Quá
trình tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã tìm đến Chủ
nghĩa Mác-Lênin và tiếp nhận ở đó hệ thống lý luận về đảng cộng sản. Đồng thời
tỏ rõ bản lĩnh của một người có năng lực nhạy bén để tiếp cận Chủ nghĩa
Mác-Lênin, nhưng cũng có tư duy độc lập để vận dụng và phát triển sáng tạo chân
lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Từ
ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin
Vào
lúc nhiều người trên thế giới còn ngưỡng vọng đến cách mạng tư sản, Nguyễn Ái
Quốc đã nhận thấy tính không triệt để của cách mạng tư sản khi nó vẫn còn áp
bức giai cấp và áp bức dân tộc. Người đến với Quốc tế III do V.I.Lenin sáng lập
đơn giản là bởi Quốc tế III hứa sẽ giúp đỡ các dân tộc thuộc địa, còn Quốc tế
II không hề nhắc đến vận mệnh các dân tộc thuộc địa. Ở thời điểm lịch sử có
nhiều ngã rẽ và các dân tộc thuộc địa còn bị trói buộc trong vòng tăm tối, nô
dịch, việc tìm ra học thuyết Mác-Lênin - học thuyết khoa học nhất trong các học
thuyết cách mạng và cách mạng nhất trong các học thuyết khoa học - thể hiện tầm
nhìn và sự nhạy cảm chính trị đặc biệt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Từ
sự dứt khoát về nhận thức, Nguyễn Ái Quốc đã có sự dứt khoát về hành động.
Tháng 12-1920, tại Đại hội Tours, khi bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế
III, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam
và là một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp. Tin và đi theo Chủ
nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp nhận ở đó học thuyết về đảng cộng sản.
Từ câu nói của V.I.Lenin, rằng “hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách
mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên”, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra sự cần
thiết phải thành lập một chính đảng cộng sản ở Việt Nam. Như vậy, so với đường
lối cứu nước của các bậc tiền bối, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về sự cần thiết
phải thành lập đảng cộng sản để lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt
Nam là hoàn toàn mới mẻ. Đây chính là tiền đề lý luận cho quyết định thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Quá
trình chuẩn bị công phu
Nếu
K.Marx và F.Engels cho rằng sự ra đời của đảng cộng sản là sự kết hợp giữa chủ
nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân, nếu V.I.Lenin cho rằng đảng
cộng sản ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác với phong trào
công nhân thì Nguyễn Ái Quốc cho rằng trong sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam cần sự xuất hiện của yếu tố thứ ba: Phong trào yêu nước. Nắm vững đặc điểm
riêng của dân tộc Việt Nam-một dân tộc có truyền thống yêu nước nồng nàn và có
số lượng công nhân ít ỏi, Nguyễn Ái Quốc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin không
chỉ vào phong trào công nhân mà còn vào phong trào yêu nước với bộ phận rất
quan trọng là lực lượng thanh niên, trí thức yêu nước. Nhờ kết hợp nhuần nhuyễn
cái phổ biến với cái đặc thù trong quy luật ra đời của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã
tạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam truyền thống gắn bó chặt chẽ với dân tộc ngay từ
thời khắc sinh thành.
Bản
lĩnh chính trị của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự thận trọng hiếm
có trong công tác tổ chức. Dù hiểu rằng “phải có đảng cách mệnh, để trong thì
vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô
sản giai cấp mọi nơi” nhưng khi về Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc
không thành lập ngay Đảng Cộng sản Việt Nam mà lại thành lập tổ chức tiền thân
của Đảng là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong quan niệm của Người, đảng
cộng sản-tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân chỉ có thể ra đời và
thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình khi phong trào công nhân đã đạt trình
độ tự giác; khi đã có đội ngũ cán bộ đảng nhiệt huyết, có kinh nghiệm và gắn bó
mật thiết với nhân dân; khi lãnh tụ của Đảng đã có một cương lĩnh chính trị
khoa học, phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Xét vào thời điểm năm 1925, cả 3 điều
kiện trên đều chưa thực sự đầy đủ nên Người đã kiên nhẫn thành lập ra tổ chức
mang tính quá độ, vừa tầm với thực tiễn phong trào để qua hoạt động của tổ chức
này, các điều kiện thành lập Đảng mau chóng chín muồi.
Cùng
với sự chuẩn bị về tổ chức, tác phẩm "Đường Kách mệnh" của Nguyễn Ái
Quốc với sự phác thảo con đường giải phóng dân tộc trên nét lớn đã chuẩn bị
tiền đề tư tưởng, chính trị cho công tác thành lập Đảng. Vì thế, “có thể xem
trong lịch sử cách mạng Việt Nam, cuốn "Đường Kách mệnh" có vai trò
như cuốn "Làm gì?" của V.I.Lenin đối với cách mạng Nga...
Nhờ
hoạt động tích cực của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tư tưởng cộng sản
ngày càng trở nên chiếm ưu thế ở Việt Nam. Đến cuối năm 1929, trong nước cùng
lúc tồn tại 3 tổ chức cộng sản. Nguy cơ phân liệt lực lượng và đường lối giữa
các tổ chức cộng sản đòi hỏi phải có một lãnh tụ đủ uy tín đứng ra làm nhiệm vụ
quy tụ 3 tổ chức cộng sản làm một.
Đến
hội nghị thành lập Đảng
Ở
thời điểm lịch sử sôi động nhưng cũng không ít phần phức tạp, với tư cách là
phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tiến hành hội nghị
hợp nhất các tổ chức cộng sản ở nước ta tại Hương Cảng-Trung Quốc vào mùa xuân
năm 1930. Trong hội nghị mang tính chất đại hội thành lập, tư duy sáng tạo và
tinh thần độc lập, tự chủ của Nguyễn Ái Quốc đã bộc lộ hết sức rõ nét.
Thứ
nhất, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải là Đảng
Cộng sản Đông Dương như chủ trương của Quốc tế Cộng sản: “Là thành lập một đảng
cách mạng có tính giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một đảng cộng sản có
tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng
sản duy nhất ở Đông Dương”. Với quan điểm đảng cộng sản trước hết phải thuộc về
từng dân tộc, phải được đặt trong phạm vi dân tộc để đường lối của Đảng phù hợp
với điều kiện của dân tộc đó, Nguyễn Ái Quốc đã hiện thực hóa quan điểm của
V.I.Lenin về quyền dân tộc tự quyết.
Thứ
hai, kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc và với niềm tin mãnh liệt vào
lòng yêu nước của những người cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu các đại biểu
tham dự hội nghị “bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống
nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”; “định kế hoạch thực hiện việc thống nhất
trong nước”. Tức là, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã ra đời bằng cách hợp nhất trọn vẹn các tổ chức cộng sản dù rằng Quốc tế Cộng
sản chủ trương việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương phải trải qua quá trình
“thanh lọc” để lựa chọn ra những phần tử thực sự ưu tú, thực sự cộng sản nhất
trong các nhóm cộng sản. Nếu làm theo chỉ dẫn của Quốc tế Cộng sản thì “có khi
không thể cho ra đời được Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930” trong khi sự phân
liệt giữa các tổ chức cộng sản đang đặt ra yêu cầu cấp bách là phải nhanh chóng
hợp nhất.
Thứ
ba, với tinh thần độc lập, tự chủ, Nguyễn Ái Quốc đã soạn thảo Cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng ta-một cương lĩnh giải phóng dân tộc nhuần nhuyễn quan
điểm giai cấp, thấm đượm tinh thần dân tộc. Cụ thể là, trên cơ sở thấu hiểu đặc
điểm của xã hội thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã xác định rõ: Trong hai nhiệm vụ
chống đế quốc và chống phong kiến thì chống đế quốc, giành độc lập dân tộc phải
là nhiệm vụ hàng đầu. Quan điểm này có sự khác biệt lớn so với chủ trương “giai
cấp đấu tranh giai cấp”, đấu tranh không khoan nhượng và kiên định với giai cấp
tư sản, địa chủ của Quốc tế Cộng sản. Bên cạnh đó, cùng với việc khẳng định bản
chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam theo đúng quan điểm của Chủ
nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc còn khẳng định tính dân tộc sâu sắc của Đảng
thông qua cơ sở xã hội rộng rãi cũng như tính đại diện cho lợi ích dân tộc của
Đảng. Trong Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Nguyễn Ái Quốc
ghi rõ: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản,
hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí,
chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng thời được vào Đảng”. Như vậy, điều kiện để
trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là thành phần xuất
thân từ giai cấp công nhân mà là sự giác ngộ lý tưởng của giai cấp đó. Những
quan điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã hóa giải tính cô độc, biệt phái của Đảng Cộng sản Việt
Nam cho dù giai cấp công nhân Việt Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ
trong xã hội. Điều đó đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam khắc phục căn bệnh ấu trĩ
tả khuynh hết sức nguy hiểm mà V.I.Lenin từng cảnh báo trước đó. Dù có lúc quan
điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc bị quy kết là hữu khuynh, “là cơ hội chủ
nghĩa, chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh” nhưng
lịch sử đã chứng minh sự đúng đắn và tầm nhìn vượt trội của Người. Nhờ đó, một
thời đại vẻ vang trong lịch sử dân tộc đã được mở ra.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét