Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

MỪNG ĐẢNG QUANG VINH 95 TUỔI– MỪNG XUÂN MỚI 2025

 Mùa xuân lại về, mang theo hơi thở ấm áp và những tia nắng rực rỡ, báo hiệu một năm mới tràn đầy hy vọng và niềm tin. Trong không khí phấn khởi của những ngày đầu xuân Ất Tỵ 2025, chúng ta cùng hân hoan chào mừng kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2025) – một chặng đường lịch sử vẻ vang, gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Đảng đã và đang tiếp tục lãnh đạo toàn dân tộc hướng tới những thành tựu mới, vững bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì một Việt Nam giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp. Trên thế giới, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc. Các nước tư bản đế quốc thực hiện chính sách: bên trong tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài gia tăng các hoạt động xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm đời sống nhân dân lao động trên thế giới trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Trong nước, năm 1858, thực dân Pháp tiến hành xâm lược và từng bước thi hành chính sách cai trị thực dân ở Việt Nam, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”. Mọi giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội Việt Nam đều mang thân phận người dân mất nước và đều bị thực dân áp bức, bóc lột, chèn ép. Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc này là mâu thuẫn nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Trước tình hình đó, nhân dân ta đã mạnh mẽ vùng lên chiến đấu, các cuộc khởi nghĩa và các phong trào đấu tranh của nhân dân ta diễn ra liên tục. Tuy nhiên các cuộc khởi nghĩa liên tiếp thất bại do thiếu một đường lối đúng đắn và tổ chức lãnh đạo thống nhất. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

Trước bối cảnh đó đó, ngày 6/5/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành, với tên Văn Ba đã rời bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước, với tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén về chính trị, sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu, Người đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và nhận ra rằng chỉ có con đường cách mạng vô sản mới có thể giải phóng dân tộc. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động cách mạng ở nước ngoài, nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước, vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhằm tuyên truyền, giác ngộ tinh thần cách mạng. Đến năm 1929, từ tổ chức này, ba tổ chức cộng sản ra đời: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Tuy nhiên ở một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Trách nhiệm lịch sử là phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam. Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản được tổ chức tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc). Hội nghị đã nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập một đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên, xác định mục tiêu giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Sau khi ra đời, với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy tụ, đoàn kết tất cả các giai cấp, các tầng lớp yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền với 3 cao trào cách mạng lớn: Cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, làm rung chuyển chế độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai. Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939), bằng sức mạnh đoàn kết của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách về tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình. Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945) dưới sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết của Đảng, đứng đầu là Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng với sự đoàn kết, chiến đấu ngoan cường và hy sinh to lớn của biết bao đảng viên cộng sản, chiến sĩ và đồng bào yêu nước đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Thắng lợi này đã phá tan sự thống trị của thực dân gần một trăm năm và lật đổ chế độ phong kiến đè nặng lên nhân dân ta mấy mươi thế kỷ, mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc. Chỉ hơn 4 tháng sau, cuộc Tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên ngày 6/1/1946 đã bầu ra Quốc hội và Chính phủ hợp hiến, hợp lòng dân. Ngay tại Kỳ họp thứ hai (tháng 11/1946), Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trang trọng khẳng định quyền độc lập của dân tộc, quyền tự do dân chủ của nhân dân.

Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm:“Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp giành thắng lợi và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ (ngày 20/7/1954) chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Nhân dân ta bắt tay vào xây dựng, khôi phục kinh tế - văn hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, hất chân thực dân Pháp, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Nhiệm vụ của Đảng ta trong giai đoạn này hết sức nặng nề, đó là phải lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược gồm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Trước một đội quân xâm lược nhà nghề chưa từng thất bại, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân bằng tầm cao khoa học và nghệ thuật; với chủ trương đánh lâu dài, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp tiến công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh trên cả ba vùng (đồng bằng, thành thị và miền núi); kết hợp mặt trận quân sự, chính trị với mặt trận ngoại giao; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại. Bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh của Nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc, là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.

Sau chiến tranh, đất nước đối mặt với muôn vàn khó khăn. Nhưng với tinh thần cách mạng và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, công cuộc Đổi mới được khởi xướng từ năm 1986 đã đưa đất nước đạt nhiều thành tựu quan trọng. Từ một nước nghèo, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Về kinh tế, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, đạt nhiều thành tựu trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xuất khẩu và đầu tư nước ngoài. Cơ sở hạ tầng phát triển mạnh mẽ, khoa học - công nghệ được ứng dụng rộng rãi vào đời sống. Việt Nam cũng là thành viên tích cực của nhiều tổ chức quốc tế, khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Về văn hóa - xã hội, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện, các chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế được chú trọng. Văn hóa dân tộc được gìn giữ và phát huy, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Đảng luôn khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh.

Xuân Ất Tỵ 2025 về mang theo niềm tin và kỳ vọng vào tương lai tươi sáng của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta tin tưởng rằng Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, đạt được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Mừng Đảng tròn 95 năm vững tay chèo lái con thuyền cách mạng, mừng xuân mới với khí thế mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phát triển bền vững.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét