Thế kỷ 21, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn của thời đại. Tuy nhiên, thế giới đang phải đối mặt với các nguy cơ, thách thức không thể xem thường. Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố, phá hoại, khủng hoảng kinh tế - tài chính, chiến tranh thương mại, thảm họa thiên tai, môi trường hiện đang đe dọa đến an ninh của các quốc gia dân tộc. Đối với nước ta bên cạnh thời cơ vận hội chúng ta cũng đang đứng trước các nguy cơ: Tụt hậu về kinh tế, tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trọng nội bộ; bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội dẫn tới bạo loạn lật đổ, tranh chấp chủ quyền biển, đảo…các nguy cơ hiện đang diễn biến phức tạp, đe dọa đến sự ổn định, tồn vong của đất nước và chế độ, nếu không được đấu tranh kịp thời.
Bảo
vệ Tổ quốc từ lý luận và thực tiễn lịch sử
Theo thống kê của các nhà sử học, từ khi dựng nước đến
nay, dân tộc Việt Nam đã trải qua 1300 năm chiến
tranh, đương đầu với các thế lực ngoại bang xâm lược đến từ khắp các châu lục. Tính riêng 100 năm
trong thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã mất
tới ¾ thế kỷ để tiến hành các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hiểu rõ
giá trị độc lập, hòa bình, cha ông ta luôn lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm trọng, đề ra kế sách “sâu rễ, bền gốc”, làm cho
“dân giàu, nước mạnh, “quốc
phú, binh cường”,
kiên trì phương châm “nội yên, ngoại tĩnh”; chăm lo xây dựng quân đội “quân cốt tinh không cốt đông”; thực thi
chính sách “bang giao hòa hiếu", mềm dẻo,
khôn khéo để tránh “họa binh đao" cho đất nước. Ngay cả những khi buộc phải chiến đấu chống xâm lược, cha ông ta cũng chủ
động kết thúc chiến tranh,
xây dựng nền hòa
bình, duy trì mối quan hệ hữu hảo, nhằm “tắt muôn đời chiến tranh”, đem lại “thái bình cho muôn dân”. Đây là một
truyền thống, phản ánh đặc
trưng bản sắc văn
hóa chủ động giữ nước của cha ông ta, trở thành ý thức thường trực, trở thành huyết thống chảy trong mỗi người dân
nước Việt, truyền thống ấy
được biểu hiện tập
trung nhất ở sự căn dặn của vua Lê Thái Tổ với hậu thế: “Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy” và tâm đắc kế sách: “Nên sửa sang võ bị, để phòng việc
không ngờ”.
Như
vậy, thấy trước, chuẩn bị trước là tinh thần, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong lịch sử giữ nước của cha ông ta. Trong thời đại Hồ Chí Minh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ
xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy tiếp tục được kế
thừa và phát triển lên một tầm cao mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn toàn dân, toàn quân ta: “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ
lấy nước”. Để
tăng cường khả năng phòng
bị của đất nước,
Người chỉ rõ “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến
tranh, ta cũng phải nắm vững, chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. Từ Đại hội VI đến Đại hội XI của Đảng, các văn kiện
nghị quyết luôn xác định phải nâng cao cảnh giác,
chủ động phòng ngừa, làm thất bại âm mưu hành động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị
động bất ngờ. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến
lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới chỉ rõ: “Phòng ngừa,
ngăn chặn có hiệu quả các nguy cơ xung đột, chiến tranh biên giới, biển, đảo,
chiến tranh mạng; không để xảy ra bạo loạn, khủng bố”. Đại hội XII, lần đầu tiên Đảng ta xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột
từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi,
nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Nghị quyết số 24- NQ/TW, ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về
Chiến lược quốc phòng Việt Nam, lần đầu tiên cụm từ “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” được chính thức sử dụng. Đại hội
XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ
xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp
bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”. Văn kiện Đại hội XIII xác định:
“…Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ
quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị
và nhân dân ta, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”.
Đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn của địch lợi dụng chia rẽ khối đại đoàn kết dân
tộc có nhiều thách thức, yêu cầu của việc xây dựng “Thế trận lòng dân” trong tình hình, điều kiện mới là
phải tăng cường giáo dục
cho mọi tầng lớp nhân dân tình yêu Tổ quốc, niềm tin vào Đảng, chế độ, mối đoàn kết đồng chí, đồng bào… Phải xác định
dù đất nước đang trong giai đoạn hoà bình, nhưng phải luôn luôn cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng cho
các tình huống khi có chiến
tranh xảy ra “lo nước khi nước còn chưa nguy”./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét