1)Tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc Việt
Nam
Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ
phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hoá”[1].
Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi lên là giá trị đạo đức
chính là di sản mà chúng tôi coi trọng kế thừa, phát huy để phục vụ cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Phải
tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân các dân tộc nhằm phát huy nhân tố tinh thần trong
sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc.
Điều 24 Hiến pháp (2013) Việt Nam quy định:
1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước
pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Không ai được xâm phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
-> Mọi người có quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo nhưng phải tuân thủ pháp luật, không đi ngược lại lợi
ích của Tổ quốc. Mọi người được quyền thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo nhưng không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Tổ quốc.
-> Nhà nước bằng pháp luật bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các tôn
giáo về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
->
Các hành vi bị nghiêm cấm[2]:
Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng,
tôn giáo; Ép buộc, mua chuộc hoặc cản
trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo nhằm (Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia,
trật tự, an toàn xã hội, môi trường; Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể,
sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; Cản
trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn
giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng,
tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau); Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo
để trục lợi.
Như
vậy, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp
luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng,
Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị
pháp luật xử lý.
2)
Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết các dân tộc và
các tôn giáo
“Đồng
bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc’[3].
Vì
sao?
Một
là, đồng bào dân tộc theo tôn giáo trước hết là người Việt nam, sau đó mới
là tín đồ tôn giáo, là người Việt
Hai
là, trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức
sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi
ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền
và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì
tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản,
tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng
làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.
3) Đoàn kết đồng bào dân tộc theo các tôn giáo khác
nhau; đoàn kết đồng bào dân tộc theo tôn
giáo và đồng bào dân tộc không theo tôn giáo.
Cơ
sở của đoàn kết là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc
lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần
giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân
tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi
người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[4].
Kiên
quyết đấu tranh chống những hành động gây chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn
kết các dân tộc, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc.
->
Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nước Việt
->
Chính sách còn chỉ rõ trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề dân
tộc, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện
pháp xử lý đúng đắn.
-
Nội dung cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo là công tác vận động quần chúng
+
Việt
Cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo là
tuyên truyền, giáo dục
Mục đích để đồng
bào nhận thức đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước và mục
tiêu của cách mạng Việt Nam; tin tưởng và thực hiện theo đúng đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
4)
Công tác dân tộc, tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
Về
trách nhiệm của Đảng và Nhà nước:
-> Đảng luôn có chủ trương,
chính sách đúng đắn về dân tộc, tôn giáo; Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính
sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện. Trong
đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối
với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó
khăn.
->
Nhà nước luôn có những giải pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của đồng bào các dân tộc. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt
động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi
hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc
gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn
hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản
tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi
làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân,
chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Về trách
nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội:
Các
tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Viêt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam,
Hội Nông dân Việt nam, Hội Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai
trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và
tôn giáo. Đó là lực lượng trực tiếp giáo dục đồng bào dân tộc, các tín đồ tôn
giáo chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Về trách
nhiệm của lực lượng vũ trang nhân dân:
Lực
lượng vũ trang nhân dân Việt
5)
Vấn đề theo đạo và truyền đạo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam
Đối
với tín đồ các tôn giáo: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn
giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm
tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ
hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước
Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Đối với chức sắc, chức việc, nhà tu hành: có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo,
giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác. Việc thành lập, hoạt động của
cơ sở đào tạo tôn giáo; phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử,
suy cử chức sắc, chức việc tuân theo luật pháp Việt Nam.
Tổ chức tôn
giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc mở lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn
giáo có trách nhiệm gửi văn bản đăng ký đến cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng,
tôn giáo cấp tỉnh nơi mở lớp.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập.
Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, tập 3, tr. 431.
[2] Điều 5 Luật tín ngưỡng, tôn giáo
[3] Đảng cộng sản Việt Nam:
Văn kiện Hội nghị lần thứ Bẩy BCHTUW khoá IX, Nxb CTQG, H. 2003, tr.48.
[4] Đảng cộng sản
Việt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét