khuynh
hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh lịch sử ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lập
ra một tổ chức “Hội Thanh niên” lấy danh nghĩa thanh niên, nói rõ hơn là thanh
niên tiểu tư sản, làm động lực là rất đúng đắn, phù hợp với thực tế, điều kiện
lịch sử khi ấy. Cũng như đến giữa năm 1929, chủ trương thành lập Đảng Cộng sản
lại là một tất yếu của lịch sử, là một đòi hỏi bức thiết cho cách mạng Việt
Nam.
Trong bối cảnh
lịch sử ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc “nổi bật lên” khi giai cấp công nhân Việt
Nam vừa thành hình với một chính đảng đi theo đường lối đó. Lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc lại nổi bật lên khi 3 tổ chức cộng sản ra đời, cùng song song tồn tại,
thiếu sự nhất trí trong lãnh đạo, chỉ đạo, gây trở ngại cho phong trào cách
mạng Việt Nam đang lên mạnh mẽ. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho cách mạng Việt Nam là
phải có một chính đảng cộng sản của giai cấp công nhân thống nhất trong cả
nước. Thực tế lịch sử Việt Nam khi ấy, đòi hỏi phải có một bộ tham mưu duy nhất
để lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ dân tộc, dân chủ tiến lên xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh
khó tiến tới thành lập một chính Đảng thống nhất tách ra từ “Hội Việt Nam cách
mạng thanh niên” (Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng), hay giữa
“Hội Thanh niên” với Tân Việt Cách mạng Đảng (sau là Đông Dương Cộng sản Liên
đoàn) đã rất nhiều lần tìm cách “hợp nhất”; thậm chí đến Hội nghị (Đại hội đại
biểu toàn quốc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên họp ở Hương Cảng (Trung
Quốc), đầu tháng 5-1929, đoàn đại biểu Bắc Kỳ đã đề nghị: “Nếu không thành lập
ngay một Đảng Cộng sản, dù công khai hay bí mật, thì không thể tập hợp được
quần chúng đấu tranh dưới ngọn cờ của giai cấp vô sản được”[4].
Không được Đại hội chấp nhận, tức thì, ba đại biểu là Trần Văn Cung, Ngô Gia Tự
và Nguyễn Văn Tuân “tuyên bố thoát ly Đại hội” [5] bỏ
hội nghị ra về.
Quá trình thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, chúng ta thấy
một đặc điểm độc đáo của giai cấp công nhân Việt Nam và cũng là đặc điểm của
cách mạng Việt Nam là “lãnh tụ” (hay vai trò của cá nhân kiệt xuất) đã xuất
hiện trước khi giai cấp hình thành và chính Đảng tiên phong của giai cấp thành
lập. Đúng lúc đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã xuất hiện từ trước và đúng lúc của
thực tế lịch sử bức thiết đang đặt ra như vậy, nên Đảng Cộng sản Việt Nam đã dễ
dàng đi đến thống nhất và đường lối vạch ra của Đảng có một chỗ dựa vững chắc
rút ra từ kinh nghiệm tích luỹ của phong trào công nhân quốc tế. Đây là một đặc
điểm “độc đáo” của cách mạng Việt Nam, cũng là đặc điểm hiếm có trong lịch sử
dân tộc ta.
Từ năm 1925 đến
khi Đảng được thành lập ngày 3-2-1930 trở đi, Đảng đã lãnh đạo cuộc đấu tranh
đánh đổ đế quốc và phong kiến; lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm
1945; lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc để đi đến thống nhất nước nhà,
là cả một quá trình 30 năm (1945-1975) gian khổ, hào hùng của dân tộc ta. Lịch
sử đấu tranh do Đảng Cộng sản Việt Nam đội tiên phong của giai cấp công nhân
Việt Nam, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc
Việt Nam[6],
gắn liền với vai trò lịch sử của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người
sáng lập và rèn luyện Đảng ta. Con thuyền cách mạng Việt Nam trải bao sóng gió
vẫn “nổi bật” lên người lái thuyền, từ mái tóc xanh đến đầu bạc trắng, rất vững
tay, rất nhanh tay đưa chiếc thuyền đến bến bờ vinh quang ngày nay khi Đảng ta
vừa tròn 95 năm (1930-2025) trường tồn cùng dân tộc, trong kỷ nguyên vươn mình
của dân tộc có một ý nghĩa lịch sử rất lớn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét