Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng muốn cách mạng thành công phải có quần chúng nhân dân và người lãnh đạo, dân tin dân theo và dân ủng hộ cách mạng, đó chính là nền tảng thắng lợi của cách mạng. Nhưng để công sức và phong trào của nhân dân ít bị đổ máu một cách vô ích nhất cần có những người lãnh đạo chèo lái con thuyền cách mạng đưa đấu tranh đến thắng lợi, đó chính là vai trò của đội ngũ cán bộ trong cách mạng, đặc biệt trong gia đoạn hiện nay, vai trò của đội ngũ cán bộ quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lại càng vô cùng quan trọng, khi đất nước xác định đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam..
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc
xây dựng đội ngũ cán bộ. Người đánh giá cao vai trò của đội ngũ cán bộ trong sự
nghiệp cách mạng và chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”,
“Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Theo Người:“Cán
bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động
cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là người đem chính sách của
Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách
hay cũng không thể thực hiện được”. Nhân dân
thường đánh giá cán bộ thông qua những lời nói và việc làm cụ thể hàng
ngày. “Nói một đằng, làm một nẻo” là điều tối kỵ đối với người
cán bộ. “Một sự bất tín, vạn sự bất tin”, người cán bộ một khi đã
không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chỉ là người “vô tích sự,
không làm nên trò trống gì”.
Người cũng khẳng định làm cách mạng phải có đạo
đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng nặng nề vẻ
vang. Người cán bộ có đạo đức cách mạng thì nghĩ, nói và làm phải thống nhất.
Người còn căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc
gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”. Chính vì vậy, để đưa cách mạng đến
thắng lợi cuối cùng, cần phải có một đội ngũ cán bộ cách mạng vững mạnh, kiên
định về lập trường, quan điểm, đồng thời phải nắm được lý luận, tinh thông
nghiệp vụ, hội tụ đủ cả tài và đức, “vừa hồng, vừa chuyên”.
Trong những
năm qua, vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và xây
dựng đội ngũ cán bộ, Đảng ta chủ
trương xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách
nhiệm vì lợi ích chung được quan tâm đề cập qua nhiều kỳ Đại hội. Tại
Nghị quyết Đại hội IV của Đảng đặt ra yêu cầu thực hiện triệt để nguyên
tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách trong cấp ủy, trong đó nêu rõ, cần tránh tâm lý “ỷ
lại vào tập thể, sợ trách nhiệm, không dám quyết đoán”.
Tới Đại hội V
của Đảng, báo cáo về công tác xây dựng Đảng đã thẳng thắn nêu ra tình trạng mất
dân chủ, dân chủ hình thức, thiếu phê bình từ dưới lên do hiện tượng gia
trưởng, độc đoán, thành kiến, trù dập những cán bộ dám phê bình khuyết điểm,
xem đó là biểu hiện “tiêu cực”, khiến cho cán bộ không dám thẳng thắn đấu
tranh, phê phán những biểu hiện sai trái, tiêu cực. Báo cáo cũng nhấn mạnh, cần
phát hiện và kết nạp những người “trung thực đã dám vì sự nghiệp chung
mà vạch trần khuyết điểm bảo vệ chân lý”; đồng thời, tập hợp những cán bộ
có “tinh thần dám quyết định và dám chịu trách nhiệm để hoàn thành
nhiệm vụ”.
Đặc biệt, Đại
hội VI của Đảng đã mở ra một bước ngoặt lịch sử đối với đất nước ta khi quyết
định xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thay đổi trong phân phối, lưu
thông, đổi mới trong cách nghĩ, cách làm, cách tiếp cận của Đảng ta về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Báo cáo chính trị trình Đại hội VI khẳng định,
để công cuộc đổi mới thành công, cần phải “dám thừa nhận và thay đổi
những quyết định sai lầm, dám xử lý kiên quyết những trường hợp phức tạp”.
Báo cáo cũng chỉ rõ những khó khăn, thách thức khi dám thay đổi tư duy và cơ
chế quản lý, đó là “cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ
và cái lạc hậu”, không những sẽ chịu lực cản từ những lề thói cũ, mà
còn “vấp phải những đặc quyền, đặc lợi của một số người gắn bó với cơ
chế cũ”.
Nghị quyết số
05-NQ/HNTW, ngày 20-6-1988, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VI, về “Một số
vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của
Đảng”, lần đầu tiên đưa “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách
nhiệm” trở thành một tiêu chuẩn đối với cán bộ lãnh đạo, là tuyên ngôn
chính trị mạnh mẽ của Đảng ta về phẩm chất cần có của những con người cách
mạng. Dám nghĩ, dám làm không chỉ là một phẩm chất cần được khuyến khích, mà
còn thể hiện tinh thần trách nhiệm cần phải có và nhiệt tình cách mạng của
người cán bộ lãnh đạo.
Thực tiễn đã
chỉ rõ, trước những khó khăn, thách thức, người cán bộ “dám nghĩ, dám làm, dám
chịu trách nhiệm” chính là người có quyết tâm, có tầm nhìn, có suy nghĩ táo
bạo, dám đưa ra quyết định đột phá, để không chỉ hoàn thành nhiệm vụ được giao mà
hơn thế còn mang lại lợi ích to lớn cho dân tộc, cho nhân dân ta, như: Bí thư
Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc là một trong những người cán bộ lãnh đạo như thế.
Ông là người tiên phong đổi mới, sáng tạo trong nông nghiệp ở Việt Nam khi thực
hiện giao khoán ruộng đất cho từng hộ nông dân những năm 1966 - 1968. Đây là
quyết định táo bạo và vượt ra phạm vi, khuôn khổ của tư duy, quan điểm, đường
lối của Đảng lúc bấy giờ.
Và thực tiễn
đã chứng minh quyết định ấy là đúng đắn, có tính chất đột phá đột phá và mang
lại hiệu quả thiết thực to lớn, khơi dậy sức lao động của người nông dân; hay
như việc đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, khởi xướng công cuộc đổi mới
đất nước của đồng chí Cố Tổng Bí thư Trường Chinh; “xóa bỏ tem phiếu”, “cơ chế
một giá theo thị trường” của đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) tại tỉnh Long
An; “những việc cần làm ngay” và “cơ chế thị trường” của đồng chí Nguyễn Văn
Linh; xóa bỏ tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, thực hiện dự án khai thác vùng
Đồng Tháp Mười, xây dựng kênh thoát lũ ra biển Tây, “ngọt hóa” vùng Tứ giác
Long Xuyên; xây dựng đường dây tải điện 500Kv của đồng chí Võ Văn Kiệt; chuyển
đổi hệ thống ngân hàng, chính sách tỷ giá phù hợp với cơ chế thị trường của
đồng chí Đỗ Mười,... Đó là những tấm gương mẫu mực về bản lĩnh, tinh thần đổi
mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Lý do
là vì sự đổi mới, dám nghĩ, dám làm của họ đều là vì phục vụ mục đích chung của
đất nước, không phải vì tư lợi. Do đó, những người đi trước đổi mới, sáng tạo,
thậm chí vượt rào đều được ghi nhận một cách xứng đáng.
Ngày
16-01-2012, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban
hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng
hiện nay”, trong đó chỉ ra nguy cơ của việc thiếu một cơ chế xác định trách
nhiệm rõ ràng trong thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
dẫn đến tình trạng không khuyến khích được người đứng đầu có nhiệt tình, tâm
huyết, dám nghĩ, dám làm; đồng thời, đặt ra yêu cầu cần có cơ chế, chính sách
để giải quyết mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, phát huy vai trò của người
đứng đầu nhằm “khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng”.Tại Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh bảo vệ, khuyến
khích cán bộ “dám nghĩ,
dám làm, dám chịu trách nhiệm,dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu
với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung” đi đôi với sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí
công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín.
Tuy nhiên,
hiện nay tâm lý sợ trách nhiệm, sợ sai sót, làm việc cầm chừng trong thực thi
công vụ là hiện tượng khá phổ biến trên thực tế, vẫn còn tình trạng một bộ phận
cán bộ có những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, làm việc tắc trách, trì trệ, dựa
dẫm vào tập thể, nói không đi đôi với làm hoặc làm chiếu lệ; khi có sai sót,
khuyết điểm không dám chịu trách nhiệm mà tìm cách đổ lỗi cho hoàn cảnh hoặc
cho người khác. Rõ nhất là việc tổ chức nhiều cuộc họp xin ý kiến nhiều lần
trong cùng vụ việc hoặc cái gì cũng xin ý kiến cấp trên chỉ đạo làm đảo lộn
trật tự hành chính về thẩm quyền, từ người có trách nhiệm tham mưu thành người
tham mưu ngược lại theo hướng “dựa lưng cấp trên”.
Mới đây, tại
Hội nghị Quân uỷ Trung ương lần thứ sáu, nhiệm kỳ 2020-2025, Cố Cố Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng đã một lần nữa nhấn mạnh: Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội
ngũ cán bộ quân đội theo tinh thần "7 dám": "dám nghĩ,
dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương
đầu với khó khăn, thử thách, và dám hành động vì lợi ích chung". Sở
dĩ, Cố Tổng Bí thư đặt ra yêu cầu cao hơn là bởi vì: Đảng ta không có lợi ích
nào khác ngoài đưa đất nước vươn lên giàu mạnh, người dân ấm no, hạnh phúc. Hơn
lúc nào hết, chúng ta cần những cán bộ có tư duy, việc làm đột phá, càng trong
khó khăn, thử thách thì càng cần những cán bộ có bản lĩnh, trình độ, dám nghĩ,
dám làm. Mặt khác, đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội là những chủ thể được tiếp
nối, thụ hưởng những giá trị truyền thống vẻ vang của Quân đội anh hùng; là đội
quân tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; là công cụ bảo vệ
Đảng, Nhà nước, sự nghiệp cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Với sứ mệnh to
lớn, lại hoạt động trong điều kiện, lĩnh vực đặc thù, thì càng đòi hỏi mỗi
người phải có bản lĩnh vững vàng, nhãn quan chính trị sâu rộng; có tinh thần
dấn thân, chấp nhận hy sinh vì lợi ích chung trong bất luận mọi tình huống. Chỉ
có những cán bộ “7 dám” mới có thể góp phần hoàn thành sứ mệnh của một đội quân
cách mạng, một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Trước hết cần phải làm rõ và cụ thể
hóa tinh thần “7 dám” cụ thể như sau:
“Dám nghĩ” phải thể hiện được cái tâm, cái tầm, cái trí của
cán bộ. Nghĩ vì lợi ích chung của tập thể, của xã hội; suy nghĩ tích cực để có
sáng kiến mới, hiệu quả chứ không phải “dám nghĩ" để đạt được lợi ích
nhóm, lợi ích cá nhân. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy tùy cấp thì “dám nghĩ” đến
chiến lược, sách lược mang tính định hướng dài hạn của một cơ quan, đơn vị, của
địa phương, ngành... Cán bộ cấp thừa hành thì “dám nghĩ” đến sáng kiến đề xuất
biện pháp, cách thức tổ chức thực hiện hiệu quả nhất.
“Dám nói” thể hiện được cái dũng của cán bộ, trên cơ sở
những điều “dám nghĩ” tích cực. Tuy nhiên, “dám nói” nghĩa là phải nói đúng
nơi, đúng lúc, đúng thời điểm, đúng người cần nghe, nói trên tinh thần xây
dựng, nói để phản biện xã hội để đạt được cái thống nhất chứ không phải đụng
đâu nói đó, nói một cách tùy tiện, nói để thỏa mãn cái tôi.
“Dám làm” là thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của cán
bộ, đó cũng là thước đo bản lĩnh, năng lực triển khai thực hành nhiệm vụ được
giao của cán bộ. Đối với cán bộ lãnh đạo thì “dám làm” là năng lực xây dựng kế
hoạch, chương trình hành động với các biện pháp tổ chức thực hiện khoa học, hợp
lý, chính xác, phát huy được sức mạnh tập thể.
Đối với cán bộ thực hiện “Dám làm” là khả năng vận
dụng linh hoạt khả năng thực hiện nhiệm vụ được giao, nâng cao khả năng hoàn để
thực hiện ý định của cấp trên một cách nhanh chóng, hiệu quả trên tinh thần
phát huy năng lực cá nhân cũng như khả năng phối hợp nhóm, mưu trí sáng tạo,
chủ động, linh hoạt trong quá thành nhiệm vụ, biến lý luận thành hiện
thực cách
mạng.
“Dám làm” còn phải được hiểu là phải làm
đúng, làm đủ và hoàn thành nhiệm vụ được giao trên cơ sở khoa học, có sự tư duy
tích cực, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ... khác với dám làm liều, làm ẩu, làm
cho qua việc, làm đối phó với cấp trên, làm chỉ vì lợi ích nhóm, lợi cá nhân.
“Dám chịu trách nhiệm” chính là bản lĩnh chính trị
của cán bộ, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp. “Dám chịu trách
nhiệm” còn là sự thể hiện năng lực dám tiếp nhận phê bình, đóng góp từ tập thể,
kể cả từ cấp dưới để điều chỉnh, bổ sung biện pháp chỉ huy điều hành phù hợp
với thực tế và chịu trách nhiệm đến cùng với quyết định của mình. Trong tình
hình hiện nay, “Dám chịu trách nhiệm” còn là năng lực “dám từ chối”, “dám nói
không” với tiêu cực.
“Dám đổi mới,
sáng tạo” là sự đánh giá năng lực tổng hợp nền tảng tri thức khoa học với
bản lĩnh chính trị tư tưởng của cán bộ. Đổi mới và sáng tạo là xu thế tất yếu
khách quan của sự phát triển. Cán bộ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững chắc,
nắm chắc xu thế phát triển sẽ mạnh dạn dám đổi mới, sáng tạo.
“Dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám
hành động vì lợi ích chung”: Quá trình đổi mới, thực hiện
nhiệm vụ hiện nay, việc gặp phải những khó khăn, thử thách là một tất yếu khách
quan. Tuy nhiên, yêu cầu cán bộ phải “Dám đương đầu với khó khăn, thử thách và
dám hành động vì lợi ích chung” là thước đo thực sự đối với bản lĩnh chính trị,
trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo đối với cán bộ các cấp, nhất là đối với
cán bộ lãnh đạo điều hành. Thực sự chỉ những cán bộ qua rèn luyện, thử thách mới
có thể đánh giá được. Đó là sự tổng hợp những cái “Dám” đã nêu ở trên.
Chỉ đạo về xây
dựng cán bộ Quân đội “7 dám” thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược sâu rộng trước yêu
cầu nhiệm vụ ngày càng nặng nề và vẻ vang trong tình hình mới của Quân đội;
đồng thời xuất phát từ thực tế đang đòi hỏi, như Cố Cố Tổng Bí thư đã phân tích
và yêu cầu: Gần đây, chúng ta nói nhiều đến tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm,
né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Tôi yêu cầu, trong Quân đội tuyệt đối không để
tình trạng này xảy ra, bởi người cán bộ, chỉ huy quân sự mà thiếu quyết đoán,
né tránh, đùn đẩy trách nhiệm thì sẽ bỏ lỡ thời cơ, dẫn đến thất bại trong xử
trí các tình huống...
Đối với đội
ngũ cán bộ quân đội hiện nay, với tính chất yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao đặt
ra yêu cầu về đội ngũ cán bộ càng phải tích cực thực hiện tinh thần “7 dám”. Học
tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những
năm qua, đội ngũ cán bộ quân đội đã luôn thể hiện bản lĩnh chính trị và tinh
thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn thử
thách.
