Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận được ghi nhận ngay
trong bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp năm 1946): “Công dân Việt Nam có quyền:
tự do ngôn luận” (Điều 10), và tiếp tục được kế thừa trong các bản Hiến pháp
năm 1959 và Hiến pháp năm 1980. Tại điều 25, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng
định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận”, “việc thực hiện các quyền này do
pháp luật quy định”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định Đảng và Nhà nước
luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận của công dân.
Thực tiễn đời sống ở Việt Nam những
năm qua cho thấy, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất
là trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Đặc biệt, kể từ khi hòa mạng
Internet toàn cầu (năm 1997), Việt Nam liên tục thiết lập những kỷ lục mới, bảo
đảm quyền tự do ngôn luận, báo chí, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tìm kiếm,
trao đổi, thụ hưởng thông tin mọi lúc, mọi nơi của người dân cả trên các phương
tiện truyền thông đại chúng, cũng như truyền thông xã hội. Người dân Việt Nam
có thể dễ dàng truy cập vào tất cả các trang web, báo chí trên thế giới; có thể
bày tỏ mọi suy nghĩ, trăn trở, mong muốn chính đáng, hợp pháp, bảo đảm thuần
phong mỹ tục, mà không gặp phải bất cứ sự hạn chế, ngăn chặn, cấm đoán nào. Nhà
nước Việt Nam luôn quan tâm chăm lo thực hiện tốt quyền tự do cơ bản của con
người, của công dân, trong đó có tự do ngôn luận, nhưng đi kèm với đó phải là kỷ
luật, kỷ cương, pháp luật. Tạo mọi điều kiện tốt nhất để công dân thực hiện quyền
tự do, trong đó, có tự do ngôn luận nhưng với những hành vi lợi dụng tự do ngôn
luận để làm những điều trái luật, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác;
gây tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc… thì phải nghiêm trị theo pháp luật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét