Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập tại Cửu Long, Hương Cảng (Trung Quốc). Sự kiện này là một dấu mốc lớn, đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng. Từ đây, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã kết đoàn thành một khối, vượt qua muôn vàn tình thế khó khăn, hiểm nguy, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại.
1. Thắng lợi của Cách mạng
Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở Việt
Nam, nhiều phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác nhau như
dân chủ tư sản, phong kiến nổ ra nhưng cuối cùng đều bị thất bại. Nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến thất bại là do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn và giai
cấp tiên tiến lãnh đạo.
Trước tình thế đó, Nguyễn Ái Quốc với nhãn quan chính trị sắc
bén và lòng yêu nước vô bờ bến đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.
Trải qua hành trình đầy gian khổ và hiểm nguy, Người đã tiếp cận ánh sáng của
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam:
Con đường cách mạng vô sản. Ngay sau đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tích cực,
chủ động chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức và trực tiếp chủ trì hội nghị
hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Đông Dương, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã xác
định những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng, với mục tiêu
là “làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập”, tạo tiền đề “để đi tới xã hội cộng
sản”.
Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối cứu nước
đúng đắn đã thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng đang cháy âm ỉ trong các tầng lớp
nhân dân ta. Đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng được mọi giai tầng trong xã
hội hưởng ứng, tạo nên sức mạnh to lớn, thúc đẩy cao trào giải phóng dân tộc,
dẫn tới thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, “đập tan ách thống trị
của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc
ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do” [1]. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, đã
trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những thắng lợi vĩ đại
nhất, trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước
của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi này gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng,
đứng đầu là Hồ Chí Minh: “Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của
các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo
cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc” [2].
2.
Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng
lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975
Ngay sau khi Cách
mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời chưa được bao lâu, quân đội Pháp đã nổ súng đánh chiếm Nam Bộ, nhằm xâm
lược Việt Nam một lần nữa. Trong tình thế phải rút vào hoạt động bí mật, Đảng
Cộng sản Đông Dương đã kiên định về nguyên tắc, linh hoạt, mềm dẻo về sách
lược, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”,
vừa giữ vững được thành quả cách mạng, vừa chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng
chiến lâu dài chống Pháp xâm lược.
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, với tinh thần, ý chí quyết
tâm: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ”, trên cơ sở đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài,
dựa vào sức mình là chính, Đảng đã lãnh đạo quân và dân ta lần lượt đánh bại
các kế hoạch chiến tranh của kẻ thù, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng
lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định
Giơ-ne-vơ (21-7-1954), chấp nhận rút quân về nước, công nhận và tôn trọng các
quyền cơ bản của nhân dân ba nước Đông Dương. Với thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược, “lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc
địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ
vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng
hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới” [3].
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt
làm hai miền, mỗi miền có một chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc hòa bình
được lập lại, nhưng tại miền Nam, đồng bào ta vẫn rên xiết dưới gót giày của đế
quốc Mỹ và tay sai của chúng. Trước tình hình đó, Đảng chủ trương tiến hành
đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Trong đó, nhiệm vụ thiêng liêng
của cả dân tộc trong giai đoạn này là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trải qua 21 năm chiến đấu anh dũng, với tinh thần: “Không có gì
quý hơn độc lập, tự do” [4], dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng,
quân và dân ta đã đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính
quyền tay sai, làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, chấm dứt ách thống
trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên đất nước ta; mở
ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - Kỷ nguyên độc lập, tự do, cả nước quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi đó “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta
như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn
thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử
thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX” [5].
Sau năm 1975, Đảng tiếp tục lãnh đạo quân và dân ta đánh thắng
các cuộc chiến tranh xâm lược ở hai đầu biên giới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp
nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.
3. Thắng lợi của công cuộc đổi
mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Sau năm 1975, Đảng lãnh đạo cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong mười năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội
(1975 - 1985), Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua vô vàn khó khăn, thử
thách, đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Tuy nhiên, trong hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ
nghĩa, có lúc, có nơi đã mắc sai lầm, khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó là
một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội
trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trước thực tế đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(12-1986), với tinh thần: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói
rõ sự thật” [6], Đảng đã nhìn nhận, đánh giá khách quan những thành tựu cũng
như hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở
tổng kết thực tiễn và đổi mới mạnh mẽ tư duy, nhất là tư duy kinh tế, Đại hội
VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt
quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trên cơ sở đường lối đổi mới do Đại hội VI, qua các kỳ đại hội,
từ Đại hội VII đến Đại hội XIII, Đảng ta luôn khẳng định tiếp tục đổi mới đồng
bộ, toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với những bước đi, cách làm
phù hợp, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; kiên định Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho hành động của Đảng. Từ khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, nước ta
đã thoát ra khỏi khủng hoảng, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung
bình. Tăng trưởng kinh tế luôn ở mức đứng đầu trên thế giới; chính trị - xã hội
ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm. Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
và hiệu quả, tham gia và có tiếng nói quan trọng trong nhiều tổ chức quốc tế và
khu vực.
Sau gần 40 năm Đổi mới toàn diện đất nước, lý luận về đường lối
đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so
với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời
sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt: “Đất nước ta
chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”
[7].
Công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế đã đáp ứng được những đòi hỏi bức thiết của tình hình đất
nước, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; có ý nghĩa như một cuộc cách
mạng trong thời kỳ mới; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp
với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của lịch sử.
Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến
nay là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân
quan trọng và quyết định nhất là có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng
Cộng sản Việt Nam, một đảng cách mạng hiện thân của bản lĩnh, trí tuệ, “là đạo
đức, là văn minh”, luôn đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lên trên hết,
trước hết. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam sẽ tiếp tục được nối
dài và phát huy cao độ trong “Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Việt Nam”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét