Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

NHẬN DIỆN BẢN CHẤT ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH




             “Phi chính trị hóa” quân đội là một âm mưu cực kỳ nham hiểm, là một mũi nhọn trong tổng thể chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch. “Phi chính trị hóa” quân đội tuyệt nhiên không phải là làm cho quân đội ta “không chính trị”, “trung lập”, “đứng ngoài chính trị” trong các cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp như chúng vẫn thường rêu rao, lừa phỉnh, hoặc như những nhận thức mơ hồ của một số người, mà thực chất đó là nhằm phá hủy chính trị vô sản của quân đội ta, là lái chính trị của quân đội ta trượt sang chính trị khác - chính trị tư sản, làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam không còn là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nữa. Vì thế, đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội ta thực sự là một yêu cầu, một nội dung đặc biệt quan trọng và cấp thiết trong quá trình xây dựng quân đội ta về chính trị.
            Trong thời kỳ mới, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội ta của các thế lực thù địch không những được đẩy mạnh ráo riết và tăng cường hơn, mà còn tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm hơn. Chúng không chỉ chọc vào những vấn đề cơ bản, cốt lõi của quân đội, mà còn chọc vào những vấn đề tưởng chừng rất “đơn giản” như cơm áo, gạo tiền, đời sống quân nhân; không những ảnh hưởng tiêu cực đến quân đội, mà còn tác động mạnh mẽ đến cả xã hội; không những nguy hiểm hơn, mà còn khó nhận biết và khó đấu tranh hơn. Biểu hiện ở những vấn đề chủ yếu sau:
            Một là, xuyên tạc, phủ định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội.
            Hai là, phá hoại nền tảng tư tưởng của quân đội
            Ba là, phủ định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam
            Bốn là, tìm cách “can dự” sâu vào quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội và chức năng, nhiệm vụ của quân đội
            Năm là, phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân
            Sáu là, phá hoại tình đoàn kết quốc tế của quân đội
            Bảy là, triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông, các hình thức, thủ đoạn để xuyên tạc, kích động, chống phá
            Do vậy, trong tình hình hiện nay, để đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:
            Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “phi chính trị hoá” quân đội.
            Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phòng chống “phi chính trị hoá” quân đội        Thứ ba, xác định đúng nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp đấu tranh phòng, chống “phi chính trị hoá” quân đội
            Thứ tư, làm tốt công tác phối hợp, hiệp đồng, phát huy sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “phi chính trị hoá” quân đội
            Thứ năm, phát huy vai trò lực lượng nòng cốt trong đấu tranh phòng, chống “phi chính trị hoá” quân đội
            Thứ sáu, tăng cường công tác đảm bảo cho đấu tranh phòng, chống “phi chính trị hoá” quân đội TH

Phòng, chống “diễn biến hòa bình": Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên


Hiện nay, có một số người băn khoăn về nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa thuộc về những thành phần nào, hay nói cách khác là nhiệm vụ đó thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.
Cần phải khẳng định rằng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong. Để đấu tranh, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải bảo vệ vững chắc nội bộ. Nội bộ đoàn kết, không dao động, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì thế lực thù địch dù có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến mấy cũng khó bề làm lung lạc ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, việc đầu tiên là cần có biện pháp đấu tranh, khắc phục thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ phai nhạt lý tưởng mà còn thiếu niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa.
Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi cá nhân, tổ chức thường bắt đầu từ mất niềm tin, mất phương hướng, từ bỏ lý tưởng, mục tiêu cách mạng, tiến tới du nhập tư tưởng, lý luận phi mác-xít, sẵn sàng “trở cờ” phản bội, đưa đất nước đi theo hướng khác, con đường khác phi xã hội chủ nghĩa. Thực tế là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trong cả nhận thức và hành động của một số người. Nhận thức đó có thể bắt nguồn từ những vấn đề còn chưa tỏ tường về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kết hợp với sự xuất hiện những thế mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại trong quá trình toàn cầu hóa. Những điều đó đã tác động mạnh tới nhận thức của một số người, trong đó có một số văn nghệ sĩ, trí thức, làm cho nhận thức của họ trở nên mông lung, như người “đứng giữa ngã ba đường”.
Để bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán triệt để hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, chủ nghĩa thực dụng tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tiếp tục khẳng định chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là con đường duy nhất đúng, bởi nó vừa thể hiện tính cách mạng triệt để, vừa phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, cần có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm, tư tưởng và ý đồ thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Phát hiện, xử lý kịp thời những âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng từ các thế lực thù địch, vạch mặt những phần tử cơ hội chính trị, ngăn chặn những hành vi xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, ngăn chặn sự chia rẽ mối đoàn kết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và lực lượng vũ trang. Phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, cụ thể là của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn những mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ, tạo tâm lý bất bình và các “điểm nóng” về an ninh trật tự trong xã hội. Đồng thời đẩy mạnh việc đấu tranh, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quyết tâm làm trong sạch từ nhận thức đến hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên-đội ngũ vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để tạo cơ sở nền tảng đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
TRẦN VŨ


LUẬN ĐIỆU “TÔN GIÁO KHÔNG CHỊU SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC”


Trong âm mưu “Diễn biến hòa bình” chống phá nước ta, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, kích động chống đối, nhằm làm mất ổn định chính trị-xã hội, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước ta. Điều đáng chú ý là mỗi khi Nhà nước ta bổ sung hoặc ban hành các văn bản pháp luật mới về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội của đất nước, thì chúng lại dấy lên chiến dịch xuyên tạc, vu cáo cho rằng: Nhà nước Việt Nam bóp nghẹt tự do tôn giáo, đòi phải bãi bỏ những văn bản pháp luật đó. Chúng đòi tôn giáo phải độc lập và không chịu sự quản lý của Nhà nước. Chúng tâng bốc, ca ngợi tự do tôn giáo ở các nước tư bản: “Tôn giáo được tự do hoạt động, không chịu sự quản lý của Nhà nước”. Chúng không chỉ cố tình xuyên tạc công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở các nước trên thế giới, mà mục đích sâu xa là kích động, làm cho dư luận ngộ nhận rằng, việc Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là đi ngược lại sự tiến bộ xã hội, tạo phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc, nhà tu hành và quần chúng tín đồ, gây chia rẽ khối đại đoàn kết ở nước ta.
Lý luận về quản lý nhà nước và thực tiễn tình hình tôn giáo trên thế giới đã cho thấy: Quản lý nhà nước với hoạt động tôn giáo là một yêu cầu khách quan của mọi quốc gia. Bởi vì, hoạt động tôn giáo không chỉ thuần túy nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của các tín đồ, chức sắc, nhà tu hành, mà còn liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội. Việc xây dựng nơi thờ tự, không chỉ đơn thuần là việc củng cố, phát triển cơ sở vật chất của giáo hội, mà còn liên quan đến những quy định của Nhà nước về đất đai, quy hoạch, xây dựng; hoạt động in ấn kinh bổn, sản xuất đồ dùng việc đạo liên quan đến những quy định về văn hóa, xuất bản; hoạt động quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo nước ngoài liên quan đến chính sách, pháp luật trên lĩnh vực đối ngoại, xuất nhập cảnh của Nhà nước… Mọi hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và mọi công dân liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội đều phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước. Tôn giáo và hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể đứng ngoài pháp luật của quốc gia đó.
Thực tiễn cho thấy các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Luật ngày 09.12.1905 của nước Cộng hòa Pháp, tại Điều 26 quy định: “Việc tụ tập để thực hiện các nghi lễ tôn giáo phải báo cáo và chịu sự kiểm soát của cơ quan chính quyền có chức năng giữ gìn trật tự công cộng. Cấm việc hội họp có tính chất chính trị ở nơi chuyên dùng vào việc thờ cúng và thực hành lễ nghi tôn giáo”. Cũng tại nước Pháp, điều 35 của luật này cũng nêu rõ: “Giáo sĩ nào công khai bằng lời nói hoặc bằng văn bản kêu gọi, khước từ việc thi hành pháp luật của nhà nước sẽ bị phạt tù từ 3 tháng tới 2 năm”. Còn tại Nhật Bản, Luật Pháp nhân tôn giáo ban hành, có hiệu lực từ năm 1951. Đến năm 1995, sau sự kiện giáo phái Chân lý AUM khủng bố trong hệ thống đường tàu điện ngầm ở Tokyo bằng chất độc Sa-rin, Nghị viện Nhật Bản đã bổ sung, sửa đổi luật này theo hướng quy định chặt chẽ hơn đối với các hoạt động tôn giáo.
Ở nước ta, quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo đã được hình thành từ các triều đại phong kiến. Bộ Quốc Triều hình luật (Luật Hồng Đức) thời Hậu Lê có 722 điều, trong đó 4 điều quy định về những vấn đề liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Nhà nước đã quan tâm đến công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tôn giáo và hoạt động tôn giáo. Pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của nước ta. Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này ngày càng được củng cố, hoàn thiện, góp phần quan trọng bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia. Các tôn giáo ở nước ta phát triển nhanh về số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự, mở rộng quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo, đồng đạo ở nước ngoài; mọi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân đều được chính quyền tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ngày càng được cải thiện, nâng cao. Đại đa số tín đồ các tôn giáo đều là nhân dân lao động, có tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, sống tốt đời đẹp đạo, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại đa số quần chúng tín đồ và chức sắc các tôn giáo đều tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành quả đó là không thể phủ nhận, nhưng các thế lực thù địch vẫn tìm cách vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm dân chủ, nhân quyền, đòi tôn giáo hoạt động không chịu sự quản lý của nhà nước.
Các tôn giáo ở nước ta dù nội sinh hay ngoại nhập đều hòa đồng với văn hóa dân tộc và dưới sự quản lý của Nhà nước. Đây là yêu cầu khách quan, bởi vì không có một tôn giáo nào đứng ngoài quốc gia, dân tộc và đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Nhà nước ta xác định rõ quyền hạn hoạt động của các tổ chức, cá nhân tôn giáo trên các lĩnh vực quản đạo, hành đạo, truyền đạo; nơi thờ tự của các tôn giáo được Nhà nước bảo hộ; việc thành lập tổ chức tôn giáo phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải đúng quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức, văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Mọi hoạt động lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, gây phương hại an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội đều phải bị lên án, đấu tranh ngăn chặn, xử lý nghiêm./
NGUYỄN TUẤN


Cán bộ trước hết "phải làm mực thước cho người ta bắt chước"


(TG)- Cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng phải nêu gương về đạo đức cách mạng, tu dưỡng đạo đức cách mạng để xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
CÁN BỘ PHẢI LUÔN NÊU GƯƠNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
Thấu hiểu sâu sắc rằng: "Cán bộ là gốc của mọi công việc" và “nói chung các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, cho nên ngay từ khi chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã yêu cầu người cách mạng phải rèn luyện và nêu gương đạo đức theo các chuẩn mực: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật. Đối với người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”.
Điều đó có nghĩa là, để có thể cổ vũ, tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng tham gia cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên nhất định phải:
1) Có đạo đức cách mạng và thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, vì “người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Hơn nữa, “đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”, do đó cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng. Cụ thể, mỗi người “tự mình phải” hằng ngày khiêm tốn học hỏi, nỗ lực trau dồi tri thức chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ và đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, để “khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước... Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc”; “đối với người” phải luôn chân thành yêu thương, luôn giúp đỡ đồng chí, đồng bào, khoan dung, độ lượng để quy tụ và  đoàn kết mọi người trong từng tổ chức, tạo sự thống nhất trong tư tưởng và hành động; khi “làm việc phải” tận tâm, tận lực theo nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, “chí công vô tư”, gương mẫu đi đầu “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
2) Thực hiện nêu gương bằng hành động, thống nhất giữa nói và làm, vì: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”. Để xứng đáng với vị thế vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương bằng hành động cụ thể trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, không được nói một đằng làm một nẻo, hứa mà không làm. Hơn nữa, cũng theo Người, “lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”, cho nên sự nêu gương, thống nhất giữa nói đi đôi với làm trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường của mỗi cán bộ, đảng viên là nguyên tắc trước hết cần phải nghiêm túc thực hiện.
Nêu gương và noi gương có mối quan hệ chặt chẽ, bởi noi theo, làm theo những tấm gương tốt để cả xã hội cùng đổi mới và phát triển tốt đẹp là góp phần làm cho ý nghĩa những gương điển hình ấy lớn lao hơn, sức lan tỏa rộng lớn hơn. Hồ Chí Minh từng nói, biển cả là do “từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được”, do đó, sự nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ góp phần làm đẹp hơn những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc được hình thành và bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước mà còn trở thành những hạt giống tốt, là những điển hình mực thước trong rèn luyện đạo đức cách mạng để mọi người cùng phấn đấu, học tập. Mang giá trị và ý nghĩa lớn lao, sự nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, sự lan tỏa “hữu xạ tự nhiên hương” của những tấm gương điển hình tiên tiến nảy sinh trong thực tiễn sẽ lan tỏa, góp phần truyền tải giá trị tinh thần cao quý trong cộng đồng.
HỒ CHÍ MINH - MỘT MẪU MỰC VỀ NÊU GƯƠNG
Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện và nêu gương về đạo đức cách mạng mà Người còn là một mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng. Ở Người, thống nhất giữa nói đi đôi với làm không chỉ là nguyên tắc đạo đức, là lẽ sống mà còn là biểu hiện sinh động của sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động, giữa tư tưởng, đạo đức và tác phong. Ở bất kỳ thời điểm nào, Hồ Chí Minh cũng luôn nhất quán thực hành đạo đức, tu dưỡng đạo đức, kiên quyết phê bình, đấu tranh phòng và chống bệnh nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, nói mà không làm. Tất cả những việc Người nói, những việc Người làm đều không ngoài một “sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Hồ Chí Minh luôn nêu gương sáng về đạo đức, nhất quán giữa nói và làm, nhất là tự mình gương mẫu làm làm trước. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nguy cơ “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” vẫn đang đe dọa nền độc lập dân tộc vừa giành được. Trong tình thế cấp bách đó, Người đã kêu gọi toàn dân thực hiện “Sẻ cơm nhường áo”: “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”. Đồng thời, khi “Hô hào nhân dân chống nạn đói”, Người cũng nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải nêu gương và thực hành trước và nhấn mạnh rằng, “đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG thì các bạn phải thực  hành trước, phải làm gương cho dân chúng theo”.
Là người đứng ở đỉnh cao quyền lực nhưng trong quan hệ và ứng xử, Hồ Chí Minh không bao giờ dựa vào quyền lực, dùng quyền lực để hưởng đặc quyền mà luôn chấp hành quy định, pháp luật của một công dân. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I (6/1/1946), tại Hà Nội, 118 Chủ tịch các Ủy ban nhân dân và tất cả các giới đại biểu làng xã công bố một bản kiến nghị: “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đáp lại tình cảm tin yêu đó, Người viết thư cảm tạ và đề nghị đồng bào để mình được thực hiện quyền công dân: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nên không thể vượt qua thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ra ứng cử ở thành phố Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa. Tôi  xin thành thực cảm tạ đồng bào nam, phụ, lão ấu khu vực ngoại thành Hà Nội”.
Cuộc sống đời thường của Người trong kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như khi đã là một nguyên thủ quốc gia cũng vẫn giản dị, tiết kiệm như là lẽ sống của Người. Khi Thủ đô Hà Nội được giải phóng, Người chuyển về sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, nhưng đã khước từ ngôi nhà sang trọng của Toàn quyền Ðông Dương trước đây mà chỉ ở ngôi nhà của người thợ điện. Trong mỗi chuyến đi thăm và làm việc tại các địa phương, nhất là các chuyến đi trong ngày, Người thường mang theo cơm nắm với muối vừng, vì không muốn địa phương phải chăm lo cho mình… Vì thế, đến với vị lãnh tụ luôn sống cuộc đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đến với khung cảnh thiên nhiên trong lành của Phủ Chủ tịch, từ các đồng chí lãnh đạo cao cấp đến những người dân lao động bình thường, từ chính khách đến em nhỏ mồ côi đều cảm thấy tự tin và ấm lòng. Trước một Hồ Chí Minh hiền hậu như một nhà hiền triết phương Đông, trong một khung cảnh thiên nhiên đầy hoa thơm và cá lội… phần tốt trong mỗi con người dường như được nhân lên, cái ác sẽ không còn chỗ để chung sống nữa.
Là một lãnh tụ xa lạ với quyền lực, Hồ Chí Minh coi việc mình làm Chủ tịch nước là do nhân dân ủy thác cho, là “người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận”, là “người đày tớ trung thành của đồng bào”. Đồng chí Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng từng viết: Hồ Chí Minh là kiểu người lãnh đạo hiếm thấy. Ngay từ những ngày đầu tiên Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Người đã thẳng thắn nói: “Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân”; đồng thời, “luôn luôn từ chối nắm quyền lực” và Hồ Chí Minh thường “nêu ra vai trò tập thể Bộ Chính trị, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng chính phủ. Người dứt khoát bác bỏ tham vọng quyền lực, chỉ muốn sẻ bớt cho người khác, nhưng làm việc hết sức mình với tinh thần trách nhiệm gương mẫu”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Hồ Chí Minh bắt đầu sự nghiệp cách mạng là bắt đầu giáo dục lý tưởng cách mạng và đạo đức cách mạng cho những người yêu nước, cho thanh niên, quần chúng nhân dân, chủ yếu là cho đảng viên và cán bộ. Suốt đời, Bác quan tâm việc đó. Hồ Chí Minh không chỉ là người giáo dục đạo đức cách mạng mà còn là hiện thân của đạo đức cách mạng, nêu gương cho toàn Đảng, toàn dân ta”.
Hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, trước khi đi xa về cỗi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh không hối hận điều gì, “chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Chúng ta học được từ tấm gương của Hồ Chí Minh - một vĩ nhân giản dị cho mình và cũng giản dị cho đời trong cốt cách đời thường. Việc riêng của Người cũng là việc chung của dân tộc, nên chuẩn bị cho chuyến đi xa vĩnh viễn của mình, Người căn dặn “sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân…. Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn….Trên mộ, nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi”. Sự nêu gương của Hồ Chí Minh, sự thống nhất giữa nói và làm của người đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Bao trùm lên tất cả ở Hồ Chí Minh là sự quên mình vì mọi người, chính là sự ham muốn duy nhất, ham muốn tột bậc của Người là làm sao mang lại thật nhiều hạnh phúc cho dân, cho nước. Cuộc sống hoàn toàn không chút bợn riêng tư, đã tạo nên ở Người một cái gì vô cùng trong sáng”.
Cuộc đời Hồ Chí Minh và đức độ của Người là hiện thân của sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc gắn liền với phẩm chất cao quý của người cộng sản trong thời đại mới, mà biểu hiện rực rỡ nhất là tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Hồ Chí Minh không chỉ yêu Tổ quốc và nhân dân mình, Người còn luôn mơ ước, phấn đấu cho một xã hội tốt đẹp, hoà bình và hạnh phúc cho tất cả những người cùng khổ. Là Người trân trọng truyền thống của dân tộc mình, song Hồ Chí Minh không bao giờ để cho chủ nghĩa dân tộc ràng buộc mình, hoặc trái lại biến dần thành chủ nghĩa dân tộc. Không chỉ dừng lại ở điều đó, dường như chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa chủng tộc, bài ngoại hay biệt lập đều xa lạ với Hồ Chí Minh, xa lạ với lý tưởng cao đẹp của Người: “Cho đến những ngày cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trung thành với những nguyên tắc cao cả của chủ nghĩa quốc tế vô sản, thể hiện mối liên hệ qua lại khăng khít và biện chứng giữa tính dân tộc và tính quốc tế”. Cuộc đời Hồ Chí Minh thực sự là một tấm gương đạo đức và nhân cách thanh cao của người chiến sĩ cách mạng, hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, luôn thống nhất giữa nói và làm, mà “gia đình của Người là Nhân dân, là Đảng và Tổ quốc. Bởi lẽ đó, tất thảy điều gì Hồ Chí Minh dạy và làm, thì mọi người đều ngưỡng mộ và làm theo không chút đắn đo”.
HỌC VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ NÊU GƯƠNG
Trong những năm qua, để phát huy hơn nữa vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, địa phương, đơn vị, toàn Đảng đã triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05) gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (Nghị quyết Trung ương 4), Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” (Nghị quyết 26), với Quy định 101-QÐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” (Quy định 101), Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” (Quy định 55) và Quy định số 08-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” (Quy định 08)… Có thể nói, việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, Quy định này là một giải pháp quan trọng trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phòng, chống và ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần rèn luyện nhân cách của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị các cấp nói chung, các đồng chí lãnh đạo cấp cao nói riêng, củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền.
Được xây dựng trên nguyên lý có xây, có chống và xây trước, chống sau, kết hợp giữa nói và làm mà điểm cốt lõi là cán bộ giữ chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu, theo tinh thần của các Chỉ thị, Nghị quyết và Quy định nêu trên, cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải gương mẫu đi đầu và nêu gương học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kết hợp sự gương mẫu đi đầu trong rèn luyện đạo đức cách mạng và nâng cao bản lĩnh chính trị của mỗi người, nhất quán giữa nói và làm, nói trước và gương mẫu làm trước trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường tại mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị hay nơi địa bàn cư trú. Việc nêu gương, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các ngành, các cấp, lãnh đạo cấp cao phải trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, liên tục theo 8 nội dung “phải gương mẫu đi đầu thực hiện” và 8 nội dung “phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống” của Quy định 08.
Cụ thể, đối với tự mình, cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu; phải nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú; phải là tấm gương tự phê bình và phê bình, gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú để cấp dưới noi theo; phải kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân; kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, bè phái và các biểu hiện cơ hội, thực dụng, mưu cầu lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”. Quá trình thực hiện nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên dựa trên cơ sở các nội dung quy định, nội dung đăng ký thực hiện gắn với học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên thực hiện nêu gương bắt đầu từ việc xây dựng nội dung, kế hoạch và cam kết thực hiện; thể hiện ở tác phong, tinh thần, thái độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thể hiện trong quan hệ với cán bộ, đảng viên ở cơ quan, địa phương, đơn vị, với nhân dân nơi địa bàn cư trú.
 Đối với người phải được thể hiện bằng hành động nói đi đôi với làm trong mọi mặt công tác và quan hệ với nhân dân. Trách nhiệm gương mẫu, tự giác đi đầu, nói trước, làm trước của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo quản lý và người đứng đầu phải thể hiện toàn diện trên các mặt tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong; tự phê bình và phê bình, thực hành dân chủ để xây dựng địa phương, cơ quan, đơn vị đoàn kết, thống nhất. Trong đó, phải thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng sự của mình, tạo điều kiện để mỗi người phát huy sáng kiến, sáng tạo trong công tác, góp phần vào thành tích chung của địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, cán bộ, đảng viên phải nêu gương tự phê bình và phê bình một cách rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật, không nể nang, không thêm bớt trên tinh thần trân trọng nhân cách con người, trân trọng đồng chí, đồng sự. Theo lời Người thì, trong công việc cũng như khi tiến hành tự phê bình và phê bình, mỗi cán bộ, đảng viên “phải có tính đồng chí thương yêu lẫn nhau” và chú trọng “tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh” để thuyết phục, cảm hóa, tránh dùng lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Điều quan trọng của sự nêu gương chính là tự mình soi, tự mình sửa và luôn “phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật mà ráo riết phê bình đồng chí mình”, giúp đồng chí mình sửa chữa khuyết điểm và ngày càng tiến bộ.
“Làm việc phải”chính là nội dung nêu gương thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, tận tụy, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của cán bộ, đảng viên. Trong đó, làm việc phải có nguyên tắc, kỷ cương, có lý, có tình, không lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác, nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm, kiên quyết chống thói nói một đằng làm một nẻo, hứa mà không làm; thường xuyên, nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, v.v.. để nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc được giao. Qua đó, góp phần phòng, chống, đấu tranh để quét sạch chủ nghĩa cá nhân, chống các hiện tượng chạy quy hoạch, chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy thi đua, các biểu hiện lộng quyền, lạm quyền, lợi dụng quyền lực để mưu lợi ích cá nhân và nhóm lợi ích nhằm “vinh thân phì gia” …
Việc triển khai thực hiện sự gương mẫu, nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị các cấp nói chung, các đồng chí lãnh đạo cấp cao nói riêng đã tạo sự chuyến biến quan trọng từ nhận thức đến hành động trong rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và từng bước đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nâng cao chất lượng công tác cán bộ; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của các cấp chính quyền…
Tuy nhiên, kết quả đạt được trong việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết chuyên đề về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, về cán bộ và các Quy định nêu trên nói chung, nhất là sự gương mẫu, nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu nói riêng có nơi, có lúc vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Tính tự giác gương mẫu đi đầu, vai trò nêu gương, thống nhất giữa nói và làm của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức có quyền chưa thật rõ nét, còn hình thức, chung chung, chưa tạo sự tâm phục, khẩu phục trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Thực tế là, đã có không ít cán bộ, đảng viên trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn chỉ dừng lại ở việc hô hào, khẩu hiệu, hình thức, nói suông trong chương trình, kế hoạch mà không thực hành trong thực tiễn. Ở họ, chỉ là “nói một đàng, làm một nẻo”, “diễn gương”, “là cơ hội chính trị” chứ không phải “nêu gương”, không “tiền phong gương mẫu”; thậm chí không ít người đã suy thoái ở các mức độ khác nhau và vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật. Thông qua việc nghiêm túc tiến hành kiểm điểm, kiểm tra, giám sát, điều tra, xét hỏi được thực hiện rộng rãi, những tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước đã bị xử lý kỷ luật, không có ngoại lệ, không có vùng cấm (dù đang đương chức hay đã nghỉ hưu) đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa xác định rõ trách nhiệm và chưa thật sự gương mẫu trong rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong với những biểu hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, có cán bộ còn trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đặc biệt có cán bộ lãnh đạo cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, đã vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”. Thực tế, cấp có thẩm quyền đã kỷ luật một tổ chức đảng, 13 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, đã có trên 70 cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật Đảng và xử lý hình sự.
Trước tình hình trên, trong nhóm các giải pháp quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ngang tầm nhiệm vụ, Đảng đặc biệt chú trọng vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, nhất là các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Cụ thể là, để tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” và Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương cần phải:
Một là, thấu triệt sâu sắc hơn những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về nêu gương và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cách mạng. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục tinh thần nêu gương thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII để mỗi người tự soi, tự sửa, tự rèn luyện theo 3 chuẩn mực đạo đức cách mạng và nêu gương về đạo đức cách mạng: “Tự mình phải”, “Đối với người phải”, “làm việc phải”; coi đó là việc làm thường xuyên, liên tục, nền nếp, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên.
Hai là, nâng cao trách nhiệm và phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng theo nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu gương đạo đức cách mạng trong công việc lẫn đời tư, tại nơi công tác cũng như địa bàn cư trú. Đồng thời, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương… Thông qua đó, nâng cao tinh thần, ý thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong mỗi cán bộ, đảng viên và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, miễn nhiệm, thay thế, buộc từ chức và đưa ra khỏi Đảng đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái, bất liêm, bất chính, tham ô, tham nhũng,v.v.., đã mất uy tín trong Đảng và trong nhân dân.
Ba là, tiếp tục phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và sinh hoạt thường kỳ của chi bộ; trong đó, xây dựng những chuyên đề cụ thể về nêu gương thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nêu gương về tự phê bình và phê bình; nêu gương trong đảm nhận việc khó… với những nội dung thiết thực, để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể. Thông qua đó, xây dựng tác phong, lề lối làm việc tận tụy phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền phù hợp với đặc điểm, tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên.
Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để “sửa chữa cán bộ và tổ chức ta” trong giám sát các cơ quan, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên. Tạo cơ chế pháp lý để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền các cấp thực hiện Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, các quy định về nêu gương trong rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và ngăn chặn các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân: cậy quyền, ỷ thế, lạm dùng quyền trong thi hành công vụ, chấp hành chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại cơ quan công tác và địa bàn cư trú mà không sợ bị đe dọa, trả thù, trù úm... Thông qua đó, làm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là nâng cao tinh thần trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng trở thành việc làm thiết thực hằng ngày, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Năm là, chú trọng và đổi mới công tác tuyên truyền, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục về thực hiện công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, lựa chọn và xây dựng các gương cán bộ, đảng viên điển hình trong rèn luyện đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân với tinh thần phụng sự và liêm chính. Nhân rộng những gương điển hình của cá nhân, tập thể, cấp ủy đó để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng, để những bông hoa đẹp sẽ góp phần làm cho vườn hoa đẹp, rừng hoa đẹp ngày một ngát hương hơn./.
TS. Văn Thị Thanh Mai
Ban Tuyên giáo Trung ương


THỦ ĐOẠN CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC VIỆT NAM


Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, trọng nhân nghĩa, khoan dung, đùm bọc yêu thương nhau đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mỗi người con đất Việt, trở thành lẽ sống, chất kết dính gắn bó các thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta bất luận trong hoàn cảnh nào, đã kết thành sức mạnh vô địch, đưa dân tộc ta vượt lên mọi khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích vẻ vang.
Chiến lược phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là âm mưu cơ bản, thường trực, nhất quán và xuyên suốt của các thế lực thù địch. Trong mỗi giai đoạn khác nhau thì chúng có nội dung, thủ đoạn, hình thức và biện pháp chống phá khác nhau.
Thứ nhất, lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại, sự khác biệt về văn hóa, phong tục, xuyên tạc, gây mâu thuẫn giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc thiểu số với dân tộc kinh. Những vấn đề do lịch sử để lại, sự khác biệt về văn hóa, phong tục, tập quán là những vấn đề các thế lực thù địch thường xuyên tập trung và tìm mọi cách để lợi dụng, xuyên tạc, gây mâu thuẫn, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặc biệt chiến lược 3 tây của chúng: Trên địa bàn Tây Bắc, các thế lực thù địch cố gắng khai thác các vấn đề lịch sử, sự khác biệt tâm lý, văn hóa của đồng bào các dân tộc nơi đây để gây mâu thuẫn, kích động đồng bào chống chính quyền. Chúng ráo riết đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, tuyên truyền thành lập “Vương quốc Mông” vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Bắc. Tây Nguyên luôn là địa bàn chiến lược mà các thế lực thù địch không ngừng nhòm ngó, thực hiện “kế hoạch hậu chiến” và âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta. Lực lượng FULRO đang ra sức chống đối, ngày càng được sự tiếp tay, hậu thuẫn của các thế lực bên ngoài, kể cả một số phần tử cực đoan trong số người Việt ở hải ngoại. Trên địa bàn Tây Nam Bộ, các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại, lợi dụng mối quan hệ thân thuộc giữa đồng bào dân tộc Khmer ở Tây Nam Bộ và đồng bào dân tộc Khmer ở Campuchia để kích động, gây mâu thuẫn, chống phá cách mạng.
Thứ hailợi dụng vấn đề nhân quyền, dân chủ, truyền đạo trái phép, kích động tư tưởng cực đoan, li khai trong đồng bào dân tộc thiểu số. Vấn đề nhân quyền, dân chủ, tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong đồng bào dân tộc thiểu số là một vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch thường tập trung khai thác, lợi dụng, kích thích tư tưởng cực đoan, ly khai trong đồng bào các dân tộc thiểu số. Thủ đoạn hoạt động của chúng rất tinh vi, xảo quyệt như thông qua hàng trăm đoàn trong các tổ chức phi chính phủ, các đoàn thăm quan, du lịch… để truyền đạo trái phép, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành, nhen nhóm tổ chức phản động, kích động ly khai, giúp người Mông “Tìm lại Tổ quốc” của mình. Đồng thời, chúng chủ trương thực hiện “Tôn giáo hóa các dân tộc thiểu số”, kích động đồng bào chống đối, ly khai tạo ra nhiều “điểm nóng” về chính trị - xã hội trên địa bàn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, những nơi còn thiếu thốn, khó khăn.
Thứ ba, ủng hộ, giúp đỡ vật chất, tinh thần cho các đối tượng quá khích, cực đoan cho đồng bào các dân tộc thiểu số hoạt động chống đối. Để tăng cường hiệu quả chống đối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, các thế lực thù địch thường xuyên quan tâm đến việc thực hiện ủng hộ, hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất và tinh thần cho các đối tượng quá khích, các phần tử cực đoan trong đồng bào dân tộc thiểu số của nước ta. Ở Tây Nguyên, chúng hỗ trợ, ủng hộ các hoạt động ly khai của các tổ chức người Thượng lưu vong để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ trên địa bàn. Chúng thành lập các tổ chức phản động, tạo dựng địa bàn làm căn cứ để lôi kéo đồng bào chống đối. Những cuộc bạo động diễn ra trong các năm 2001, 2004 ở Tây Nguyên đã cho thấy tính chất quyết liệt, rất phức tạp và đặc biệt nguy hiểm chống phá của các thế lực thù địch đối với địa bàn núi rừng này với âm mưu tiến tới thành lập “Nhà nước Đềga tự trị”
Thứ tưtriệt đề sử dụng các phương tiện truyền thông xuyên tạc, đả kích chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Các thế lực thù địch triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, báo chí, mạng internet để tuyên truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong báo cáo gửi Bộ Ngoại giao Mỹ, John Aloisi (cựu Phó Đại sứ Mỹ tại Việt Nam) cho rằng: “Thành công lớn nhất là đã thực hiện việc đưa vào Việt Nam mạng Internet. Đó là phương tiện hữu hiệu cho chiến dịch truyền bá các tư tưởng phương Tây nằm trong chiến lược nhằm thay đổi chính thể ở quốc gia này”. Hiện nay, có khoảng trên 400 trang mạng, 380 tờ báo, tạp chí, 60 đài phát thanh tiếng Việt ngày đêm chĩa vào chống phá cách mạng Việt Nam. Các đài, báo phương Tây như Đài BBC, VOA, RFA, RFI… với chiêu bài “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”,  đẩy mạnh về móc nối, trả lời phóng vấn, phản biện xã hội để phát tán các quan điểm cá nhân, xuyên tạc, vu cáo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta làm lung lạc quần chúng nhân dân.
Những thủ đoạn trên đây là chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt, nguy hiểm ngày càng tăng lên. Vì vậy, chúng ta luôn phải tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích để vạch trần âm mưu, thủ đoạn và có biện pháp phòng chống hiệu quả. Tuyệt đối không mơ hồ, mất cảnh giác trước thủ đoạn và mắc mưu của các thế lực thù địch.
HUỲNH GIA


NHẬN DIỆN CÁC BIỂU HIỆN DÂN TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY



Chủ nghĩa dân túy là trào lưu tư tưởng, đường lối chính trị mang tính mị dân, tác động vào tâm lý của đám đông để tổ chức kêu gọi, lôi kéo, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận và quần chúng nhân dân phục vụ mục đích chính trị của cá nhân và tổ chức chính trị. Đặc điểm của chủ nghĩa dân túy là một xu hướng chính trị lấy danh nghĩa “nhân dân”   và hành động vì lợi ích của “nhân dân” để thực hiện mưu đồ chính trị của cá nhân hoặc một nhóm người. Những người dân túy thường dùng những chính sách mang lại lợi ích trong ngắn hạn, không bền vững về lâu dài; bản chất của chủ nghĩa dân túy là trào lưu tư tưởng phản động đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin.
Nhìn vào xã hội Việt Nam hiện nay, bước đầu có thể nhận diện các biểu hiện dân túy dưới mấy dạng cơ bản sau đây:
Những người dân túy hay đưa ra những phát ngôn gây sốc, những hành vi và hình ảnh mị dân để lấy lòng dân chúng
Lợi dụng các diễn đàn, hội nghị, hi thảo hoặc các sự kiện để đưa ra các phát ngôn trái với nhận thức thông thường, ngược với đường li, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thiếu tính khả thi, vượt quá hoặc không đúng thẩm quyền của cá nhân. Ngay sau đó, những phát ngôn này được sự tung hô của những tờ báo non nớt về chính trị, của một vài “thủ lĩnh” trên mạng xã hội, thu hút được quan tâm của quần chúng vì “lạ khẩu vị”.
Mượn danh vì dân chủ, đòi thực hiện thể chế chính trị “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập”
Để thực hiện những mưu đồ chính trị đen tối, nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị vẫn mượn danh nghĩa là đấu tranh vì dân chủ nhưng lại có những lời nói, hành động chống lại nền dân chủ của nhân dân thông qua các bài nói, bài viết của những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị trên các trang mạng xã hội tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước, xuyên tạc sự nghiệp đổi mới, công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng. Lợi dụng một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phụ họa theo tung hô, ủng hộ những quan điểm sai trái trên các trang mạng xã hội.
Những người dân túy thường dựng chuyện trong Đảng có phe này, phái kia (phái bảo thủ phái cấp tiến; phái kinh tế, phái chính trị), đổỉ lập Đảng với Nhà nước; đòi để Nhân dân tự chọn món ăn tinh thần, không cần định hướng, quản lý trong lĩnh vực văn hóa, tư tưỏng; đòi dân chủ một cách tự do, vô tổ chức, vô hạn độ, dân chủ không gắn với kỷ luật, kỷ cương.
Xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng của Nhân dân ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đòi từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Biểu hiện kiểu này xuất hiện ỏ những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị hoặc những cán bộ, đảng viên đã phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thiếu tin tưỏng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuyên tạc, phủ nhận lịch sử đấu tranh cách mạng của Nhân dân ta. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đòi từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Lấy danh nghĩa bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia dân tộc để tuyên truyền, kích động nhân dân đi ngược lại đường lối đối ngoại của Đảng
Đây cũng là một biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay. Nhân sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoa 981 trong vùng biển Việt Nam, đã xuất hiện những người lấy danh nghĩa đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, biên giới quốc gia, chống ngoại xâm... nhưng thực chất là xúi giục, kích động ngưòi dân chống Đảng, chính quyền Nhà nước, hạ thấp uy tín lực lượng vũ trang...lợi dụng danh nghĩa đại diện cho lợi ích của Nhân dân để tổ chức tụ họp đông người, khiếu kiện, gây ra những hành động quá khích, vu khống chính quyền, kích động các hành động vi phạm pháp luật nhằm gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại chính sách phát triển kinh tế và môi trường đầu tư.
Các biểu hiện dân túy ở Việt Nam hiện nay, tuy mới chỉ thể hiện dưới dạng phát ngôn, hành động mang tính mị dân của một số cá nhân, chưa phát triển thành một hệ thống lý luận. Tuy nhiên, các biểu hiện dân túy nếu không sớm nhận diện và không có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, thì sẽ giống như vi rút độc hại, gây ô nhiễm đòi sống chính trị đất nước, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đốì vối sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, vào chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.


Nhận diện âm mưu, thủ đoạn bóp méo lịch sử của các thế lực thù địch



Để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch luôn sử dụng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, trong đó chúng đặc biệt coi trọng thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ và bóp méo lịch sử. Mục đích của chúng nhằm tạo ra sự nghi ngờ, gây hoang mang trong quần chúng, làm cho quần chúng mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Do vậy, việc nhận diện đúng đắn và vạch trần âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của các thế lực thù địch góp phần đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay.
1. Lợi dụng vào những sai lầm của Đảng Cộng sản trong quá trình vận dụng và phát triển học thuyết Mác -Lênin để xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử.
Trên thực tế, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, Đảng Cộng sản luôn luôn vận dụng và phát triển phong phú chủ nghĩa Mác -Lênin vào điều kiện cụ thể nước mình. Trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân được kết tinh trong đường lối lãnh đạo chính trị của Đảng. Để biến đường lối thành hiện thực phải thông qua quá trình vận động cách mạng và tổ chức thực hiện, tổng kết thực tiễn, quá trình đó khó có thể tránh khỏi sai lầm khuyết điểm ở một khâu nào đó và các thế lực thù địch sẽ lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm đó để tiến công Đảng Cộng sản theo thể thức tuyệt đối hoá sai lầm khuyết điểm, thổi phồng sai lầm khuyết điểm, rằng sai lầm khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, một tổ chức đảng là sai lầm khuyết điểm của toàn Đảng; sai lầm ở một khâu nào đó trong quá trình tổ chức thực hiện đường lối, tổng kết thực tiễn hoặc sai lầm trong công tác cán bộ của Đảng thành sai lầm của toàn bộ đường lối của Đảng, thậm chí có kẻ còn lớn tiếng cho rằng đó là sai lầm của cả học thuyết, sai lầm thuộc về bản chất của chủ nghĩa xã hội và của Đảng Cộng sản. Đồng thời, chúng còn lợi dụng lỗ hổng trong việc sửa chữa khuyết điểm, sai lầm để phủ định sạch trơn quá khứ, phủ định những thành tựu vĩ đại của lịch sử nhằm gây hoang mang, gieo rắc hoài nghi trong nhân dân, lôi kéo cán bộ, đảng viên bất mãn thoái hoá, biến chất bổ sung vào đội ngũ phản động hòng chống Đảng, chống nhân dân.
2. Chúng lợi dụng đấu tranh tự phê bình, phê bình trong nội bộ Đảng, đấu tranh phòng chống tham nhũng và xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, suy thoái về đạo đức, lối sống hoặc thay đổi cán bộ lãnh đạo để gây mâu thuẫn, chia rẽ bè phái trong Đảng, chia rẽ giữa Đảng với nhân dân.
Thủ đoạn này của các thế lực thù địch là vô cùng nguy hiểm hòng tạo ra sự rạn nứt từ bên trong, làm suy yếu từ nội bộ Đảng để chúng dễ bề chống phá. Với kỷ luật tự giác nghiêm minh, Đảng ta luôn khẳng định phê bình và tự phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Việc đấu tranh phòng chống tham nhũng làm trong sạch đội ngũ cán bộ là điều kiện sống còn của chế độ ta. Do vậy, việc phê bình và xử lý kỷ luật cán bộ đảng viên vi phạm chính là để duy trì sức mạnh đoàn kết trong Đảng. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời là tình cảm cách mạng trong sáng, vượt lên trên tình cảm cá nhân, vì lợi ích của Đảng. Vấn đề đặt ra là phải đập tan mưu đồ của các thế lực thù địch lợi dụng đấu tranh phê bình, phòng chống tham nhũng hòng chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ Đảng, Đảng với Nhà nước, Đảng viên với nhân dân…
3. Lợi dụng sự hiểu biết chưa đầy đủ về lịch sử, xem nhẹ truyền thống và chạy đua theo lối sống thực dụng của một bộ phận nhân dân trong đó chủ yếu là thanh niên để xuyên tạc, bóp méo lịch sử.
Trong bối cảnh quốc tế mới, với sự bùng nổ thông tin và sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, các thế lực thù địch với âm mưu "diễn biến hoà bình", không bỏ lỡ cơ hội ra sức tuyên truyền tác động vào thế hệ trẻ tư tưởng sống gấp, chạy theo đồng tiền, xem thường quá khứ… Sự nguy hiểm của âm mưu thủ đoạn này là ở chỗ chúng gieo rắc tư tưởng hoài nghi, phủ định quá khứ; lịch sử là cái để phê phán, còn hiện tại chỉ đơn thuần là lối sống hưởng thụ, thực dụng theo cơ chế thị trường tự do v.v…
Để góp phần làm thất bại âm mưu thủ đoạn bóp méo lịch sử của các thế lực thù địch yêu cầu đặt ra cho mỗi cán bộ Đảng viên phải tăng cường công tác giáo dục giáo dục tinh thần cảnh giác cho Đảng viên và nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo lịch sử; không ngừng đổi mới phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh; tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình giữ nghiêm kỷ luật Đảng. Đồng thời giáo dục ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng cho thanh niên, tạo môi trường thuận lợi để thế hệ trẻ góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.