Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2021
Nhận thức đúng về thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự
Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền được thông tin của người dân
Cuộc chiến chống “giặc nội xâm” đang mang lại kết quả tốt
Không để kẻ xấu lợi dụng "bất tuân dân sự" để kích động, chống phá
Không phủ nhận hiệu quả tích cực từ phản biện xã hội
Tự do mạng xã hội: Tỉnh táo trong tiếp nhận thông tin
Lật tẩy những chiêu trò chống phá Đảng của các thế lực thù địch
Tự do tôn giáo ở Việt Nam: Sự thật không thể xuyên tạc
Trọn niềm tin yêu và tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam!
Trong suốt 91 năm qua (1930-2021), sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam.
Mai Năm Mới (ST)
Khát vọng phải gắn liền với con đường đúng
Đừng mãi dựa hơi những kẻ mang danh “tù nhân lương tâm”
TỔ CHỨC “TRIỀU ĐẠI VIỆT” ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO DANH SÁCH TỔ CHỨC KHỦNG BỐ
Trong thông báo về tổ chức khủng bố "Triều đại Việt", Bộ Công an
cho biết tổ chức này đã gửi hàng chục ngàn USD, hàng trăm triệu đồng cho số đối
tượng trong nước mua sắm vũ khí, chế tạo bom, mìn, may cờ, in truyền đơn, khẩu
hiệu phản động. Căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an thông báo về
Tổ chức đã và đang tiến hành hoạt động khủng bố có tên gọi "Triều đại Việt". Theo đó, tổ chức khủng bố "Triều đại Việt" do các đối
tượng nguyên là thành viên Tổ chức khủng bố "Chính phủ quốc gia Việt Nam
lâm thời" thành lập tháng 1-2018. Trụ sở đặt tại Canada; trang web và các
kênh truyền thông: "Triều đại
Việt", "Free Bibet", "Hoàng Kỳ", "Giải độc
chính trị", "Việt Nam today", "Việt tự do",
"Radio tiếng nói quốc dân", "Phung Nguyen", "Scott
Huynh", "Jeffrey Thai", "Tin tức hàng ngày TV24".
Các đối tượng cầm đầu, chỉ huy gồm: Ngô Văn
Hoàng Hùng, sinh 1952 tại Tiền Giang, quốc tịch Canada, tự xưng là "Tổng
tư lệnh Triều đại Việt"; Trần Thanh Đình, sinh 1957 tại Nam Định, quốc
tịch Đức, tự xưng là "Phó Thủ tướng"; Ngô Mạnh Cương, sinh ngày 1961
tại TP HCM, quốc tịch Pháp, tự xưng là "Tổng cục trưởng Tổng cục đặc
nhiệm"; Huỳnh Thanh Hoàng, sinh 1976, quốc tịch Mỹ, "phát ngôn viên
Triều đại Việt".
Bộ Công an cho biết phương thức hoạt động của
tổ chức khủng bố "Triều đại Việt" bao bồm: Bạo động vũ trang, với
phương châm "Đốt sạch", "Giết sạch", "Phá sạch",
"Cướp sạch"; hỗ trợ tiền, chỉ đạo số cơ sở trong nước tiến hành các
hoạt động khủng bố, phá hoại; kích động người dân xuống đường biểu tình, bạo
loạn cướp chính quyền. Tổ chức khủng bố "Triều đại Việt" đã gửi hàng
chục ngàn USD, hàng trăm triệu đồng cho số đối tượng trong nước mua sắm vũ khí,
chế tạo bom, mìn, may cờ, in truyền đơn, khẩu hiệu phản động. Bộ Công an cũng
nêu rõ "Triều đại Việt" là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành
vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận
tài trợ của "Triều đại Việt"; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện
do "Triều đại Việt" tổ chức; hoạt động theo chỉ đạo của "Triều
đại Việt"… là phạm tội "Khủng bố", "Tài trợ khủng bố"
và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Qua
nghiên cứu nội dung trên, mỗi cán bộ, Đảng viện cần nhận thức rõ âm mưu thâm
độc của tổ chức “Triều đại Việt” chủ động làm tốt công tác tuyên truyền vận
động gia đình, người thân và Nhân dân nơi cư trú, kiên quyết đấu tranh bảo vệ
Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.
NHỮNG BƯỚC TIẾN TRONG VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM
Ngày 10/12/1948, tại Thủ đô Pari, nước Pháp, Đại hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ) đã chính thức thông qua Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền. Hơn 70 năm qua, “Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền” (Universal Declaration of Human Rights) có ý nghĩa nhân văn cao cả vẫn còn nguyên giá trị, đã và đang là mục tiêu phấn đấu của toàn thể nhân loại. Hòa vào dòng chung ấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước; con người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội; thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp CNH và HĐH đất nước.
Bộ Y tế đề nghị khẩn với người đang cách ly y tế tại nhà
Bộ Y tế đề nghị các hộ gia đình đang có người cách ly y tế tại nhà thực hiện tốt các điểm sau đây:
Một số quan điểm, chính sách về dân tộc, tôn giáo ở Việt nam hiện nay
1)Tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc Việt
Nam
Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ
phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hoá”[1].
Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi lên là giá trị đạo đức
chính là di sản mà chúng tôi coi trọng kế thừa, phát huy để phục vụ cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Phải
tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân các dân tộc nhằm phát huy nhân tố tinh thần trong
sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc.
Điều 24 Hiến pháp (2013) Việt Nam quy định:
1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước
pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Không ai được xâm phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
-> Mọi người có quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo nhưng phải tuân thủ pháp luật, không đi ngược lại lợi
ích của Tổ quốc. Mọi người được quyền thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo nhưng không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Tổ quốc.
-> Nhà nước bằng pháp luật bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các tôn
giáo về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
->
Các hành vi bị nghiêm cấm[2]:
Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng,
tôn giáo; Ép buộc, mua chuộc hoặc cản
trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo nhằm (Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia,
trật tự, an toàn xã hội, môi trường; Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể,
sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; Cản
trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn
giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng,
tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau); Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo
để trục lợi.
Như
vậy, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp
luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng,
Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị
pháp luật xử lý.
2)
Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết các dân tộc và
các tôn giáo
“Đồng
bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc’[3].
Vì
sao?
Một
là, đồng bào dân tộc theo tôn giáo trước hết là người Việt nam, sau đó mới
là tín đồ tôn giáo, là người Việt
Hai
là, trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức
sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi
ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền
và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì
tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản,
tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng
làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.
3) Đoàn kết đồng bào dân tộc theo các tôn giáo khác
nhau; đoàn kết đồng bào dân tộc theo tôn
giáo và đồng bào dân tộc không theo tôn giáo.
Cơ
sở của đoàn kết là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc
lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần
giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân
tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi
người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[4].
Kiên
quyết đấu tranh chống những hành động gây chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn
kết các dân tộc, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc.
->
Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nước Việt
->
Chính sách còn chỉ rõ trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề dân
tộc, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện
pháp xử lý đúng đắn.
-
Nội dung cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo là công tác vận động quần chúng
+
Việt
Cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo là
tuyên truyền, giáo dục
Mục đích để đồng
bào nhận thức đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước và mục
tiêu của cách mạng Việt Nam; tin tưởng và thực hiện theo đúng đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
4)
Công tác dân tộc, tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
Về
trách nhiệm của Đảng và Nhà nước:
-> Đảng luôn có chủ trương,
chính sách đúng đắn về dân tộc, tôn giáo; Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính
sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện. Trong
đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối
với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó
khăn.
->
Nhà nước luôn có những giải pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của đồng bào các dân tộc. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt
động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi
hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc
gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn
hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản
tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi
làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân,
chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Về trách
nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội:
Các
tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Viêt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam,
Hội Nông dân Việt nam, Hội Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai
trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và
tôn giáo. Đó là lực lượng trực tiếp giáo dục đồng bào dân tộc, các tín đồ tôn
giáo chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Về trách
nhiệm của lực lượng vũ trang nhân dân:
Lực
lượng vũ trang nhân dân Việt
5)
Vấn đề theo đạo và truyền đạo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam
Đối
với tín đồ các tôn giáo: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn
giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm
tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ
hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước
Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Đối với chức sắc, chức việc, nhà tu hành: có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo,
giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác. Việc thành lập, hoạt động của
cơ sở đào tạo tôn giáo; phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử,
suy cử chức sắc, chức việc tuân theo luật pháp Việt Nam.
Tổ chức tôn
giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc mở lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn
giáo có trách nhiệm gửi văn bản đăng ký đến cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng,
tôn giáo cấp tỉnh nơi mở lớp.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập.
Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, tập 3, tr. 431.
[2] Điều 5 Luật tín ngưỡng, tôn giáo
[3] Đảng cộng sản Việt Nam:
Văn kiện Hội nghị lần thứ Bẩy BCHTUW khoá IX, Nxb CTQG, H. 2003, tr.48.
[4] Đảng cộng sản
Việt
Những thành tựu nổi bật thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Quyền dân tộc tự
quyết, quyền tự do tôn giáo, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, các tôn giáo
được bảo đảm
Mọi người dân Việt Nam được pháp luật bảo đảm để tự do theo
hoặc không theo tôn giáo; mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền tự do tôn
giáo của người dân đều bị trừng trị.
Phật giáo: Số lượng tín đồ Phật giáo được thống kê vào năm
1999 là 7,1 triệu người, hiện nay là 10 triệu người;
Các dân tộc có quyền lựa chọn con đường phát triển; ngày
nay đó chính là việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa đồng
bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo là nguyên tắc cơ bản trong quan điểm,
chính sách dân tộc, tôn giáo.
Hệ thống chính
trị vùng đồng bào dân tộc và miền núi, đồng bào tôn giáo được tăng cường và
củng cố, nhất là ở cấp cơ sở. Tình hình chính trị, trật tự xã hội ở vùng dân
tộc và miền núi, vùng tôn giáo cơ bản ổn định. Quốc phòng, an ninh được giữ
vững.
Đời sống vật
chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, miền núi và đồng bào tôn giáo được
cải thiện[1].
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được hình thành, phát
triển. Đã hình thành nhiều vùng chuyên canh các loại cây công nghiệp như: cà
phê, chè, hồ tiêu, điều với số lượng lớn. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt được
kết quả to lớn, hàng năm tỷ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu và miền núi giảm
đáng kể.
Trình độ dân trí của
đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo từng bước được nâng lên, đã hoàn
thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ; văn hoá truyền thống của
các dân tộc thiểu số, các tôn giáo được tôn trọng, bảo tồn và phát huy; Việc
khám chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ngày
càng được quan tâm.
[1] Tổng cục Thống Kê: Tổng điều tra dân số
1.4.2019. Tình trạng hộ không có nhà ở đang dần được
cải thiện trong hai thập kỷ qua, từ mức 6,7 hộ/10.000 hộ vào năm 1999 xuống còn
4,7 hộ/10.000 hộ năm 2009 và đến nay là 1,8 hộ/10.000 hộ.
Những cái nhìn thiển cận về bình đẳng giới ở Việt Nam
Hôm nay (8-3) là Ngày Quốc tế phụ nữ, cũng là ngày mà cả nhân loại tôn vinh phụ nữ và hành động vì mục tiêu bình đẳng giới. Trong lúc nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế và đại đa số người dân trong nước đánh giá cao sự tiến bộ vượt bậc về bình đẳng giới của chúng ta thì vẫn còn có những cái nhìn thiển cận, sai lệch về vấn đề này ở Việt Nam.
Một số đặc điểm nổi bật dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay
Dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam vừa có tính
phổ biến, vừa có tính đặc thù
Dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội; cũng có thể được hiểu là một hình thức tổ chức của xã hội, một
hình thức tổ chức nhà nước trong đó quyền lực thuộc về nhân dân. Ở đây, dân chủ được hiểu là quyền làm chủ của
nhân dân với tư cách là quyền con người.
Nhân quyền hay còn gọi là
quyền con người là các đặc quyền tự
nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được ghi nhận, bảo
đảm bằng pháp luật quốc gia và quốc tế.
Tính phổ biến và tính đặc thù của dân chủ,
nhân quyền ở Việt Nam:
+
Tính phổ biến của dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam
Dân
chủ, nhân quyền ở Việt Nam mang giá trị chung toàn nhân loại. Dân chủ, nhân
quyền thuộc về tất cả mọi người, không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, màu
da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh
tế, lãnh thổ, khu vực địa lý v.v... "Trên thực tế tính phổ biến là bản
chất của quyền con người”[1]
Tính phổ biến của quyền con người đã được luật
pháp quốc tế công nhận. Do vậy, nó đòi hỏi các nhà nước phải hoàn
thành nghĩa vụ tôn trọng ở khắp mọi nơi, tuân thủ và bảo vệ tất cả các quyền
cho mọi người, mọi công dân, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, Bộ luật
nhân quyền quốc tế và các văn kiện quốc
tế khác liên quan đến quyền con người.
+
Tính đặc thù của dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam
Ở
Việt Nam dân chủ, nhân quyền phụ thuộc trình độ phát triển kinh tế, chế độ
chính trị và truyền thống văn hóa Việt Nam. Tính đặc thù biểu hiện:
Thứ
nhất, dân chủ ở Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ của đa số
nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - đảng duy nhất cầm
quyền, vì vậy dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân,
đồng thời mang tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.
Thứ
hai, ở Việt Nam, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là công cụ, phương
tiện bảo đảm cho đa số nhân dân thực hiện quyền làm chủ, quyền con người của
mình.
Thứ
ba, dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam phản ánh truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử.
Do
đó, Việt Nam tôn trọng những giá trị chung về quyền con người mà nhân loại đã
thừa nhận, cam kết thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; đồng
thời phản đối việc áp đặt quan điểm dân chủ, nhân quyền của bất kỳ quốc gia nào
đối với Việt Nam.
Quyền con người gắn với độc lập và chủ quyền
quốc gia
+
Việt Nam khẳng định rằng, “quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và
thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia”[2]. Quyền con người gắn với
độc lập và chủ quyền quốc gia, bởi vì:
+
Việc giải phóng con người Việt Nam gắn liền với việc giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội của Việt Nam. Độc lập dân tộc và chủ quyền
quốc gia là điều kiện tiên quyết để thực hiện dân chủ và bảo đảm quyền con
người. Nếu không có độc lập dân tộc, không có chủ quyền quốc gia thì không thể
có dân chủ và nhân quyền. chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Quyền
con người của mỗi cá nhân gắn liền với quyền thiêng liêng của cả dân tộc.
+
Sự thống nhất giữa dân chủ, nhân quyền và chủ quyền
Khi
viết Bản Tuyên ngôn độc khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, Hồ
Chí Minh đã trích những lời bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (1776)
là: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền
của Cách mạng Pháp (1789): “Người ta sinh ra tự do bình đẳng về quyền lợi, và
phải luôn luôn dược tự do bình đẳng về quyền lợi”. Trên cơ sở khẳng định những
quyền đó là chân lý, Hồ Chí Minh đã suy luận: “Tất cả các dân tộc trên thế giới
đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền được sống, quyền sung sướng và
quyền tự do”.
Trong
các văn kiện pháp lý của Liện Hợp quốc về quyền con người đều khẳng định: bảo
đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia;
không quốc gia nào, kể cả Liên Hợp quốc có quyền can thiệp vào công việc thực
chất thuộc thẩm quyền quốc gia. Do vậy, nếu ai đó cho rằng, “nhân quyền cao hơn
chủ quyền” là không thực tế, là sự xuyên tạc.
Thực
tế lịch sử Việt Nam chứng tỏ rằng khi đất nước là thuộc địa, mất độc lập thì
nhân dân mất quyền dân chủ, mỗi người dân đều mất nhân quyền. Vì vậy, giành độc
lập dân tộc trở thành điều kiện tiên quyết để thực hiện dân chủ, nhân quyền.
Dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam được thể hiện
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Theo
Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2013) và các văn bản pháp luật của Việt Nam, quyền làm
chủ, quyền con người được thể hiện trên các lĩnh vực: các quyền về dân sự,
chính trị; các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa; các quyền của nhóm dề bị tổn
thương.
*
Các quyền về dân sự, chính trị, được thể hiện ở các quyền cơ bản sau:
+
Quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm
+
Quyền được bảo vệ khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện
+
Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị bắt, giam,
giữ
+
Quyền được xét xử công bằng
+
Quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử
+
Quyền được bảo vệ bí mật đời tư
+
Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở
+
Quyền tự do đi lại và cư trú
+
Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo
+
Quyền tham gia quản lý nhà nước (quyền bầu cử, ứng cử; tham gia thảo luận, kiến
nghị với các cơ quan nhà nước; tham gia trưng cầu dân ý; khiếu nại, tố cáo và
trách nhiệm tiếp công dân của nhà nước)
*
Các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa
+
Quyền về việc làm
+
Quyền tự do kinh doanh
+
Quyền sở hữu
+
Quyền có mức sống thích đáng
+
Quyền thành lập và gia nhập công đoàn
+
Quyền được hưởng an sinh xã hội
+
Quyền được chăm sóc sức khỏe
+
Quyền về giáo dục; quyền về văn hóa
* Các quyền của nhóm dễ bị tổn thương
+
Quyền của phụ nữ; quyền của trẻ em: quyền của người khuyết tật; quyền của người
cao tuổi
+
Quyền của các nhóm dễ bị tổn thương khác: Người nghèo; người dân tộc thiểu số;
người có công; người bị nhiễm chất độc; người nhiễm HIV/AIDS