Phát huy những
kết quả đã đạt được, đồng thời quán triệt tinh thần chỉ đạo của Cố Tổng Bí thư,
hơn lúc nào hết, cần cụ thể hóa vào các chủ trương, biện pháp lãnh đạo xây dựng
Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, tiêu biểu, đơn vị vững mạnh toàn diện
“mẫu mực tiêu biểu”; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, dám nghĩ,
dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với
khó khăn thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung; tích cực cụ
thể hóa vào thực tiễn hoạt động của đơn vị, nhất là việc tổ chức các phong trào
hành động cách mạng trong toàn đơn vị. Trước mắt, cần sớm phát động một đợt
sinh hoạt chính trị sâu rộng, thực chất để toàn đơn vị quán triệt, thực hiện
chỉ đạo của Cố Tổng Bí thư. Đội ngũ cán bộ quản lý các cấp trong Quân đội phải
thống nhất về mặt nhận thức để khơi gợi, trao truyền nhiệt huyết, kích hoạt
động cơ, tạo động lực đúng đắn cho đội ngũ cán bộ học tập, rèn luyện hướng đến
các nội dung “7 dám”. Đặc biệt, các cấp ủy, tổ chức đảng, chỉ huy các cấp trong
Bộ Tư lệnh phải quyết liệt bảo vệ và trọng dụng những cán bộ trách nhiệm, năng
nổ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám vượt lên khó khăn... vì lợi ích chung, để
hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, chính là góp phần giữ vững
nền tảng tư tưởng của Đảng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong
tình hình mới.
Bên cạnh đó,
để tiếp tục nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội
theo tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Cố Tổng Bí thư có
hiệu quả trong tình hình mới, thì công tác đào tạo, bồi dưỡng phải tiến hành
nhanh, chắc và đồng bộ đủ về số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ;
trong đó, chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu khoa học,
hợp tác nghiên cứu và ứng dụng hiệu quả các đề tài trong nhiệm vụ huấn luyện,
SSCĐ, kịp thời tiếp thu tri thức, khoa học kỹ thuật của nhân loại đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ. Tiếp tục tăng cường kỷ luật, pháp luật, công khai minh bạch trong
công tác đào tạo, bố trí và quản lý cán bộ, đề bạt cán bộ, đảm bảo lựa chọn
được những người có đức có tài “vừa hồng”, “vừa chuyên” vào bộ máy và cơ quan
lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất
là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm
nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ,
gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên nhất là là cán
bộ chủ chốt và người đứng đầu. Lấy kết quả, hiệu quả, sản phẩm thực tế để đánh
giá cán bộ; bảo vệ cán bộ bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương
đầu với khó khăn thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.
Làm tốt công
tác giáo dục chính trị tư tưởng để cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ luôn có
lập trường tư tưởng vững vàng, động cơ đúng đắn, tin tưởng tuyệt đối vào sự
lãnh đạo của Đảng và nhà nước, chú trọng việc triển khai tuyên truyền, cụ thể
hóa các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương, Đảng ủy cấp trên
đến cán bộ, đảng viên. Lãnh đạo thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung
ương 4 khóa XIII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển
hóa”.
Chú trọng công
tác tổ chức cán bộ ở các đơn vị, thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo
công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ đi đôi với phát huy trách nhiệm của
tổ chức, thủ trưởng đơn vị. Thực hiện tốt công tác đánh giá cán bộ, việc
rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ trong toàn Đảng bộ, trên cơ sở
đó điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo hàng năm. Coi trọng
việc đánh giá năng lực, phẩm chất, trình độ, tiêu chuẩn, tín nhiệm của cán bộ
khi bố trí, đề bạt, luân chuyển và bổ nhiệm.
Quân đội ta mạnh ở tính đoàn kết, thống nhất, tự giác, nghiêm
minh. Bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ theo tinh thần “7 dám” không chỉ là đợt sinh
hoạt chính trị sâu rộng trong một thời điểm mà cần lấy đó làm “cẩm nang” thường
xuyên, gắn kết với các hình thức, phương thức giáo dục khác để đẩy mạnh tự giáo
dục, tự tu dưỡng, tự rèn luyện. Chỉ khi cán bộ thực sự “dám” đối diện với những
thói hư, tật xấu, khuyết điểm... của bản thân thì mới có động lực để “dám” cống
hiến, hy sinh vì tập thể, vì đơn vị, vì sự nghiệp xây dựng Quân đội. Đó cũng là
cách để ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống; thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong Quân đội./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét