Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

 

NHẬN THỨC VỀ QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN VỀ QUYỀN LỰC VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG CƠ CHẾ “ĐẢNG LÃNH ĐẠO,

NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ”

 

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta khẳng định: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội”. Cơ chế này phản ánh và giải quyết các mối quan hệ cốt lõi của xã hội Việt Nam. Vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn:...; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.”[1].

Đây là một cơ chế, giải quyết ba mối quan hệ chính trị cơ bản nhất ở Việt Nam hiện nay, đó là quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, nhằm giải quyết những vấn đề bản chất nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng. Có thể nói đây là vấn đề của mọi vấn đề. Để cho cơ chế này hoạt động tốt, có hiệu quả, hieeucj lực trong thực tiền, cần phải tạo ra động lực cho từng nhân tố và phối hợp hoạt động nhịp nhàng giữa ba nhân tố, vừa phải kiểm soát quyền lực trong từng nhân tố nói riêng và kiểm soát lẫn nhau trong tổng thể nói chung.

Nhân dân là chủ thể của mọi quyền lực. Khi sống đơn lẻ, mỗi người tự do sử dụng toàn bộ quyền lực của mình. Trong xã hội có nhà nước, nhân dân một phần quyền để tạo thành nhà nước (quyền lực công, ý chí chung, tự do công cộng...), phần còn lại tự do sử dụng. Nguyên tắc này thường được ghi trong các bản hiến pháp dân chủ (khế ước xã hội). Như vậy, trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Những điều mà pháp luật cấm là những điều được xã hội thỏa thuận và ghi thành Khế ước (Hiến pháp) và được cụ thể hơn nữa thông qua các đạo luật. Đó cũng chính là giới hạn quyền lực của công dân (nhân dân) để công dân thực hiện đúng, đầy đủ và hiệu quả quyền lực của mình.

Phải thấy rằng, công dân cũng có thể lạm quyền khi sử dụng các quyền của mình. Đó là khi vì tự do cá nhân của mình mà xâm hại đến tự do của xã hội và tự do của cá nhân khác, là khi công dân xâm hại đến ý chí chung, thậm chí phạm tội. Ví dụ, sử dụng quyền tự do ngôn luận, quyền biểu tình, quyền dân chủ... để chống lại cộng đồng và xã hội; lạm dụng quyền tự do tin, hay không tin tôn giáo tín ngưỡng, để cổ xúy, truyền bá mê tín dị đoan hoặc tư tưởng hận thù, chia rẽ dân tộc...

Như vậy, một mặt, cần phát huy dân chủ của nhân dân, để nhân dân có điều kiện thực hành dân chủ, hiện thực hóa quyền và lợi ích của mình; mặt khác, nhà nước, các đảng chính trị, và tự bản thân nhân dân cũng cần có cơ chế kiểm soát các hoạt động tự do quá trớn, vô chính phủ xâm hại quyền tự do, dân chủ của cộng đồng và của các thành viên khác trong xã hội.

Đảng phải tuyên truyền vận động nhân dân biết sử dụng quyền lực của mình một cách hiệu quả, từ việc lựa chọn người đại diện cho mình đến giám sát, phản biện xã hội; từ việc khiếu nại, tố cáo đến biểu thị ý kiến đúng pháp luật... Nhà nước kiểm soát các biểu hiện dân chủ quá trớn, tự do vô lối bằng cách ban hành chính sách, pháp luật nhằm hạn chế tính tự phát, tâm lý đám đông tiêu cực trong các xung đột xã hội.

Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” phản ánh những mối quan hệ cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong cơ chế đó, mỗi chủ thể có vai trò, vị trí khác nhau, phối hợp với nhau, kiểm soát lẫn nhau, tạo ra động lực của cơ chế, phát huy tính hiệu quả của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và đã được chế định trong Hiến pháp. Tuy nhiên, nhận thức về vận hành cơ chế này, từ phối hợp thống nhất hành động, cho đến kiểm soát quyền lực trong từng chủ thể, và trong toàn bộ mối quan hệ của cơ chế vẫn chưa được nhận thức đầy đủ, chưa được cụ thể hóa, vì thế cần được tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa để góp phần hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta./.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 72 - 73

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét