1.
Lập trường nhất quán của Việt Nam
Nguyên
tắc hòa bình giải quyết tranh chấp được giải thích cụ thể trong Tuyên bố về các
nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị giữa các quốc
gia năm 1970 (Tuyên bố năm 1970) của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Tuyên bố này
được tòa án quốc tế và các học giả có uy tín xem là văn bản có giá trị giải
thích Hiến chương Liên hợp quốc. Tiếp theo đó, Đại hội đồng đã thông qua một số
nghị quyết khác về nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, bao gồm
Tuyên bố Manila về Hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế năm 1982 (Tuyên bố
Manila) và Nghị quyết về Ngăn ngừa và hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
năm 2003.
Chủ
trương của Việt Nam là giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông thông qua biện
pháp hòa bình trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật
pháp quốc tế nhất là Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982. Đối với các vấn đề
liên quan đến hai nước Việt Nam – Trung Quốc thì giải quyết song phương, vấn đề
nào liên quan đến các nước khác, liên quan đến tự do hàng hải thì cần có sự bàn
bạc của các bên liên quan. Nếu các bên không giải quyết được bằng cơ chế đàm
phán thì cần phải giải quyết bằng các phương thức nhau như trung gian hòa giải
hoặc bằng các cơ chế tài phán quốc tế như Tòa án Công lý Quốc Tế, Tòa án Quốc
tế về Luật Biển và các Tòa Trọng tài.
Trong
khi chờ đợi một giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông, các bên liên
quan cần nghiêm chỉnh thực hiện DOC: nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định trên cơ
sở giữ nguyên trạng, không làm phức tạp hóa tình hình, không có hành động vũ
lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
Việc
bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải ở Biển Đông là mối quan
tâm chung của các nước trong và ngoài khu vực, Việt Nam hoan nghênh nỗ lực và
đóng góp của tất cả các nước trong và ngoài khu vực vào việc duy trì hòa bình,
ổn định ở Biển Đông. Trên tinh thần đó, Việt Nam hoan nghênh và đánh giá cao
việc cộng đồng quốc tế có những đóng góp xây dựng nhằm bảo vệ an ninh, an toàn
hàng hải và duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực Biển Đông; phản đối sử dụng vũ
lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, ủng hộ các bên liên quan giải quyết tranh chấp
bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật và thực tiễn quốc tế, trong đó có
Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, tôn trọng quyền của các quốc gia ven biển
đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia ven biển với
luật pháp quốc tế, triển khai thực hiện đầy đủ và có hiệu quả DOC và khuyến
khích các bên xây dựng COC.
Thực
tế, Việt Nam từng chủ động đưa ra giải pháp tạm thời đó. Chẳng hạn, trong Vịnh
Bắc Bộ, mặc dù đã phân giới rõ ràng, Việt Nam vẫn sẵm sàng ký hiệp định đánh cá
chung với Trung Quốc tạo điều kiện cho đôi bên làm ăn, ổn định đời sống ngư
dân. Gần đây Việt Nam cũng đã ký thỏa thuận khai thác chung với Trung Quốc mỏ
dầu vắt ngang qua đường biên giới trên Vịnh Bắc Bộ.
Đó là những thực
tiễn có ý nghĩa. Việt Nam không từ chối các giải pháp tạm thời trên cơ sở
UNCLOS 1982. Tuy nhiên, Việt Nam không thể chấp nhận quan điểm gác tranh chấp
cùng hợp tác dựa trên yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, chiếm gần 90%
diện tích Biển Đông, không dựa trên cơ sở pháp lý nào và hoàn toàn trái với
tinh thần của UNCLOS 1982, để tạo ra “vùng chồng lấn” nhằm tìm mọi cách thực
hiện chủ trương “gác Tranh chấp cùng khai thác” trong vùng biển và thềm lục địa
hợp pháp của quốc gia ven Biển Đông.
2.
Ghi nhận trong nhiều văn kiện, tuyên bố
Nguyên
tắc hòa bình giải quyết tranh chấp ở Biển Đông đã được ghi nhận và nhắc lại
nhiều lần trong các văn kiện song phương và khu vực. Các văn kiện khu vực và
song phương giữa hai nước nhấn mạnh chủ yếu đến biện pháp tham vấn và đàm phán,
không nhắc đến và cũng không loại trừ khả năng sử dụng các biện pháp tài phán.
Năm
2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố về Ứng xử của các Bên ở Biển Đông
(DOC). Các bên tái khẳng định cam kết tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật
pháp quốc tế và “cam kết giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình,
không sử dụng vũ lực, thông qua tham vấn, đàm phán hữu nghị giữa các quốc gia
trực tiếp liên quan”. Các bên cũng cam kết “sẵn sàng tiếp tục các cuộc đối
thoại và tham vấn về những vấn đề liên quan, thông qua các thể thức được các
bên đồng ý, kể cả các cuộc tham vấn thường xuyên theo quy định của Tuyên bố
này, vì mục tiêu khuyến khích sự minh bạch và láng giềng tốt, thiết lập sự hợp
tác và hiểu biết lẫn nhau một cách hài hòa, và tạo điều kiện thuận lợi cho
việc giải quyết hòa bình các tranh chấp giữa các bên.”
Năm 2011, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết Thỏa thuận về
các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước. Thỏa thuận
này yêu cầu hai nước trong quá trình đàm phán phải “thực hiện nghiêm túc nguyên
tắc và tinh thần” của Tuyên bố DOC. Nếu Thỏa thuận này được xem là một thỏa
thuận có tính chất ràng buộc (một điều ước quốc tế) giữa hai nước thì bằng cách
dẫn chiếu đến Tuyên bố DOC, hai nước đã trao giá trị ràng buộc cho Tuyên bố
DOC.
Trong
các tuyên bố chung giữa lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc những năm gần đây,
nghĩa vụ không làm phức tạp hay mở rộng tranh chấp được nhắc lại nhiều lần.
Tuyên
bố chung về chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc (ngày
11 – 15/10/2011) ghi nhận: “Trước khi giải quyết dứt điểm tranh chấp trên biển,
hai bên cùng giữ gìn hòa bình, ổn định trên Biển Đông, giữ thái độ bình tĩnh và
kiềm chế, không áp dụng hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh
chấp, không để các thế lực thù địch phá hoại quan hệ hai Đảng, hai nước, xử lý
các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để ảnh hưởng tới quan hệ hai
Đảng, hai nước và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.”
Tuyên
bố chung về chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến Trung Quốc (ngày
19 – 21/6/2013) bắt đầu ghi nhận Tuyên bố DOC: “…Hai bên nhất trí thực hiện
toàn diện, có hiệu quả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC),
cùng nhau duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông.”
Tuyên bố chung
Việt Nam - Trung Quốc trong chuyến thăm của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường
đến Việt Nam (ngày 13 – 15/10/2013) ghi nhận: “…Hai bên nhất trí thực hiện đầy
đủ, hiệu quả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), tăng
cường tin cậy, thúc đẩy hợp tác, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định ở Biển
Đông, theo tinh thần và nguyên tắc của “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở
Biển Đông” (DOC), trên cơ sở đồng thuận, nỗ lực hướng tới thông qua “Bộ Quy tắc
ứng xử ở Biển Đông” (COC).”
Tuyên
bố chung nhân chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc (ngày
7 – 10/4/2015) nhất trí “cùng kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy
đủ có hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được
Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có
hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời, thỏa đáng vấn đề
nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt - Trung và hòa bình, ổn định ở Biển
Đông.” Trong cùng năm, Tuyên bố chung nhân chuyến thăm của Tổng bí thư, Chủ
tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam (ngày 5 – 6/11/2015) nhắc lại
nội dung trên.
Có thể thấy, từ năm 2011, các tuyên bố chung đã bắt đầu
đề cập đến việc không làm phức tạp, mở rộng tranh chấp trên Biển Đông giữa hai
nước. Từ năm 2013, các tuyên bố bắt đầu nhấn mạnh đến việc nghiêm túc tuân thủ
một cách toàn diện, đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố DOC và hướng đến xây dựng Tuyên
bố COC.
Trong
các tuyên bố trên, Việt Nam và Trung Quốc đã cam kết sẽ giải quyết các tranh
chấp thông qua biện pháp đàm phán trực tiếp giữa hai nước. Tuy nhiên điều này
không có nghĩa là Việt Nam và Trung Quốc bị hạn chế trong việc lựa chọn một
biện pháp hòa bình khác. Cam kết đưa ra trong Thỏa thuận năm 2011 và các tuyên
bố chung của lãnh đạo hai nước không loại trừ khả năng sử dụng các biện pháp
khác, trong đó có biện pháp tài phán. Việt Nam cũng khẳng định Việt Nam không
loại trừ sử dụng các biện pháp pháp lý để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét