Gần 40 năm đổi mới, lý luận tiềm lực quốc phòng đã có những đột
phá quan trọng trong tư duy và tổ chức thực hiện, tạo ra sức mạnh tổng hợp cho
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc (BVTQ). Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ
Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, toàn diện, có chiều sâu phát triển lý
luận và thực tiễn về xây dựng tiềm lực quốc phòng cả chính trị-tinh
thần, kinh tế, văn hóa, xã hội; khoa học-công nghệ, quân sự và đối ngoại.
Về chính trị-tinh thần: Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu lý luận phát huy tiềm
lực chính trị-tinh thần cho sự nghiệp BVTQ. Tiêu biểu là phương châm dựa vào
dân, “dân là gốc”, là trung tâm, là chủ thể; khơi dậy tinh thần yêu nước, phát
huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường của con
người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ; xây dựng “thế trận lòng dân” vững
chắc, yên dân là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và BVTQ.
Chúng ta đã phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí độc lập,
tự chủ, tự lực, tự cường của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thực hiện phương
châm “làng giữ làng, xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh”, đáp ứng
yêu cầu phòng thủ gắn với phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) trên từng địa
bàn và cả nước.
Về kinh tế, văn hóa, xã hội: Lý luận về xây dựng tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng
toàn dân có sự phát triển, đó là kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn
hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh (QP, AN) và QP, AN với kinh tế,
văn hóa, xã hội, đối ngoại. Qua đó dẫn dắt sự phát triển các thành phần kinh tế
đi đúng hướng và đạt hiệu quả. Những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá
cao, tạo nền tảng để tăng cường tiềm lực QS, QP. Thấm nhuần quan điểm “mỗi bước
phát triển KT-XH là một bước tăng cường QP, AN”, đã đẩy mạnh phát triển KT-XH
gắn với bảo đảm QP, AN của 6 vùng trên cả nước, đề án tăng cường tiềm lực QP,
AN gắn với phát triển KT-XH ở địa bàn hướng chiến lược; phát triển 31 khu kinh
tế quốc phòng; văn hóa, xã hội được phát triển toàn diện với những chủ trương,
chiến lược, bước đi vững chắc.
Tiềm lực khoa học-công nghệ được chú trọng đầu tư, phát triển
toàn diện lý luận về nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội nhân văn quân sự, kỹ
thuật, công nghệ quân sự, hậu cần, tài chính... Nhiều công trình khoa học
nghiên cứu phát triển lý luận mới xây dựng Quân đội trên các lĩnh vực tư tưởng,
chính trị, đạo đức, tổ chức, cán bộ, đặc biệt là lý luận về phát triển nền công
nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc
gia; đầu tư nghiên cứu, sản xuất một số loại vũ khí, trang bị có ý nghĩa chiến
lược đáp ứng yêu cầu BVTQ thời kỳ mới.
Về quân sự, những năm qua: Có nhiều công trình nghiên cứu lý luận về xây
dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh; Quân đội hiện đại; nghệ thuật quân sự; phát
triển phương tiện, vũ khí đáp ứng yêu cầu chiến tranh hiện đại, công nghệ cao;
xây dựng nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao. LLVT được đầu tư phát triển
toàn diện, bộ đội chủ lực điều chỉnh theo hướng tinh, gọn, mạnh; dân quân tự vệ
phát triển cả về số lượng và chất lượng, chú trọng dân quân, tự vệ biên giới,
biển, đảo; lực lượng dự bị động viên ngày càng hùng hậu; chất lượng huấn luyện,
diễn tập ngày càng cao, từng bước làm chủ công nghệ mới; nâng cao khả năng tác
chiến...
Về đối ngoại: Đã
có sự phát triển lý luận về tiềm lực đối ngoại, chỉ rõ mục tiêu, vai trò của
hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Phát huy vai trò tiên phong của đối
ngoại quốc phòng trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát
triển đất nước. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được triển
khai đồng bộ với nhiều cách làm sáng tạo đạt kết quả khá toàn diện, đóng góp
quan trọng vào thành công chung của công tác đối ngoại, tăng cường tiềm lực
quốc phòng, xây dựng Quân đội, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội
trên trường quốc tế...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét